Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Kinh sách, giáo lý Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn

Hoàng Công Tuấn - 12:09, 16/04/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết làm rõ đặc điểm kinh sách và giáo lý của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn - một tôn giáo nội sinh hình thành ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ thứ XX. Hệ thống kinh sách của đạo không nhiều, chủ yếu kế thừa từ Phật giáo (như kinh Cứu Khổ, kinh Phổ Môn) và các trước tác của Nguyễn Ngọc An (Triết Thánh đạo, Luật đạo), với nội dung thiên về khuyến tu, dạy đạo làm người, đề cao hiếu nghĩa và trách nhiệm xã hội. Về giáo lý, tôn giáo này mang tính dung hợp Tam giáo (Phật - Nho - Đạo) và tín ngưỡng dân gian, lấy nguyên lý “học Phật - tu Nhân” làm cốt lõi. Giáo lý nhấn mạnh đạo hiếu, đạo nghĩa và việc thực hành Tứ ân (Ân đất nước, Tổ tiên cha mẹ, Tam bảo và đồng bào nhân loại). Con đường tu hành chủ yếu là rèn luyện đạo đức, sống tốt đời đẹp đạo, gắn bó với gia đình và xã hội, phù hợp với đời sống Nam Bộ.

Từ khóa: Kinh sách; Giáo lý; Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn.

Lễ kỷ niệm 110 năm khai sáng tôn giáo Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn
Lễ kỷ niệm 110 năm khai sáng tôn giáo Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn

1. Đặt vấn đề

Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn là tôn giáo nội sinh ở đồng bằng sông Cửu Long, ra đời vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX - giai đoạn tại Nam Bộ có hàng loạt các tôn giáo được hình thành như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam... Một trong những đặc trưng của các tôn giáo này là sự kế thừa, dung hợp những tôn giáo, tín ngưỡng ra đời trước, được thể hiện rõ nhất qua kinh sách, giáo lý. Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn cũng như vậy. Kinh sách, giáo lý, thực hành tôn giáo của tôn giáo này có ảnh hưởng tinh thần Tam giáo ở Việt Nam, đặc biệt là Phật giáo, nhưng được ông Nguyễn Ngọc An chuyển hóa thành những bài kinh khuyến tu của bậc “hạ thừa”, là thực hành đạo làm người - Đó cũng là nội dung cốt lõi của kinh sách, giáo lý Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn.

Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn do các ông Đạo: Đạo Lập (Phạm Thái Chung), Cử Đa (Nguyễn Thành Đa), Ngọc Minh (Nguyễn Ngọc Minh), Ngọc Đắc (Trần Ngọc Được) và Ngọc An (Nguyễn Ngọc An) sáng lập. Nguyễn Ngọc An chính thức lập đạo ở đồng bằng sông Cửu Long vào năm 1921, lấy danh xưng Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, tín đồ gọi ông là Đức Giáo sư. Quá trình hình thành và phát triển của tôn giáo này đến nay đã gần một thế kỷ, chủ yếu ở các tỉnh, thành: Kiên Giang, Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp. Trên tinh thần “học Phật, tu nhân”, nội dung kinh sách và giáo lý của tôn giáo này khuyến dạy tín đồ đề cao tự rèn luyện bản thân, thực hành nhập thế của hạnh Bồ Tát theo lời giáo huấn của người Thầy khai đạo Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn.

2. Đặc điểm kinh sách Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn

Kinh sách của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn không nhiều, và chủ yếu được trích từ các bài kinh của Phật giáo, như: Kinh Cứu Khổ, kinh Phổ Môn, những bài pháp giảng dạy của ông Nguyễn Ngọc An trong Triết Thánh Đạo và những điều luật trong quyển Luật đạo. Một số đặc điểm chính trong hệ thống kinh sách Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn như sau:

