Làng Mơhra – Đáp còn giữ được nhiều giá trị văn hóa đặc trưng của người Ba na ở vùng Đông Trường SơnTừ khóa: Du lịch cộng đồng; Tây Nguyên; Ba na; Bảo tồn văn hóa.
1. Khái quát về làng Mơhra - Đáp
Trong kế hoạch phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Gia Lai đến năm 2030, năm 2024, làng Mơhra - Đáp được lựa chọn triển khai thực hiện bởi nơi đây còn lưu giữ nguyên vẹn bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào Ba na.
Tên gọi “Mơhra” mang ý nghĩa “làng mới” gắn liề n với lịch sử phát triển của làng qua các giai đoạn chia tách, sáp nhập. Trước đây, làng có tên là Mơr Kơ Tu, được lập nên bởi ông Bok Mơ. Năm 1990, Mơr Kơ Tu chia thành hai làng Mơhven và Mơhra. Năm 2019, làng được sáp nhập thành Mơhra - Đáp.
Người Ba na là nhóm dân tộc chính tại làng, chiếm đến 96% dân số. Họ sống dựa vào nông nghiệp nương rẫy và chăn nuôi trâu, bò, gia cầm. Dù hiện nay làng chuyên canh cây mía, nhưng người dân vẫn thường giữ lại một mảnh rẫy để trồng xen bông, lúa, bo bo phục vụ nhu cầu hàng ngày và làm rượu ghè. Ngoài nông nghiệp, người Ba na còn nổi tiếng với sự khéo léo trong các nghề thủ công truyề n thống, như: đan lát, dệt thổ cẩm, chế tác nông cụ, làm rượu ghè, những sản phẩm không chỉ phục vụ đời sống hằng ngày mà còn là biểu tượng văn hóa, đóng vai trò quan trọng trong các nghi lễ cộng đồng.
2. Thực tiễn bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào Ba na tại làng Mơhra - Đáp
Trước tiên, về công cụ lao động và kỹ thuật canh tác, do sinh sống trên những địa hình khác nhau nên người Ba na có nhiề u loại hình canh tác, nhưng phổ biến nhất hiện nay vẫn là canh tác rẫy và ruộng. Trong nề n kinh tế truyề n thống, rẫy canh tác theo chu kỳ khép kín. Mỗi hộ gia đình thường có một diện tích đất rừng đủ lớn để họ quay vòng sản xuất.
Kỹ thuật canh tác của người Ba na còn thấp, công cụ lao động đơn giản. Họ vẫn chỉ dùng những chiếc rìu, rựa để phát, dọn rẫy; chọc lỗ gieo hạt. Việc thu hoạch lúa rẫy đến nay vẫn phổ biến cách suốt lúa bằng tay. Năng suất cây trồng phụ thuộc nhiề u vào điề u kiện tự nhiên.
Để có thêm lương thực, thực phẩm, thì săn bắt, hái lượm là việc làm rất phổ biến. Trước kia, người Ba na ở Mơhra - Đáp có hai hình thức săn bắn là săn tập thể và săn cá nhân. Hiện nay, một phần do diện tích rừng ngày càng thu hẹp, những con thú lớn cần huy động một số lượng người đông đảo mới có thể săn bắn không có nhiều. Bên cạnh đó, những vũ khí đi săn hiện đại không cần nhiều người vẫn có khả năng bắn được thú lớn nên hình thức săn tập thể gần như không còn phổ biến nữa.
Nghề đánh bắt cá vẫn còn trong cộng đồng người Ba na với những dụng cụ đơn giản như nơm, đó... Họ đánh bắt những thủy sản nhỏ như cá, tôm, cua... ở sông, suối.
Thứ hai, về nghề truyền thống, trong đời sống của đồng bào Ba na nói chung và trong công việc hàng ngày của người phụ nữ nói riêng, chiếc khung dệt trở thành một nét văn hóa truyền thống độc đáo nhưng cũng rất khác biệt so với các vùng, miền khác.
Trong quá khứ, đã có thời người Ba na dùng vỏ cây sui làm đồ mặc, làm chăn chống lạnh. Về sau, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nghề dệt ra đời, do phụ nữ đảm nhiệm, sản phẩm là những tấm đắp, trang phục, túi xách tay. Nguyên liệu dệt là sợi cây gai, lanh hoặc bông. Công cụ trong quá trình dệt vải chủ yếu gồm: cán bật bông, xa quay để se sợi và những bộ phận rời tham gia vào việc dệt.
Người phụ nữ Ba na không dệt trên khung cửi cố định. Công cụ dệt của họ là những bộ phận rời đơn giản. Khi dệt, họ bắt buộc phải ngồi trên nền đất hoặc nền nhà, hai chân duỗi thẳng đạp lên một thanh gỗ nằm ngang để căng mặt sợi trên khung dệt. Tất cả các đầu khung dệt được buộc vào chỗ chắc chắn, như: cột nhà, gốc cây, người phụ nữ dùng chân và lưng của mình để căng dàn sợi.
Khi hoàn thành sản phẩm dệt thì các thanh công cụ đã tham gia vào việc giăng sợi được tháo ra thành những bộ phận rời rạc. Đây chính là điểm khác biệt nhất giữa khung dệt của đồng bào Ba na với các loại khung dệt của dân tộc Mường, Thái, Chăm… Sự linh hoạt này giúp người phụ nữ Ba na không bị bó hẹp địa điểm dệt vải. Họ có thể dệt trên nhà sàn, cũng có khi dưới chân nhà sàn, có lúc dệt giữa sân, thậm chí trên rẫy, nơi có bóng cây mát mẻ vào buổi trưa. Mỗi sản phẩm làm ra mang đậm vẻ đẹp thiên nhiên và tình yêu văn hoá dân tộc, đồng thời thể hiện sự cần cù, khéo léo của người phụ nữ Ba na trong mọi hoàn cảnh.
Một điểm khác biệt nữa trên khung dệt của người Ba na so với các dân tộc ở phía Bắc và miền Trung, Nam Bộ, đó là cách giăng sợi và các bố cục hoa văn. Nếu như các dân tộc thiểu số ở những vùng khác giăng sợi theo một đường thẳng trên mặt trên của khung dệt và hoa văn được bố trí đều đặn, chiều dài tấm vải không bị giới hạn, thì ngược lại, khung dệt của đồng bào Ba na hoàn toàn khác. Đồng bào giăng sợi trên khung thành hai vòng trên, dưới, chiều dài khoảng chừng 3m. Như vậy, chiều dài tấm vải chỉ trong giới hạn 6m. Nếu như các khung dệt khác chỉ dệt ở mặt trên của khung, thì với cách giăng sợi của đồng bào Ba na, họ lại dệt xoay dần mặt trên và mặt dưới. Đây là một cách dệt rất độc đáo từ khung dệt di động của đồng bào Ba na.
Trong trang phục truyền thống của người Ba na, nam giới mặc áo chui đầu, cổ xẻ, cộc tay, thân áo có đường trang trí sọc đỏ chạy ngang, gấu áo màu trắng. Họ thường mang khố hình chữ T theo lối quấn ngang dưới bụng luồn qua háng rồi che một phần mông. Phụ nữ Ba na ưa để tóc ngang vai, chủ yếu mặc áo chui đầu, ngắn thân và váy. Chiếc áo của đồng bào Ba na đôi lúc không có tay áo, hoặc có tay chỉ để trang trí tạo điểm nhấn cho chiếc áo. Bố cục trên áo váy của người Ba na theo nguyên tắc dải băng theo chiều ngang thân người. Người Ba na dành phần chính ở giữa thân áo và váy với diện tích hơn một nửa áo trang trí chủ yếu hoa văn với các màu trắng đỏ trên nền chàm.
Thứ ba, về cồng chiêng, nhắc đến làng Mơhra, không thể không nhắc đến cồng chiêng, bởi nơi đây được biết đến như một “cánh chim đầu đàn” của địa phương về nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Đối với người Ba na, không gian văn hóa cồng chiêng là linh hồn của đời sống tinh thần. Các bài cồng chiêng không đơn thuần chỉ là âm nhạc mà còn là lời kể về lịch sử và truyền thống của dân tộc, là một linh khí không thể thiếu trong cuộc sống. Vai trò của cồng chiêng trong nghi lễ, lễ hội của người Ba na tương tự như vai trò của khói nhang trong nghi lễ, lễ hội của người Việt. Âm thanh cồng chiêng vang xa là phương tiện giúp con người giao tiếp với thần linh, cũng là phương tiện nhanh nhất để chuyển tải thông tin giữa các buôn làng. Nghe tiếng chiêng, người trong làng, trong vùng sẽ hiểu ở phía có tiếng chiêng đang diễn ra điều gì để chuẩn bị đến chia buồn hay tham gia vào hoạt động vui chơi nào đó.
Cồng chiêng cũng được coi là một tài sản quý. Theo quan niệm của đồng bào, người giàu có trong cộng đồng không phải là người có nhiều vàng, nhiều bạc mà phải có nhiều ché, nhiều chiêng. Trước khi tiền tệ phổ biến ở khu vực này, cồng chiêng đã từng được coi là vật ngang giá trong các hoạt động trao đổi.
Bộ cồng chiêng sau khi mua về, người thợ chỉnh chiêng chuyên nghiệp sẽ gò chỉnh lại để có âm thanh phù hợp. Số người chỉnh được chiêng rất ít. Người ta tin rằng, chỉ những người được “Yang” cho âm thanh của cồng chiêng mới làm được điều này. Hiện tại, làng Mơhra - Đáp có 05 đội cồng chiêng, gồm: 02 đội người lớn, 01 đội phụ nữ và 02 đội cồng chiêng trẻ em. Các đội cồng chiêng của làng không chỉ biểu diễn trong các nghi lễ truyền thống mà còn đại diện cho xã tham gia nhiều sự kiện văn hóa lớn, mang lại niềm tự hào cho cộng đồng.
Bên cạnh tiếng chiêng vang xa, ở làng Mơhra - Đáp, tiếng trống cũng thôi thúc lòng người từ những dịp lễ hội đến công việc riêng của cá nhân, gia đình và cộng đồng. Trống ở đây có những điểm khác biệt so với trống nơi khác. Nếu như đồng bào ở các vùng khác làm trống từ nhiều miếng gỗ ghép lại, mặt trống được bịt bằng da thì ngược lại, ở đây, trống được làm công phu và cách sử dụng cũng rất độc đáo. Những chàng trai lực lưỡng, khỏe mạnh vào tận rừng sâu tìm cây. Sau khi đốn được đoạn thân cây to nhất chuyển về, người ta dùng rìu vát dần và tìm tư thế đục khoét lỗ, sau đó thổi lửa vào đốt dần cho rỗng ruột. Mặt trống phải làm từ da của những con vật to lớn như voi, trâu...
Thứ tư, về nghề đan lát gùi, hầu như người đàn ông nào trong làng cũng biết chẻ nan, vót nan để đan lát. Đó là tiêu chuẩn có tính chất tập quán của những người nam giới đã trưởng thành. Ngay từ thuở thiếu niên, họ bắt đầu tập đan những vật dụng đơn giản, để dần dần lớn lên, có thể đan những hoa văn xinh xắn và phức tạp. Họ thường tập trung ở nhà rông, đan đủ các loại dụng cụ, từ nong, nia, sọt, gùi, bồ đựng thóc… đến các loại chiếu, lưới đánh cá, lưới bẫy chim...
Mỗi năm, trước mùa gặt, người ta bắt đầu đan gùi. Công việc rất tỷ mỉ, phải có đủ vật liệu là tre, lồ ô, mây, gỗ gòn. Đầu tiên, họ vót tre và mây thành những sợi nhỏ và đẽo gỗ tròn thành những tấm mõng. Họ đan đáy gùi trước rồi bẻ cong lên mà đan thân gùi sau. Đáy đan nong hai, thân đan nong một. Trên miệng gùi nút dây mây rất kỹ. Dưới đế gùi có bốn tấm gỗ gòn chắc chắn. Nếu là gùi vùng nước, họ cột thêm bốn cái chân. Sau cùng, cột thêm dây để đeo.
Đồng bào đan rất nhiều gùi. Bước chân vào bất cứ căn nhà nào trong làng cũng thấy những chiếc gùi nổi bật trong số đồ gia dụng của chủ nhân. Trước kia, biết đan gùi là một trong những tiêu chuẩn không thể thiếu của một chàng trai Ba na để được các cô gái chọn làm chồng; cũng như các thiếu nữ, nếu muốn được nhiều chàng trai để ý thì phải biết dệt những chiếc váy áo đẹp.
Tuỳ vào mục đích sử dụng mà người ta có cách vót nan và đan thành những chiếc gùi lớn, nhỏ, có kiểu dáng và hoa văn khác nhau. Gùi hoa văn là loại được đan để đựng đồ vật quý trong nhà, như: váy, áo, đồ trang sức… Gùi có hình ống tròn, miệng lớn, thon vào ở phần giữa thân và hơi phình ra ở phần chân. Thân gùi có chiều cao từ 60-70cm; đường kính miệng từ 30-40cm; lớp ngoài cùng được trang trí các dải hoa văn rất công phu. Để hoàn thành một chiếc gùi như thế, một người thợ lành nghề phải miệt mài cả tháng trời. Gùi hoa văn là loại đòi hỏi kỹ thuật cao và đẹp nhất trong các sản phẩm đan lát của người dân làng Mơhra - Đáp. Gùi đi rẫy là loại gùi đan không đòi hỏi kỹ thuật cao nhưng phải đảm bảo bền chắc. Những chiếc gùi này về cơ bản không có hoa văn, được dùng để đựng lúa, củ, rau, quả… vận chuyển từ rẫy về nhà hoặc đơn thuần chỉ để đựng thức ăn và công cụ lao động khi đi rẫy. Hầu hết đàn ông đều làm được gùi này.
Thứ năm, về lễ hội truyền thống, đặc biệt những lễ hội có hiến sinh trâu là môi trường duy nhất mà ở đó, tất cả những tinh hoa trong văn hóa vật thể và phi vật thể của tộc người được thể hiện nên rất được chú trọng bảo tồn. Đến lễ hội, ta sẽ được nghe tiếng chiêng ngân vang từ bộ cồng chiêng cổ nhất, có âm thanh hay nhất làng; được xem những thiếu nữ xinh đẹp, uyển chuyển bước trong vòng xoang theo nhịp trống chiêng; được chiêm ngưỡng những giàn cúng (cột gơng) - không gian tâm linh quan trọng trong các lễ hội truyền thống với những tua đan bằng tre nứa, rực rỡ sắc màu, vút lên, chao bay giữa trời cao nguyên; được thấy những bộ trang phục và đồ trang sức đẹp nhất, quý nhất; được say trong men rượu cần ấm nồng; được thỏa sức tìm hiểu tập quán ẩm thực... Trong các lễ hội, người Ba na bộc lộ mình một cách giản dị, chân tình, những tài năng nghệ thuật, tinh thần thượng võ… của các trai tài, gái giỏi; lòng hiếu khách của đồng bào; những già làng hết lòng thành kính trước thần linh khi đọc lời khấn mời Yang cùng về ăn trâu, dự hội…
Lễ hội có hiến sinh trâu thường thu hút đông đảo mọi người cùng tham dự, vui thâu đêm suốt sáng bên ghè rượu cần thơm ngon, bên gùi cơm lam nóng hổi và những xâu thịt nướng thơm phức. Dân làng kéo đến vây quanh, khua chiêng múa trống rồi múa hát, cười nói. Người ăn cứ ăn, người uống cứ uống, ai kể khan cứ kể, ai múa hát cứ múa hát… nguồn vui kéo dài như bất tận.
Thứ sáu, về âm nhạc, sống giữa núi rừng, từ xa xưa, người Ba na đã biết sử dụng cây lồ ô, nứa, tre hay từ quả bầu khô để tạo nên những nhạc cụ dân tộc mang đậm nét văn hóa riêng có của vùng đất này như: đàn T’rưng, đàn Ting Ning, đàn K’ni,… Nổi tiếng nhất là đàn T’rưng. Từ ống nứa, những nghệ nhân tài hoa đã lựa chọn, sắp xếp, cắt gọt khéo léo để tạo thành những thang âm réo rắt, trong trẻo khiến người nghe như đang lạc vào suối rừng bao la.
Thứ bảy, nghệ thuật làm ché. Ché là vật dụng để đựng lương thực, nông sản và rượu cần của đồng bào. Song, vượt ra ngoài phạm vi đồ dùng sinh hoạt thông thường, các loại ché của đồng bào còn mang những giá trị văn hóa, tâm linh đặc biệt. Người Ba na chưa phát triển kỹ nghệ làm gốm, nhưng sử dụng phổ biến đồ gốm. Những chiếc ghè, chóe là đồ vật phổ biến nhất, xuất hiện nhiều nhất trong các lễ hội, lễ nghi, từ phạm vi gia đình đến cộng đồng, các nghi lễ trong vòng đời từ khi sinh ra, trưởng thành cho đến lúc mất đi, góp phần làm nên sự phong phú, đặc sắc cho không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
3. Một số kinh nghiệm từ mô hình làng Mơhra - Đáp
Làng Mơhra - Đáp đang từng bước phát triển du lịch cộng đồng dựa trên lợi thế cảnh quan tự nhiên và bản sắc văn hóa truyền thống. Vài năm gần đây, lượng khách du lịch có xu hướng tăng, nhất là sau khi làng được công nhận OCOP 3 sao về du lịch cộng đồng. Du khách chủ yếu là các đoàn trải nghiệm văn hóa, nhiếp ảnh gia, khách nội địa yêu thích không gian Tây Nguyên và các tour khám phá Đông Trường Sơn. Tuy nhiên, quy mô du lịch còn nhỏ, hạ tầng và kỹ năng làm du lịch cộng đồng vẫn cần tiếp tục được đầu tư, hoàn thiện để phát triển bền vững. Song từ thực tiễn tổ chức du lịch cộng đồng ở làng Mơhra - Đáp, có thể rút ra một số kinh nghiệm cho chiến lược phát triển du lịch ở vùng Tây Nguyên.
Kinh nghiệm đầu tiên và quan trọng nhất là phải xác lập đúng vị thế chủ thể của cộng đồng. Người Ba na không thể chỉ đứng ở “tuyến sau” với vai trò múa hát hay nấu ăn phục vụ khách du lịch, mà phải tham gia trực tiếp vào quá trình hoạch định, quản lý và hưởng lợi. Khi quyền lợi gắn chặt với trách nhiệm, văn hóa tự nhiên trở thành động lực bảo tồn: nhà rông được sửa đội cồng chiêng được duy trì, nghề đan lát, dệt thổ cẩm có “đất sống”, bởi đó là kế sinh nhai, không chỉ để trưng bày. Thực tế cho thấy, nơi nào người dân làm chủ, nơi đó du lịch vận hành bền bỉ; ngược lại, áp đặt từ bên ngoài dễ dẫn đến hình thức sớm nở chóng tàn.
Kinh nghiệm thứ hai là phát triển phải dựa trên vốn gốc văn hóa, không đánh đổi bản sắc lấy lợi nhuận ngắn hạn. Du khách tìm đến Mơhra - Đáp để trải nghiệm đời sống của ngươi Ba na một cách chân thực nhất mà không phải là sân khấu hóa. Mọi sự tô vẽ, sao chép, hay biến lễ nghi thành trò diễn đều làm suy giảm giá trị cốt lõi. Du lịch cộng đồng ở làng Mơhra - Đáp, vì thế, cần được nhìn như một quá trình bảo tồn “động”, nơi văn hóa tiếp tục sống trong đời thường, chứ không bị đóng khung trong tư duy bảo tồn cứng nhắc.
Kinh nghiệm thứ ba liên quan đến quản trị và liên kết. Vai trò “bà đỡ” của chính quyền và sự đồng hành của doanh nghiệp lữ hành là điều kiện cần để hình thành chuỗi giá trị bền vững. Chính quyền địa phương đã dành nguồn vốn đầu tư 14,5 tỷ đồng, trong đó, có 11 tỷ đồng để đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng, bao gồm đường giao thông, khu vực nhà rông truyền thống, khu văn hóa trung tâm và bãi đậu xe, phục dựng các lễ hội truyền thống; 3,5 tỷ đồng còn lại tập trung vào các hoạt động đào tạo, tập huấn du lịch cho bà con và bảo tồn nghề truyền thống, như: đan lát, dệt vải, đảm bảo gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa của người Ba na. Đó là những sự đầu tư rất cần thiết để mô hình du lịch cộng đồng làng Mơhra - Đáp vận hành theo hướng chuyên nghiệp, bền vững, tránh tình trạng tự phát, mạnh ai nấy làm.
4. Kết luận
Thực tiễn và kinh nghiệm từ Mơhra - Đáp cho thấy, chỉ khi kết hợp hài hòa giữa nội lực văn hóa và sự hỗ trợ về thể chế, giữa truyền thống và quản trị hiện đại, du lịch cộng đồng mới thực sự trở thành đòn bẩy sinh kế, giúp làng bản dân tộc thiểu số phát triển bền vững mà vẫn giữ được cốt cách riêng. Những kinh nghiệm rút ra từ làng Mơhra - Đáp rất cần được tham khảo để thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng ở Tây Nguyên.
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Hà Vi, Bùi Tiến Dũng (2024), Du lịch cộng đồng làng Mơhra-Đáp - Nơi bản sắc văn hóa Bahnar được gìn giữ và phát huy, https://baogialai.com.vn/du-lich-cong dong-lang-mo-hra-dap-noi-ban-sac-van-hoa-bahnar-duoc gin-giu-va-phat-huy-post302441.html
2. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai (2025), Bài thuyết minh Làng Du lịch cộng đồng Mơhra - Đáp, xã Tơ Tung.