Ẩn mình giữa trùng điệp núi rừng phía Tây Nam Thanh Hóa, Vườn quốc gia Bến En hiện lên như một bức tranh sơn thủy kỳ vĩ với 21 hòn đảo xanh giữa lòng hồ Sông Mực mênh mangTừ những cung đường dẫn vào Vườn quốc gia Bến En, màu xanh của rừng ngày càng phủ rộng. Hồ Sông Mực nằm giữa không gian núi rừng, những hòn đảo nhấp nhô trên mặt nước tạo nên cảnh quan vừa khoáng đạt vừa yên bình.
Vườn quốc gia Bến En được thành lập năm 1992, nằm trên địa bàn các huyện cũ như: Như Thanh và Như Xuân (nay là xã Như Thanh và Như Xuân) là một trong những khu vực có giá trị cao về hệ sinh thái rừng và cảnh quan của Thanh Hóa. Hồ Sông Mực rộng khoảng 3.000ha với khoảng 21 hòn đảo lớn nhỏ nổi lên với muôn hình vạn trạng. Bằng trí tưởng tượng phong phú, người dân đã thổi hồn cho từng hòn đảo bằng những cái tên giàu chất thơ: đảo Tình Yêu, đảo Đôi, đảo Lúng Túng, đảo Bồng Lai, đảo Bến Mơ, đảo Hy Vọng… Và đây là một trong những điểm nhấn tạo nên sức hấp dẫn của khu vực.
Nhưng nếu chỉ nhìn Bến En bằng con mắt của một du khách, sẽ khó thấy hết giá trị của nơi này.
Bến En trước hết là một không gian sinh thái. Rừng, hồ, đất, nguồn nước, hệ động thực vật và cộng đồng dân cư tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ. Rừng giữ đất, điều tiết nước, tạo sinh cảnh; hồ cung cấp nguồn nước và tạo nên cảnh quan; đa dạng sinh học làm nên giá trị tự nhiên; còn người dân là chủ thể sinh sống, sản xuất và có trách nhiệm gìn giữ tài nguyên.
Bởi vậy, bảo tồn Bến En không chỉ là câu chuyện của lực lượng kiểm lâm… Mà đó phải là câu chuyện của cả cộng đồng.
Những hòn đảo xanh nổi lên giữa lòng hồ Sông Mực, tạo nên cảnh quan kỳ vĩ, sơn thủy hữu tình được ví như Hạ Long trên cạn của xứ ThanhGiữ rừng là giữ nền tảng của sự sống
Bến En có hệ sinh thái đa dạng với hàng nghìn loài thực vật và động vật được ghi nhận, với khoảng 1.389 loài thực vật và 1.004 loài động vật.
Những con số ấy không đơn giản là dữ liệu khoa học. Mỗi loài cây, mỗi loài động vật đều góp phần tạo nên sự cân bằng của hệ sinh thái. Một cánh rừng nguyên sinh không thể được thay thế bằng vài hàng cây trồng mới. Một hệ sinh thái tự nhiên mất đi cũng không thể phục hồi chỉ bằng cách trồng lại diện tích rừng tương đương.
Đó là lý do bảo vệ rừng tự nhiên phải được đặt ở vị trí trung tâm. Đặc biệt, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt, rừng còn có vai trò quan trọng trong điều tiết khí hậu, bảo vệ nguồn nước và giảm nguy cơ xói mòn, sạt lở.
Với Bến En, bảo vệ rừng cũng đồng nghĩa với bảo vệ hồ Sông Mực và toàn bộ cảnh quan sinh thái phụ thuộc vào nguồn nước. Rừng và hồ không thể được nhìn như hai tài nguyên tách biệt. Một bên là mái nhà xanh, một bên là tấm gương nước của hệ sinh thái. Rừng khỏe thì nguồn nước được bảo vệ; nguồn nước được bảo vệ thì cảnh quan và sinh kế mới có nền tảng lâu dài.
Du khách trong nước và quốc tế trải nghiệm du lịch sinh thái bằng thuyền trên lòng hồ Bến En (tỉnh Thanh Hoá), khám phá hệ sinh thái rừng và văn hóa địa phươngTừ tài nguyên rừng đến sinh kế cộng đồng
Chính vì vậy, một trong những yêu cầu quan trọng của bảo tồn hiện nay là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo vệ rừng và sinh kế của người dân. Nếu người dân sống gần rừng không có sinh kế ổn định, áp lực khai thác tài nguyên có thể gia tăng. Ngược lại, nếu cộng đồng có thu nhập từ những hoạt động phù hợp với bảo tồn, họ sẽ có thêm động lực để bảo vệ rừng.
Đây chính là điểm mà du lịch sinh thái có thể đóng vai trò cầu nối. Một chuyến tham quan Bến En có thể tạo thu nhập cho nhiều nhóm khác nhau, đó là người vận hành thuyền, cơ sở lưu trú, người cung cấp thực phẩm, hướng dẫn viên, người làm sản phẩm địa phương và các hộ tham gia dịch vụ cộng đồng.
Khi đó, rừng là tài nguyên cần bảo vệ, đồng thời còn trở thành nguồn vốn tự nhiên tạo sinh kế, với điều kiện việc khai thác phải nằm trong giới hạn sinh thái cho phép.
Ông Lê Văn Trung, Giám đốc Sở Văn hoá, Thể Thao và Du lịch chia sẻ: Mô hình bền vững nhất không phải là khai thác rừng để tạo ra lợi ích ngắn hạn, mà là giữ cho rừng tiếp tục tạo ra giá trị trong nhiều thế hệ. Một cánh rừng được bảo vệ tốt có thể đồng thời tạo ra giá trị về môi trường, du lịch, nghiên cứu khoa học, giáo dục và sinh kế cộng đồng.
Đó là cách tiếp cận “lấy bảo tồn làm nền tảng, phát triển làm động lực”.
Giữa lòng hồ mênh mang, 21 hòn đảo lớn nhỏ nổi lên với muôn hình vạn trạng. Bằng trí tưởng tượng phong phú, người dân đã thổi hồn cho từng hòn đảo bằng những cái tên giàu chất thơ: đảo Tình Yêu, đảo Đôi, đảo Lúng Túng, đảo Bồng Lai, đảo Bến Mơ, đảo Hy Vọng…Du lịch không chỉ để ngắm cảnh
Bến En có lợi thế lớn để phát triển du lịch sinh thái nhờ sự kết hợp giữa rừng và hồ. Các phương án phát triển du lịch từng xác định khu vực Trung tâm du khách gắn với Bến thuyền Cửa Đạt và các không gian dịch vụ, trải nghiệm.
Nhưng du lịch sinh thái không nên được hiểu đơn giản là đưa càng nhiều du khách trong nước và quốc tế vào rừng càng tốt… Một khu rừng càng quý thì càng cần kiểm soát sức chứa.
Du khách đến Bến En cần được trải nghiệm thiên nhiên nhưng đồng thời phải được giáo dục về bảo tồn. Một chuyến đi bằng thuyền trên hồ có thể kết hợp giới thiệu hệ sinh thái. Một tuyến đi bộ trong rừng có thể trở thành hành trình tìm hiểu cây địa phương. Một hoạt động quan sát chim có thể gắn với giáo dục đa dạng sinh học.
Khi ấy, du khách không chỉ đi chơi trong rừng mà học cách hiểu và tôn trọng rừng.
Đó là điểm khác biệt căn bản giữa du lịch đại chúng và du lịch sinh thái.
Nếu xây dựng cơ sở lưu trú, đường giao thông, bến thuyền và các điểm dịch vụ thiếu kiểm soát, chính những hoạt động phục vụ du lịch có thể gây áp lực lên môi trường. Vì vậy, phát triển Bến En cần tuân thủ nguyên tắc, đó là quy hoạch rõ vùng bảo vệ nghiêm ngặt, vùng phục hồi sinh thái, vùng dịch vụ hành chính và vùng có thể tổ chức hoạt động du lịch phù hợp
Hồ Sông Mực (Vườn quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hoá) có diện tích hơn 4.000 ha, nơi sâu nhất đạt 25-30 m. Hồ được tạo nên từ bốn con suối lớn đổ về từ các dãy núi bao quanh, mang đến nguồn nước xanh biếc, đầy ắp quanh năm, phẳng lặng và tĩnh tại như một mặt gương khổng lồ giữa đại ngànNgười dân phải là chủ thể
Theo đó, một bài toán quan trọng khác là làm sao để cộng đồng địa phương thực sự được hưởng lợi. Nếu du lịch phát triển nhưng phần lớn giá trị kinh tế nằm ngoài cộng đồng, người dân sẽ khó nhìn thấy mối liên hệ giữa việc bảo vệ rừng và đời sống của mình.
Ngược lại, nếu một hộ gia đình có thể tăng thu nhập từ dịch vụ homestay, ẩm thực địa phương, hướng dẫn trải nghiệm, sản phẩm thủ công hay nông sản sạch; nếu thanh niên địa phương có thể trở thành hướng dẫn viên; nếu phụ nữ có thể tham gia chuỗi cung ứng dịch vụ, thì rừng sẽ dần trở thành một tài sản chung có giá trị kinh tế rõ ràng.
Đây là lúc bảo tồn chuyển từ nhiệm vụ của cơ quan quản lý thành lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng.
Có thể hình dung một vòng tròn phát triển, đó là: “Rừng được bảo vệ - cảnh quan và đa dạng sinh học được duy trì - du lịch sinh thái phát triển - cộng đồng có thêm thu nhập - người dân có động lực bảo vệ rừng - tài nguyên tiếp tục được phục hồi”.
Và nếu một mắt xích bị phá vỡ, vòng tròn ấy sẽ mất tính bền vững.
Cắm trại trong rừng Bến EnBến En cần một cách làm mới
Trong tương lai, Bến En cần được định vị không chỉ là điểm tham quan mà là một điểm đến sinh thái, giáo dục, trải nghiệm… Cần xây dựng các sản phẩm du lịch có chiều sâu, tránh phụ thuộc vào những hoạt động ngắn hạn. Có thể phát triển các tuyến khám phá rừng, trải nghiệm hồ Sông Mực, quan sát động thực vật, du lịch cộng đồng, giáo dục môi trường và các chương trình nghiên cứu khoa học.
Cùng với đó là số hóa dữ liệu đa dạng sinh học, xây dựng bản đồ du lịch sinh thái, hệ thống thuyết minh số và nền tảng cung cấp thông tin về các tuyến tham quan. Nhưng công nghệ chỉ là công cụ. Điều quan trọng nhất vẫn là năng lực quản trị tài nguyên.
Đồng thời, cần xác định rõ sức chứa của từng điểm du lịch; kiểm soát rác thải; hạn chế nhựa dùng một lần; bảo đảm an toàn đường thủy; kiểm soát xây dựng; bảo vệ nguồn nước; giám sát các hoạt động có nguy cơ ảnh hưởng đến động vật hoang dã.
Du lịch sinh thái không thể đánh đổi rừng lấy số lượng khách. Nếu cảnh quan bị tổn thương, chính sản phẩm du lịch cũng mất giá trị.
Trải nghiệm văn hoá địa phương khi du khách trong nước và quốc tế đến rừng quốc gia Bến EnGiữ Bến En cho hôm nay và mai sau
Rời Bến En, điều còn lại không chỉ là hình ảnh những đảo xanh giữa mặt hồ Sông Mực. Đồng thời, đó còn là một suy nghĩ giản dị, một điểm đến đẹp chỉ thực sự có tương lai khi thiên nhiên của nó còn nguyên giá trị.
Bến En có rừng, có hồ, có đa dạng sinh học và có cộng đồng. Những yếu tố ấy nếu được kết nối đúng cách có thể tạo thành một mô hình phát triển hài hòa: bảo tồn thiên nhiên, tạo sinh kế và phát triển du lịch.
Nhưng muốn vậy, cần thay đổi cách nhìn về rừng. Rừng không chỉ là diện tích phải bảo vệ. Rừng là nguồn nước, khí hậu, đa dạng sinh học, cảnh quan, văn hóa và sinh kế.
Cũng như vậy, du lịch không chỉ là số lượt khách. Du lịch phải được đo bằng mức độ hài lòng của du khách, thu nhập của cộng đồng, chất lượng môi trường và khả năng giữ gìn tài nguyên cho thế hệ sau.
Với Bến En, con đường phát triển bền vững có lẽ nằm ở chính sự cân bằng ấy. Giữ rừng để giữ nước; giữ nước để giữ hệ sinh thái; giữ hệ sinh thái để giữ cảnh quan; giữ cảnh quan để phát triển du lịch; và phát triển du lịch để tạo thêm sinh kế cho cộng đồng.
Không gian sinh hoạt cộng đồng về đêm, góp phần đa dạng hóa trải nghiệm và thúc đẩy du lịch cộng đồng tại Vườn quốc gia Bến EnKhi những mắt xích ấy được nối lại, Bến En sẽ không chỉ là một thắng cảnh đẹp của Thanh Hóa, mà còn có thể trở thành một mô hình sinh động về cách biến tài nguyên thiên nhiên thành động lực phát triển mà không đánh đổi tương lai của rừng./.