1. Đóng góp của Phật giáo ở Nam Bộ trong Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
Cách mạng Tháng Tám (1945) diễn ra trong bối cảnh chiến tranh thế giới lần thứ hai, khi phát xít chiếm đóng Việt Nam năm 1940 và đảo chính Pháp năm 1945. Người dân Việt Nam chịu một cổ ba tròng áp bức: là Pháp, là Nhật, là triều đình phong kiến. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, đồng bào Nam Bộ và cả nước nổi dậy khởi nghĩa “đánh Pháp, đuổi Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân”, làm nên thành công của Cách mạng Tháng Tám (02/9/1945) và lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Thời kỳ này phong trào khởi nghĩa ở Nam Bộ rất sôi nổi vì Nam Bộ là thuộc địa chịu sự áp bức bóc lột của thực dân Pháp, vì Đảng rất quan tâm đến phong trào khởi nghĩa ở Nam Bộ với sự chỉ đạo trực tiếp của Xứ ủy Nam Kỳ và Mặt trận Việt Minh. Thời kỳ này nhiều cuộc khởi nghĩa ở các tỉnh Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cần Thơ, Bạc Liêu,.. đều có sự tham gia của tăng ni, phật tử. Riêng tại Sài Gòn, tháng 8/1945, được sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Kỳ và hướng dẫn của Mặt trận Việt Minh, các Hòa thượng Thiện Tòng (chùa Trường Thạnh), Hồng Từ (chùa Giác Viên), Hồng Hưng (chùa Giác Lâm),… đứng ra huy động gần 400 tăng ni, phật tử về khai mạc mít tinh tại chùa Trường Thạnh, diễu hành với khẩu hiệu: “Bảo Đại phải thoái vị - Việt Nam độc lập muôn năm - Hoan nghênh Mặt trận Việt Minh - Chính quyền phải về tay Việt Minh”.
Giành được độc lập chỉ một thời gian ngắn, người dân Nam Bộ lại đối diện với cuộc tái chiếm của thực dân Pháp. Do vậy, trong 09 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), dưới sự lãnh đạo của Đảng qua Xứ ủy Nam Kỳ và Mặt trận Việt Minh, Phật giáo Nam Bộ lại tích cực tham gia và có những đóng góp mới đối với cách mạng. Hai địa bàn Sài Gòn và Gia Định lại là trung tâm dấy lên phong trào Phật giáo kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhiều ngôi chùa giai đoạn này đã trở thành nơi liên lạc giữa các tăng ni yêu nước ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, như chùa Long Thạnh (huyện Bình Chánh), chùa Trường Thạnh (Quận 1),… chùa Linh Thứu (Tiền Giang) là trạm liên lạc giữa Xứ ủy Nam Kỳ và Tỉnh ủy Mỹ Tho.
Thời kỳ này, ở Nam Bộ các tổ chức cứu quốc của đoàn thể xã hội và tôn giáo được thành lập. Nhiều tăng ni, phật tử hăng hái gia nhập các tổ chức cứu quốc, như: Thanh niên Cứu quốc, Phụ lão Cứu quốc, Tăng già Cứu quốc, Phật giáo Cứu quốc,… Nhiều chư tăng ở các chùa Long An, Giác Lâm, Giác Viên, Sùng Đức, Long Vân, Giác Hoàng hưởng ứng, ủng hộ và tham gia các tổ chức cứu quốc,…
2. Đóng góp của Phật giáo ở Nam Bộ trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954 -1975)
Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ diễn ra trong bối cảnh mới, do đó những đóng góp của Phật giáo đối với cách mạng ở Nam Bộ cũng bước sang một trang sử mới. Dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, hình thức, mức độ và số lượng tăng ni, phật tử tham gia hoạt động cách mạng ngày càng tăng. Trước hết, cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960 là những phản ứng của giới Phật giáo ở miền Nam, chống lại chế độ độc tài và sự phân biệt đối xử giữa các tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Đặc biệt, việc tự thiêu vì độc lập dân tộc và vì đạo pháp của Bồ Tát Thích Quảng Đức tại trung tâm đầu não của chính quyền Sài Gòn đã trở thành ngòi pháo mạnh mẽ làm bùng nổ các cuộc đấu tranh sôi nổi của tăng ni, phật tử và tuổi trẻ ở Sài Gòn. Đã có những tấm gương hy sinh của tăng ni, phật tử chống lại chính quyền Sài Gòn, như: Ni cô Thích Nữ Niệm Quang, Thượng tọa Thích Tiêu, phật tử Quách Thị Trang, Đại đức Thích Quảng Hương, Đại đức Thích Thiện Mỹ, phật tử Đào Yến Phi, Ni cô Thích Nữ Thanh Quang, Đại đức Thích Thiện Tuệ, Nhất Chi Mai,…
Phong trào đấu tranh của giới Phật giáo chống chính quyền Sài Gòn cuối những năm 1960, đầu những năm 1970 bước vào quỹ đạo của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tại trung tâm đầu não của chính quyền Sài Gòn, Phật giáo đã phát triển phong trào chống chế độ Mỹ và chính quyền Sài Gòn bằng nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Sau Hiệp định Paris (1973) bằng nhiều hình thức khác nhau, các tăng ni, phật tử cùng các tầng lớp nhân dân Sài Gòn xuống đường đưa yêu sách, kết hợp với báo chí, tổ chức hội thảo, mít tinh, đấu tranh đòi Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, đòi hòa bình thống nhất đất nước, đòi tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo,… Phong trào đấu tranh này kéo dài liên tục từ 1973 đến tháng 4/1975.
Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước Tây Nam Bộ có ba cấp (khu, tỉnh, huyện), là tổ chức chính trị - xã hội đặc thù trong giới sư sãi Khmer, là thành viên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng; hoạt động như tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị. Trên cơ sở xác định: “Muốn cứu đạo phải cứu nước, không có độc lập dân tộc, không đánh thắng được đế quốc Mỹ xâm lược thì đạo pháp chân chính không thể tồn tại và phát triển được”, nội dung và phương thức hoạt động của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước là tuyên truyền, vận động sư sãi, phật tử Khmer ủng hộ, tham gia phong trào cách mạng.
Sau khi Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước Tây Nam Bộ ra đời, các tỉnh, thành phố ở đồng bằng sông Cửu Long lần lượt thành lập Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước cấp tỉnh. Cụ thể: Sóc Trăng (1963), Trà Vinh (1965), Cà Mau (1966), Kiên Giang (1968),… Ngay từ những ngày đầu thành lập và trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước Tây Nam Bộ đã phát huy được vai trò của mình, có những đóng góp quan trọng, đã vận động, tập hợp được đông đảo đồng bào, sư sãi Khmer đoàn kết đấu tranh chống Mỹ, ủng hộ cách mạng, tham gia nhiều cuộc biểu tình, tuyệt thực để phản đối chiến tranh, đòi hòa bình, góp phần cùng toàn dân giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhiều cơ sở thờ tự Phật giáo Nam tông Khmer ở vùng Tây Nam Bộ đã trở thành cơ sở cách mạng, che giấu bảo vệ cán bộ cách mạng, như: chùa Ô Mịch, chùa Mé Láng, chùa Căn Nom, Prokhúp (Trà Vinh), chùa Rạch Cui (Cà Mau),…
3. Những tăng ni, phật tử tiêu biểu ở Nam Bộ đóng góp cho cách mạng giai đoạn 1945-1975
Hòa thượng Thích Minh Nguyệt (1907-1985) thế danh là Lý Duy Kim tham gia Cách mạng Tháng Tám với bí danh Tam Không, sau đó được tín nhiệm giữ các chức vụ như: Hội trưởng Hội Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ, Hội trưởng Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Mỹ Tho, Hội trưởng Hội Phật giáo Cứu quốc khu Sài Gòn - Gia Định, Ủy viên Mặt trận tỉnh Mỹ Tho, Ủy viên khu Sài Gòn - Gia Định và Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ.
Hòa thượng Thái Không (1902-1983) tên thật là Hoàng Long Phi tham gia Phong trào Chấn hưng Phật giáo của tổ chức Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học Hội năm 1930. Năm 1941, Hòa thượng Thích Thái Không theo cách mạng ra chiến khu trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Năm 1945, Hòa thượng Thích Thái Không được bầu làm Trưởng ban Chấp hành Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Bến Tre và là thành viên Mặt trận Việt Minh tại quận Giồng Miếu. Khi thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ, Hòa thượng Thích Thái Không đã hô hào và vận động tăng sinh hãy: “Cởi áo cà sa khoác chiến bào”. Từ năm 1947-1949, Hòa thượng còn phát động phong trào chia cơm sẻ áo cho Vệ quốc Đoàn tỉnh Bến Tre,... Phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre năm 1960, Hòa thượng Thích Thái Không được đề cử giữ chức Ủy viên Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh Bến Tre, kiêm Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng huyện Thạnh Phú.
Hòa thượng Thích Thiện Hào (1911-1997) thế danh là Trương Minh Đạt. Năm 1945, Hội Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ ra đời do Hòa thượng làm Hội trưởng. Trong thời gian hoạt động tại Mỹ Tho và Bến Tre, Hòa thượng Thích Thiện Hào đã có nhân duyên hội kiến với các bậc cao tăng lãnh đạo Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Bến Tre, như Hòa thượng Thích Thái Không, Hòa thượng Phước Chí,... Năm 1952, Hòa thượng Thích Thiện Hào được Mặt trận Liên Việt mời dự Đại hội Liên hoan Tôn giáo Dân tộc tại chiến khu Đồng Tháp Mười và theo học chương trình về chính sách của Đảng Lao động Việt Nam để tham gia công tác tôn giáo vận,...
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được thành lập, Hòa thượng Thích Thiện Hào được mời làm Ủy viên Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Tây Nam Bộ. Năm 1961 là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Năm 1964, Hòa thượng Thích Thiện Hào được tái cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Năm 1968, Hòa thượng được cử làm Ủy viên Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Hòa thượng Hữu Nhem, (1929-1966) tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1947 với nhiều cống hiến trong công tác vận động quần chúng, nhất là trong đồng bào dân tộc Khmer. Năm 1947, Hòa thượng Hữu Nhem được bầu là Ủy viên Mặt trân tỉnh Rạch Giá. Năm 1962, Hòa thượng Hữu Nhem được bầu làm Phó Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng khu Tây Nam Bộ. Năm 1963, Hòa thượng được bầu làm Phó Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới. Khi Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước Tây Nam Bộ thành lập, Hòa thượng Hữu Nhem là cố vấn của Hội. Ngày 20/02/1964, Hòa thượng Hữu Nhem được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 10/7/1966, Hòa thượng Hữu Nhem hy sinh trong khi đang làm nhiệm vụ tại chùa Tam Hiệp, xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Hòa thượng Thạch Som (2011-2006) sớm dấn thân vào con đường đấu tranh cách mạng đầy gian khổ từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Dấu ấn đóng góp cho cách mạng là Hòa thượng Thạch Som đã lãnh đạo hơn 10 nghìn sư sãi và đồng bào Khmer Cầu Kè tham gia cuộc đấu tranh quy mô hơn 40 nghìn người vào tỉnh lỵ Trà Vinh nhân dịp lễ Dolta năm 1960. Năm 1961, Hòa thượng chỉ đạo cuộc đấu tranh chính trị “Tản cư Phật” khi quân đội Sài Gòn chiếm chùa Ô Mịch Cầu Kè với khẩu hiệu: “Chùa chỉ là chùa khi có Phật. Không còn Phật, chùa chỉ còn là đồn địch!”. Cuộc đấu tranh chính trị “Tản cư Phật” tại chùa Ô Mịch tạo ra tiếng vang lớn khắp các tỉnh Nam Bộ. Sau những sự kiện này, Hòa thượng Thạch Som bị địch bắt tra tấn dã man và được cách mạng giải cứu ra chiến khu hoạt động. Từ năm 1964, Hòa thượng giữ chức Chủ tịch Hội Đoàn kết Sư sãi Khmer Nam Bộ, Phó Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng khu Tây Nam Bộ, Ủy viên Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Một thời gian dài, Hòa thượng được phân công chỉ đạo phong trào sư sãi và phật tử ba tỉnh có đông đồng bào Khmer là Trà Vinh, Sóc Trăng và Bạc Liêu.
Ni trưởng Huỳnh Liên (1923-1987) thế danh Nguyễn Thị Trừ, đã tích cực vận động ni giới, phật tử cùng tham gia vào các hoạt động đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và sự trường tồn đạo pháp. Trong quá trình này, tịnh xá Ngọc Phương do Ni trưởng Huỳnh Liên xây dựng trở thành trung tâm của ni giới Khất sĩ, là đầu mối gắn liền với công cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tại vùng Sài Gòn - Gia Định trước năm 1975.
Sau ngày giải phóng miền Nam (1975), với tư cách Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc TP. Hồ Chí Minh, Ủy viên Hội Liên hiệp Phụ nữ Trung ương, Phó Chủ tịch Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước TP. Hồ Chí Minh, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP. Hồ Chí Minh, Đại biểu Quốc hội khóa VI (1976-1981),… Ni trưởng Huỳnh Liên tham gia nhiều hoạt động xã hội và tham dự nhiều diễn đàn vì hòa bình. Năm 1981, khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, Ni trưởng Huỳnh Liên giữ chức Ủy viên Kiểm soát Trung ương và Phó Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Hòa bình thế giới của TP. Hồ Chí Minh cho đến khi qua đời ngày 16/4/1987. Ni trưởng Huỳnh Liên là tấm gương bất khuất, là hiện thân của Đạo pháp và Dân tộc.
4. Kết luận
Như vậy, Phật giáo ở Nam Bộ đã tích cực tham gia Cách mạng Tháng Tám (1945) cuộc đấu tranh chống xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975). Phong trào đấu tranh của Phật giáo ở Nam Bộ chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ diễn ra mạnh mẽ, chứng minh tinh thần đấu tranh bất khuất của tăng ni, phật tử cùng với nhân dân Nam Bộ và Nhân dân cả nước giành độc lập, tự do cho đất nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bài báo là kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học cơ sở Đóng góp của các tôn giáo trong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam giai đoạn 1945-1975, mã đề tài HVDT/2025.01.
2. Ban Tôn giáo Chính phủ (1987), Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước khu Tây Nam Bộ, Tài liệu lưu trữ, Hà Nội.
3. Ban Tôn giáo Chính phủ (2022), Số liệu các tôn giáo ở Việt Nam - 2022, Hà Nội.
4. Lê Cung (2003), Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
5. Trần Văn Dũng (2021), Hòa thượng Thạch Som - tấm gương vì đạo pháp và dân tộc, Báo Trà Vinh - tháng 5.
6. Thích Giác Duyên (2014), Hệ phái Khất sĩ - 70 năm hình thành và phát triển, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
7. Thích Thiện Hoa (1970), 50 năm (1920-1970) chấn hưng Phật giáo Việt Nam, Sài Gòn.
8. Nguyễn Lang (2019), Việt Nam Phật giáo sử luận - Tập III, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.
9. Trần Hồng Liên (2000), Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam bộ - Việt Nam (từ thế kỷ XVII đến 1975), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
10. Trần Văn Giàu (2006), Tổng tập miền Nam giữ vững thành đồng, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội.
11. Ni giới hệ phái Khất sĩ (1994), Kỷ yếu Ni trưởng Thích Nữ Huỳnh Liên, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.
12. Ni trưởng Thích Nữ Huỳnh Liên (2012), Đóa Sen thiêng, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
13. Võ Minh Phát (2023), Đóng góp của Phật giáo với phong trào yêu nước ở Nam Bộ thời kỳ 1945-1975 qua một số nhân vật, Luận văn Thạc sĩ Tôn giáo học, Hà Nội.
14. Bạch Thanh Sang (2020), Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước vùng miền Tây Nam Bộ, Luận án Tiến sĩ Tôn giáo học, Hà Nội.