Kinh Cứu khổ: Gồm các bài kệ và bài chú trong pháp môn Tịnh độ và Mật tông, nhưng xen vào đó là các bài niệm và nghi thức bái lạy của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, như các bài kệ: Khai chuông, khai kinh kệ, chú tịnh khẩu nghiệp chân ngôn, chú Tiêu tai kiết tường, chú vãng sanh, bài kệ Cứu khổ,...Tuy nhiên, những bài kệ, bài chú Phật giáo được sử dụng trong kinh Cứu khổ của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn đã ít nhiều thay đổi về câu chữ, cùng với đó là các bài Bổ khuyết do ông Nguyễn Ngọc An soạn trong kinh Cứu khổ. Các bài lạy, bài vái, nguyện hương, đặc biệt là bài Thập ngoạt hoài thai bằng thể loại văn vần với nội dung khuyến tu, truyền dạy tín đồ thể hiện một lòng hiếu nghĩa đền ơn đất nước, ơn Cửu huyền thất tổ,...

Kinh Phổ Môn: Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn sử dụng kinh Phổ Môn của Phật giáo như là nghi thức tụng niệm chính, bởi tôn giáo này tu theo hạnh cứu khổ, cứu nạn, bố thí, như: Hạnh Bồ Tát Quan Thế Âm, thực hiện sáu pháp Ba La Mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ - bố thí đứng đầu vì nó làm nên nền tảng cho cả sáu pháp Ba La Mật).

Trong hệ thống kinh sách của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, có hai quyển do ông Nguyễn Ngọc An truyền dạy và là xương sống cho tín đồ tu hành, hoạt động và tổ chức đạo.

Triết Thánh đạo: Được viết năm 1961, gồm những bài pháp do ông Nguyễn Ngọc An biên soạn dựa trên tinh thần Nho giáo, tín đồ căn cứ vào đó mà sống lẽ đạo. Nội dung chính trong Triết Thánh đạo là các bài thuyết răn dạy giữ bổn phận của người tu hành biết ơn trời đất, thủy tổ; Rèn luyện bản tính cá nhân; Hòa thuận gia đình, anh em, bầu bạn; Đúng đạo cha con, chồng vợ, vua tôi... xứng đáng là người có phẩm giá trong trời đất.

Luật đạo: Được ông Nguyễn Ngọc An soạn năm 1968. Bản gốc Luật đạo viết bằng bút mực, khổ lớn, đặt nơi trang trọng tại chính điện An Bình tự. Luật đạo ghi lại những điều giáo huấn, luật lệ, quy định trong tổ chức Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn mà mỗi cơ sở thờ tự, mỗi cá nhân tín đồ phải thực hành.

Ngoài những điều luật quy định trong tôn giáo, quyển Luật đạo còn có những bài thơ phú, luận đàm bằng văn vần, nghi thức và thủ tục nhập đạo. Cùng với đó là các bài kinh, bài thỉnh, bài khuyến thiện nhắc nhở bổn đạo và những bài đáp từ trong các nghi lễ liên quan đến vòng đời của tín đồ Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn.

Có thể cho rằng, quyển Luật đạo là một bộ luật tương đối hoàn chỉnh và công phu mà ông Nguyễn Ngọc An để lại cho hàng đệ tử làm căn cứ để học đạo, hành đạo theo đúng tinh thần hiếu nghĩa của tôn giáo này.

Kinh Cứu khổ, kinh Phổ Môn, Triết Thánh đạo và Luật đạo là hệ thống kinh sách căn bản của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn. Nội dung chủ yếu là nghi thức tụng niệm, cúng lễ, sự nhắc nhở, răn dạy đạo lý ở đời của ông Nguyễn Ngọc An truyền lại cho môn đồ. Tín đồ nương theo đó mà thực hành điều hiếu hạnh, rèn thân theo con đường nhân đạo, cũng chính là tinh thần cốt yếu của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn.

Ngoài hệ thống kinh sách trên, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn còn có bài Thập ngoạt hoài thai, được viết dưới hình thức văn vần, nói về công ơn cha mẹ suốt đời lo lắng cho con và bổn phận của con cháu phải sống sao cho trọn hiếu đạo với ông bà, cha mẹ. Tập Vãn Tà Lơn, Lan Thiên của ông Cử Đa là tư liệu quý của các bậc tiền bối để lại cho đạo.

3. Đặc điểm về giáo lý của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn

Tôn chỉ hành đạo của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn: “Đạo pháp - Hiếu nghĩa - Dân tộc An bình - Bác ái - Từ tâm”. Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn lấy đạo “Hiếu” làm đầu. Người theo đạo không phải ly gia cắt ái mà giữ tròn bổn phận với gia đình. Tôn giáo này không đặt ra một hệ thống giới luật khắt khe và không có sự phân biệt, kiêng kỵ khác nhau giữa chức việc và tín đồ.

Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn là sự tổng hợp qua tiếp thu có cải biến tư tưởng và một ít nội dung của một số tôn giáo khác, chủ yếu là Phật giáo - Nho giáo - Đạo giáo, cùng với những tín ngưỡng dân gian Nam Bộ. Các lễ thức rườm rà, những hình thức tu tập phức tạp đã được Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn lược bớt để phù hợp với cuộc sống, cũng như tâm lý của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long.

Trên cơ sở nguyên lý “học Phật - tu nhân”, báo đạo Tứ ân như những tôn giáo khác ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn đưa ra quan niệm: Nhân sinh quan là con người ai cũng mang ơn Tổ quốc, ông bà, cha mẹ, Tam bảo và chúng sinh, nên phải tu hành để đền đáp những công ơn đó. Tư tưởng và con người phải có luân lý đạo làm người (đạo nhân luân); vũ trụ quan là vòng sinh tử luân hồi, luật nhân quả nghiệp báo. Hình thành nên sự vật và con người, là do tương tác âm dương, ngũ hành tương sinh, tương khắc. Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn khuyên con người thể hiện sự hiếu nghĩa, trong đó hiếu là hiếu đạo: Hiếu thiên, hiếu địa, hiếu nhân; Còn nghĩa là nghĩa với đất nước, nghĩa với đồng bào nhân loại,... đó là những điều làm căn bản của sự giáo huấn trong đạo. Trong giáo lý của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn thừa nhận tu theo bậc hạ thừa, nghĩa là tu theo nhân đạo, chỉ giữ vài điều trong giới luật để sửa mình, bởi “Hạ thừa, là trong vòng nhân đạo, xét ra hầu hết chúng ta là bậc hạ thừa, một phần tu trong vòng nhân đạo vì thấy mình còn nặng nợ với gia đình, Tổ quốc, quê hương, chúng tộc, chỉ giữ vài điều trong giới luật để sửa tính răn lòng, thế là học Phật tu nhân vậy”.

Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn xem “học Phật - tu nhân” là căn cốt của mình, thế nhưng việc tu nhân là quan trọng và muốn học Phật thì tu nhân chính là mục đích căn bản. “học Phật - tu nhân” của tôn giáo này cũng là một nguyên lý, không phải hai giai đoạn của tu hành. Vì vậy nên hiểu rằng nguyên lý “học Phật - tu nhân” không phải chỉ tu cho bản thân “ly gia cắt ái”, mà rộng ra là cho cả quốc gia, đồng bào, nhân loại trên tinh thần rèn luyện bản thân và hành bố thí theo hạnh Bồ Tát Quán Thế Âm. Nên trong quyển Triết Thánh đạo, ông Nguyễn Ngọc An nhắc nhở đệ tử của mình rằng:

“Hội thông tam giáo có đâu xa,

Độ khắp ta bà hạnh Thích Ca.

Luyện tánh tu tâm do Phật pháp

Dồi gương trí huệ hóa liên hoa”

Về nguyên lý “học Phật - tu Nhân”. Trước hết là học Phật, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn không truyền bá hay tu hành theo những học thuyết thâm sâu của Phật giáo. Học Phật của tôn giáo này chủ yếu vận dụng những phương pháp đơn giản của việc tu phước theo đạo hạnh của Bồ Tát Quán Thế Âm là bố thí, nhẫn nhục để cứu người, độ đời. Cho nên trong thực hành nghi lễ, Phật A Di Đà và Bồ Tát Quan Thế Âm luôn được tụng niệm và bái lạy. Nhưng muốn học Phật được viên mãn, thì tín đồ phải rèn luyện bản thân, trau dồi đức hạnh và thực hành “Tứ ân”, xem đó là bổn phận của tín đồ, gọi là “tu nhân”.

Về tu Nhân, người theo Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn phải trau dồi đạo đức, rèn sửa tâm tính, làm lành, tránh dữ để tích đức, hoàn thành công việc, sống tốt với mọi người thì mới trở thành người có ích cho xã hội. “Vậy tu Nhân là để cải tạo xã hội, cho đặng thuần phong mỹ tục, chữ tu thân học chí thần tiên, xưa kia những bậc thánh hiền, cũng tai, cũng mắt mà làm nên danh người”. “Học Phật - tu nhân” trong Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn là phải thực hiện Tứ trọng ân (gọi tắt là Tứ ân): “1. Ân đất nước, 2. Ân Tổ tiên, cha mẹ, 3. Ân Tam bảo, Phật pháp tăng, 4. Ân đồng bào và nhân loại”.

Ân đất nước là ân đầu tiên trong Tứ ân của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn. Tôn giáo này cho rằng, người tu trong vòng nhân đạo trước hết là phải biết trung với nước, phải có nghĩa vụ bảo vệ quê hương, đất nước mỗi khi có giặc ngoại xâm. Trong thời đại hòa bình phải hết lòng xây dựng cho quê hương, đất nước được ngày càng giàu mạnh hơn.

Ân Tổ tiên, cha mẹ được xếp ở vị trí thứ hai. Quan niệm về ân Tổ tiên, cha mẹ trong Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn là nhớ ân và báo đáp công sinh thành dưỡng dục, người đã tạo ra mình. Tôn giáo này quan niệm chỉ có biết ân và đền đáp công ân Tổ tiên ông bà, cha mẹ thì mới trọn đạo làm người. Trong giáo lý Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, người biết ân ông bà, cha mẹ là người phải sống có hiếu, không làm phật ý trái lòng ảnh hưởng đến Tổ tiên của mình.

Ân Tam bảo được xếp vị trí thứ ba trong tứ ân. Là tín đồ Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, phải nhớ ơn Phật, pháp, tăng bằng cách noi theo lời Phật dạy. Từ biết ân Tam bảo, mỗi tín đồ phải có trách nhiệm truyền bá giáo lý đến mọi người để họ tiếp tục phấn đấu làm việc thiện, sống có nhân từ để hướng tới chân, thiện, mỹ.

Ân đồng bào, nhân loại ở vị trí thứ tư. Trong cuộc sống tu hành theo đạo, mỗi người đều có sự chịu ơn lẫn nhau, sự chịu ơn đó không dừng lại ở đồng bào mà toàn thể nhân loại. Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn khuyên dạy tín đồ của mình phải sống biết quan tâm, yêu thương, vui vẻ, hòa thuận, cùng chia sẻ buồn vui với muôn người như tình huynh đệ. Tất cả đồng bào và nhân loại trên trái đất đều không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, màu da, chủng tộc và ngay cả thập loại chúng sinh cũng đều là họ hàng, quyến thuộc. Giáo lý Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn cũng vận dụng phép Lục hòa của Phật giáo, xem là một căn bản trong tu hành.

Với nguyên lý “học Phật - tu Nhân”, cùng với sự dung nạp tư tưởng của một số tôn giáo và tín ngưỡng dân gian, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn thực hành tổng hợp nhiều phương pháp tu hành truyền thống có trước của người Việt. Đó là, pháp tu tưởng niệm, bái lạy danh hiệu Phật của Tịnh độ tông, ấn chú của Mật tông, luyện tinh, khí, thần của Đạo giáo, đặc biệt là thực hành tu thân trong nhân luân tam cương, ngũ thường của Nho giáo. Trong Nho giáo lại đưa ra đạo nhân luân, gọi là đạo nhân luân tam cương và ngũ thường. Còn nói về Tam giáo đạo là Phật, Thánh, Tiên cũng một lòng, nghĩa là: Đạo Phật thì dạy tu tâm cho thành Phật; Đạo Tiên thì dạy luyện tính cho thành tiên; Đạo Nho thì dạy giữ dạ thảo hiền, ấy là người trung, hiếu, tiết, nghĩa mới thành ra Thần, Tiên, Thánh, Phật cũng là một đấng toàn năng, toàn diện, toàn mỹ rồi mới được chứng quả thiêng cực lạc vậy.

Như vậy, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn bao hàm những quan niệm cuộc sống hiện tại và tương lai. Nó được truyền tụng bằng những bài văn, bài kệ theo hình thức văn vần, những bài khuyến tu dễ hiểu, dễ nhớ, dễ đi vào lòng người. Đây cũng là một đặc trưng chung trong việc biên soạn kinh sách, giáo lý và phương pháp truyền giáo phổ biến của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Với cách thức truyền đạo này, giáo lý tôn giáo trở nên phù hợp, gần gũi với quan niệm nhân quả truyền thống của người Việt, với tâm lý, tính cách, trình độ của người nông dân thật thà, chất phác. Hiện nay, dù cuộc sống có nhiều thay đổi, nhưng những điều khuyến tu, việc giữ đạo lý ở đời luôn được nhiều thế hệ tín đồ tiếp truyền, giữ nếp đạo, bởi những giá trị đó có nhiều điều phù hợp trong đời sống của tín đồ Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn.

4. Kết luận

Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, với tư cách là một tôn giáo nội sinh hình thành ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX, là minh chứng tiêu biểu cho quá trình dung hợp và bản địa hóa các hệ tư tưởng tôn giáo tại Việt Nam. Trên nền tảng tiếp thu có chọn lọc từ Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian, tôn giáo này đã kiến tạo một hệ thống kinh sách và giáo lý mang tính tổng hợp, trong đó nổi bật là sự kết hợp giữa yếu tố tôn giáo và đạo đức xã hội.

Hệ thống kinh sách của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, tuy không phong phú song lại có giá trị ở tính thực hành và khả năng thích ứng cao với đời sống tín đồ. Các trước tác như Triết Thánh đạo và Luật đạo không chỉ đóng vai trò định hướng tu hành mà còn thiết lập những chuẩn mực đạo đức và quy phạm ứng xử mang tính cộng đồng. Qua đó, tôn giáo này đã chuyển tải các giáo huấn tôn giáo thành những nguyên tắc đạo lý cụ thể, dễ tiếp nhận và dễ thực hành trong đời sống thường nhật.

Về phương diện giáo lý, nguyên lý “học Phật, tu Nhân” giữ vị trí trung tâm, thể hiện rõ khuynh hướng nhập thế và đề cao đạo làm người. Khác với xu hướng xuất thế trong một số dòng Phật giáo truyền thống, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn nhấn mạnh việc tu dưỡng đạo đức cá nhân gắn liền với trách nhiệm đối với gia đình và xã hội. Quan niệm “Tứ ân” không chỉ là sự kế thừa tư tưởng đạo đức truyền thống mà là hệ thống hóa các mối quan hệ xã hội căn bản của con người, từ đó hình thành một hệ giá trị vừa mang tính tôn giáo, vừa mang tính nhân văn sâu sắc.

Có thể khẳng định rằng, đặc trưng nổi bật của Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn là xu hướng giản lược hóa nghi lễ, đề cao thực hành đạo đức và hướng tới đời sống hiện thực. Chính đặc điểm này đã tạo nên khả năng thích ứng linh hoạt của tôn giáo trong bối cảnh xã hội biến đổi, đồng thời góp phần duy trì và củng cố các giá trị đạo đức truyền thống trong cộng đồng tín đồ.

Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn không chỉ có ý nghĩa nhận diện một hiện tượng tôn giáo đặc thù ở Nam Bộ, mà còn góp phần làm sáng tỏ cơ chế vận động, dung hợp và bản địa hóa của các tôn giáo tại Việt Nam. Đồng thời, những giá trị đạo đức mà tôn giáo này đề cao vẫn có ý nghĩa tham chiếu trong việc xây dựng đời sống văn hóa, đạo đức xã hội, hướng tới sự phát triển bền vững và hài hòa của cộng đồng./.

* Giảng viên chính, Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên

Tài liệu tham khảo

1. Nghiên cứu tôn giáo, số 11(2018)

2. Khái quát lịch sử đạo Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn

3. Tóm tắt giáo lý, giáo luật Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn

4. Triết Thánh đạo Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn