Bộ đội Biên phòng Lai Châu hướng dẫn đồng bào dân tộc Mảng trồng lúa nước Từ khóa: Giảm nghèo; Dân tộc thiểu số; Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Kinh tế - xã hội; Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc.
1. Cơ sở lý luận và pháp lý về quyền con người của người dân tộc thiểu số
Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD) ra đời năm 1965, liên quan trực tiếp đến quyền con người, với mục tiêu chính là cấm và xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, màu da, nguồn gốc dân tộc, nhằm đảm bảo sự bình đẳng và nhân phẩm cho mọi cá nhân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam trở thành quốc gia thành viên của Công ước CERD từ năm 1982. Là quốc gia thành viên của Công ước CERD và một số công ước quốc tế khác về quyền con người, Việt Nam có trách nhiệm nội luật hóa các quy định của các công ước quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia. Tại Hiến pháp 2013, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Việt Nam đã dành riêng Chương II với 36 điều quy định trực tiếp và rõ ràng về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”.
Một trong những quyền con người rất quan trọng được quy định trong Công ước CERD là quyền được đảm bảo an sinh xã hội (điểm d, khoản 5, Điều 5). Nội luật hóa quy định này, Điều 34 Hiến pháp năm 2013 quy định công dân có quyền được đảm bảo an sinh xã hội; Khoản 2 Điều 59 quy định Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác.
An sinh xã hội là trụ cột của chính sách xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta, bảo đảm phát triển xã hội tiến bộ và công bằng, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Việt Nam là quốc gia thống nhất, có 54 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số (DTTS). Đồng bào DTTS là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam và được hưởng đầy đủ các quyền con người theo quy định trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Nhà nước Việt Nam luôn xác định tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, quyền công dân, trong đó bao gồm đồng bào 53 DTTS là nguyên tắc cơ bản của mọi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của đất nước. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (khoản 1 Điều 14), “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” và “Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” (Điều 16).
Cấu trúc an sinh xã hội ở Việt Nam gồm 4 trụ cột, trong đó có 2 trụ cột liên quan trực tiếp đến giảm nghèo cho đồng bào DTTS: (i) Chính sách đảm bảo việc làm, tạo thu nhập và giảm nghèo nhằm hỗ trợ người dân chủ động phòng ngừa các rủi ro trên thị trường lao động thông qua các chính sách đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, tín dụng, tạo việc làm, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo đơn chiều, đa chiều, bền vững. (ii) Chính sách bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào DTTS nhằm hỗ trợ người dân tiếp cận hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu, bao gồm y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin truyền thông, trợ giúp pháp lý.
Ngoài việc được thụ hưởng đầy đủ các quyền con người, quyền công dân quy định trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác, Đảng và Nhà nước ban hành nhiều văn kiện, văn bản quy phạm pháp luật có chủ trương, chính sách dành riêng cho đồng bào DTTS trên từng lĩnh vực, nhóm đối tượng, địa phương, trong đó có những chính sách liên quan đến giảm nghèo, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận, thụ hưởng quyền con người trong lĩnh vực đảm bảo an sinh xã hội đối với đồng bào DTTS.
2. Bảo đảm quyền con người của đồng bào dân tộc thiểu số thông qua chính sách giảm nghèo giai đoạn 2021-2025
Giai đoạn 2021-2025, lĩnh vực giảm nghèo của Việt Nam nói chung, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) nói riêng chịu sự điều chỉnh của hai Chương trình Mục tiêu quốc gia (MTQG) là Giảm nghèo bền vững và Phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN (Chương trình 1719). Trong đó Chương trình 1719 là chương trình mới, lần đầu tiên được thực hiện, được coi là giải pháp quan trọng, mang tính bao trùm, với quan điểm đầu tư phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN là đầu tư cho phát triển bền vững, gắn với xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào DTTS; Thu hẹp dần khoảng cách về mức sống so với vùng phát triển; Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội; Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm đạt được mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Kết thúc giai đoạn 2021-2025, cả hai Chương trình đã đạt được những thành tựu nổi bật, góp phần bảo đảm nhân quyền cho người DTTS.
Khởi sắc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núiThứ nhất, với Chương trình MTQG Giảm nghèo bền vững, các kết quả giảm nghèo đều đạt và vượt mục tiêu, chỉ tiêu Quốc hội, Chính phủ giao. Dự kiến hết năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều cả nước giảm còn khoảng 0,9%-1,1%; Tỷ lệ hộ nghèo DTTS còn 12,55% (tỷ lệ đầu kỳ là 25,91%, giảm 4,45%/năm). Đối với Chương trình 1719, mục tiêu về tỷ lệ giảm nghèo vùng đồng bào DTTS đạt bình quân 3,4%, dự kiến cả giai đoạn đạt 3,2% (đạt so với mức trên 3% mục tiêu kế hoạch giao). Thu nhập bình quân của người DTTS đạt 43,4 triệu đồng, tăng 3,1 lần so với năm 2020; Dự kiến hết giai đoạn đạt 45,9 triệu đồng, tăng 3,3 lần so năm 2020 (mục tiêu tăng trên 2 lần).
Thứ hai, nhận thức về công tác giảm nghèo được nâng lên. Cả hệ thống chính trị từ Trung ương tới địa phương đã vào cuộc mạnh mẽ, phối hợp chặt chẽ, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện; Huy động sự hưởng ứng tích cực của cả xã hội. Nhận thức của người nghèo dần thay đổi, có nhiều tấm gương, điển hình thóat nghèo, tình nguyện xin ra khỏi danh sách hộ nghèo, trong đó có nhiều hộ là người DTTS.
Thứ ba, về áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là một trong những quốc gia đầu tiên của châu Á áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, bảo đảm mức sống tối thiểu gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Áp dụng chuẩn nghèo đa chiều nghĩa là Việt Nam không chỉ giải quyết đói nghèo trên tiêu chí thu nhập mà còn ở những khía cạnh các của đời sống như tiếp cận giáo dục, y tế, nhà ở, thông tin, vệ sinh môi trường... Những tiêu chí này tương đồng với các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa được quy định tại khoản 5, Điều 5 của Công ước CERD, đó là các quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, quyền có nhà ở, quyền được tiếp cận với y tế công cộng, chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội, dịch vụ xã hội; Quyền được giáo dục và đào tạo; Quyền được tham gia bình đẳng vào các hoạt động văn hóa. Do đó, áp dụng chuẩn nghèo đa chiều chính là thể hiện sự tôn trọng, đảm bảo, thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam nói chung, đồng bào DTTS nói riêng.
Thứ tư, chương trình, cơ chế, chính sách, pháp luật về giảm nghèo được Chính phủ ban hành đồng bộ để hỗ trợ toàn diện cho người nghèo. Có chính sách giảm nghèo đặc thù, ưu tiên các đối tượng yếu thế, đồng bào DTTS, vùng đặc biệt khó khăn. Giai đoạn 2021-2025, nhóm chính sách phát triển kinh tế bền vững có 52 chính sách dân tộc, trong đó có 08 chính sách dành riêng cho đồng bào DTTS, vùng đồng bào DTTS&MN; Nhóm chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, giải quyết việc làm có 25 chính sách dân tộc, trong đó có 13 chính sách dành riêng cho đồng bào DTTS, vùng đồng bào DTTS&MN; Nhóm chính sách y tế, dân số, chăm sóc sức khỏe nhân dân có 09 chính sách dân tộc, trong đó có 01 chính sách dành riêng cho đồng bào DTTS, vùng đồng bào DTTS&MN; Nhóm chính sách văn hóa, thể thao, du lịch có 09 chính sách dân tộc, trong đó cả 01 chính sách dành riêng cho đồng bào DTTS, vùng đồng bào DTTS&MN; Nhóm chính sách thông tin, truyền thông, phổ biến pháp luật, trợ giúp pháp lý có 10 chính sách dân tộc, trong đó có 04 chính sách dành riêng cho đồng bào DTTS, vùng đồng bào DTTS&MN…
Thứ năm, Chương trình 1719 đã tham gia giải quyết những nhu cầu cấp thiết nhất, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đói nghèo của đồng bào DTTS với kết quả đã hỗ trợ đất ở cho 10.549 hộ; Hỗ trợ nhà ở cho 42.567 hộ, hỗ trợ trực tiếp đất sản xuất cho 13.387 hộ, hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 54.899 hộ; Hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 479.358 hộ; Sắp xếp bố trí ổn định dân cư cho 25.056 hộ; Xóa 42.567 căn nhà tạm, nhà dột nát; Trợ cấp 48.991 tấn gạo cho 120.055 hộ nghèo, hộ DTTS tham gia bảo vệ phát triển rừng; Triển khai 403 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị; 2.562 dự án phát triển sản xuất cộng đồng; Hỗ trợ đào tạo nghề, tìm kiếm việc cho 115.575 người lao động; Tổ chức 4.752 lớp học xóa mù chữ với 95.033 người tham gia; Gần 3,9 triệu lượt bà mẹ, trẻ em được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu ngay từ cấp cơ sở... góp phần giúp các hộ đồng bào DTTS nghèo, cận nghèo ổn định đời sống, giải quyết việc làm ổn định cho một lực lượng lao động rất lớn trên địa bàn. Qua đó, đồng bào DTTS có thêm động lực phát triển kinh tế và vươn lên thóat nghèo tại các khu vực đặc biệt khó khăn.
Thứ sáu, cơ sở hạ tầng KT-XH thiết yếu, liên kết vùng được ưu tiên đầu tư đã làm thay đổi bộ mặt địa bàn nghèo, đặc biệt khó khăn, góp phần thu hẹp khoảng cách vùng miền, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Riêng Chương trình 1719 đã triển khai hỗ trợ đầu tư: 6.018 công trình giao thông nông thôn phục vụ sản xuất, kinh doanh và dân sinh; 8.673 km đường giao thông được nhựa hóa, bê tông hóa hoặc cứng hóa; 442 công trình cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thôn, bản; 90 trạm chuyển tiếp phát thanh xã; 1.787 nhà sinh hoạt cộng đồng; Cải tạo, sửa chữa 183 trạm y tế xã; Hỗ trợ trang thiết bị 118 trạm y tế xã; 225 trạm y tế xã và 629 công trình trường, lớp học đạt chuẩn; Cải tạo, xây mới 986 công trình thủy lợi nhỏ; Đầu tư 666 công trình hạ tầng quy mô nhỏ khác do cộng đồng đề xuất; Có 2.006 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng thực hiện theo cơ chế đặc thù về đầu tư xây dựng; Thực hiện duy tu, bảo dưỡng bằng nguồn vốn của chương trình đối với 5.484 công trình cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã, thôn đặc biệt khó khăn.
Các nội dung đầu tư cơ sở hạ tầng đã phát huy vai trò quan trọng hỗ trợ đồng bào sản xuất theo định hướng của thị trường. Nhiều hạng mục công trình hạ tầng thiết yếu phục vụ dân sinh đã đóng góp đáng kể vào việc thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội về y tế, giáo dục, thông tin... tại các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn. Trình độ dân trí, chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực vùng đồng bào DTTS&MN ngày càng được nâng cao, góp phần phục vụ công cuộc giảm nghèo cho vùng.
Những kết quả đạt được của hai Chương trình MTQG là kết quả của việc tập trung giải quyết các vấn đề nghèo đói một cách có trọng tâm, trọng điểm, có mục tiêu, thời hạn rõ ràng nhằm đảm bảo quyền an sinh xã hội của người nghèo nói chung, người DTTS nói riêng. Trong đó, các chỉ tiêu giảm nghèo, thu nhập bình quân đầu người DTTS đã tăng khá và vượt kế hoạch, chất lượng tiếp cận các dịch vụ giáo dục, y tế, các nguồn lực phát triển được bảo đảm tốt hơn, bình đẳng hơn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng đồng bào DTTS&MN được nâng lên đáng kể so với trước. Chương trình 1719 đã góp phần quan trọng và cơ bản để thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn xã, thôn đặc biệt khó khăn, được coi là “lõi nghèo” và tập trung nhiều người nghèo nhất cả nước.
Những thành quả trên được Nhân dân cả nước ghi nhận, được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những thành công nổi bật nhất, có ý nghĩa nhân văn nhất của Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế.
3. Kết luận
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển, hoàn thiện một số đặc trưng, đồng thời bổ sung thêm 2 đặc trưng mới so với Cương lĩnh năm 1991, trong đó có đặc trưng: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đặc trưng này thể hiện hệ mục tiêu tổng quát của quá trình đổi mới ở nước ta. Đây cũng là những giá trị tiến bộ phổ quát của nhân loại và khát vọng phát triển của các quốc gia, dân tộc, là mục tiêu hướng tới của dân tộc ta.
Từ Cương lĩnh của Đảng, chính sách xã hội ở nước ta nói chung, chính sách giảm nghèo nói riêng ngày càng gắn với đảm bảo quyền con người; Tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc trong từng thời kỳ phát triển để mọi người dân, trong đó có đồng bào DTTS đều được hưởng thụ thành quả của phát triển và thực hiện công bằng xã hội. Thực tiễn triển khai Chương trình MTQG Giảm nghèo bền vững và Chương trình 1719 giai đoạn 2021-2025 cho thấy, giảm nghèo ở Việt Nam, đặc biệt là giảm nghèo vùng đồng bào DTTS&MN đã vượt ra khỏi cách tiếp cận thuần túy về hỗ trợ an sinh xã hội, từng bước chuyển sang bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người theo hướng toàn diện và bền vững. Những kết quả nổi bật về giảm tỷ lệ nghèo, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống và mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước coi đầu tư cho vùng đồng bào DTTS&MN là đầu tư cho phát triển lâu dài của đất nước. Đây không chỉ là yêu cầu phát triển KT-XH mà còn là cam kết của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, không để bất kỳ cộng đồng nào đứng ngoài tiến trình phát triển chung của đất nước.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình MTQG giai đoạn 2021-2025 (2025). Báo cáo Tổng kết thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ 2021-2025.
2. Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình MTQG giai đoạn 2021-2025 (2025). Báo cáo Tổng kết thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững.
3. Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc,
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Cong-uoc-quoc-te-ve-xoa-bo-moi-hinh-thuc-phan-biet-chung-toc-270273.aspx
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011),
https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xi/cuong-linh-xay-dung-dat-nuoc-trong-thoi-ky-qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-bo-sung-phat-trien-nam-2011-1528
5. Ngô Trung Thành (2025). Quan điểm, chính sách cơ bản của Đảng, Nhà nước ta về quyền dân sự, chính trị và tư pháp đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
6. Phương Liên (2024). Không ai bị bỏ lại phía sau ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi,
https://www.bienphong.com.vn/khong-ai-bi-bo-lai-phia-sau-o-vung-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui-post483832.html
7. Quốc hội (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội.