Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Tìm hiểu về quyền chính trị của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Hoàng Thu - 21:04, 12/10/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Quyền chính trị là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số, bảo đảm quyền chính trị không chỉ thể hiện nguyên tắc bình đẳng dân tộc mà còn là điều kiện quan trọng để đồng bào tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội và quyết định các vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống của mình. Bài viết góp phần tham gia tìm hiểu cơ sở lý luận và pháp lý về quyền chính trị của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo đảm quyền chính trị, trong đó có quyền bầu cử, ứng cử cho người dân tộc thiểu số
Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo đảm quyền chính trị, trong đó có quyền bầu cử, ứng cử cho người dân tộc thiểu số

Từ khóa: Quyền chính trị; Dân tộc thiểu số; Quyền con người.

1. Khái niệm quyền chính trị

Quyền chính trị là quyền công dân được tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào đời sống chính trị, quản lý nhà nước và xã hội, giúp công dân thực hiện vai trò làm chủ trong một nhà nước dân chủ. Quyền chính trị bao gồm quyền bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý nhà nước và xã hội, quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin, quyền hội họp, quyền kiến nghị và giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền. Cùng với tiến trình lịch sử, nội hàm khái niệm quyền chính trị được mở rộng hơn, bao gồm cả việc tham gia cùng Nhà nước quyết định các vấn đề chính trị trọng đại của đất nước, như: góp ý xây dựng chính sách; trưng cầu ý dân...

“Quyền của các dân tộc thiểu số (DTTS) nhìn chung được chia thành hai nhóm: nhóm các quyền cá nhân thông thường áp dụng với từng thành viên của mỗi dân tộc và nhóm các quyền tập thể áp dụng cho cộng đồng các DTTS”[2]. Như vậy, quyền chính trị của người DTTS được chia thành 2 nhóm: Quyền với tư cách cá nhân của người DTTS và quyền của một tộc người trong quốc gia đa dân tộc. Đối với đồng bào DTTS, quyền chính trị có vai trò rất quan trọng trong đảm bảo quyền con người, quyền công dân, là cơ chế để bảo vệ lợi ích chính đáng của cộng đồng dân tộc mình trong đời sống xã hội, đồng thời là điều kiện tiên quyết để thực hiện bình đẳng dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

2. Cơ sở pháp lý bảo đảm quyền chính trị của người dân tộc thiểu số

Trên thế giới, quyền chính trị được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp quốc với các nội dung quy định về quyền tự do tư tưởng; tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm (bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia); quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hòa bình; quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình, hoặc trực tiếp hoặc qua các đại biểu do mình tự do lựa chọn; quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước; ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia, ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự.

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 có các quy định trực tiếp về quyền chính trị: Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng; quyền tự do ngôn luận; Quyền hội họp hòa bình, quyền tự do lập hội với những người khác; Bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín…

Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965, Việt Nam tham gia năm 1982 quy định các quốc gia thành viên cam kết cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hay sắc tộc trong việc hưởng những quyền về chính trị, đặc biệt là quyền về bầu cử - được đi bầu và được ứng cử trên cơ sở phổ thông đầu phiếu, quyền được tham gia vào chính phủ cũng như các hoạt động công cộng khác ở mọi cấp và được bình đẳng trong tiếp cận với các dịch vụ công cộng.

Tại Việt Nam, quyền chính trị của công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật (Khoản 1 Điều 14, Hiến pháp 2013). Ở góc độ cá nhân, là công dân của nước Việt Nam, người DTTS được hưởng quyền chính trị được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, gồm: quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình (Điều 25); quyền bầu cử khi đủ mười tám tuổi trở lên và quyền ứng cử khi đủ hai mươi mốt tuổi trở lên vào Quốc hội, Hội đồng Nhân dân (Điều 27); quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước (Điều 28); quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29); quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Điều 30), đảm bảo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị (Điều 16 Hiến pháp năm 2013).

Quyền chính trị của đồng bào DTTS còn được bảo đảm thông qua các quy định về chính sách dân tộc trong Hiến pháp năm 2013. Khoản 1 Điều 5 xác định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam” đã khẳng định vị thế của đồng bào DTTS với tư cách là chủ thể của quốc gia; đồng thời nhấn mạnh nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc trong việc thực hiện quyền làm chủ và các quyền chính trị. Khoản 4 Điều 5 quy định: “Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các DTTS phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”. Đây là cơ sở để Nhà nước xây dựng và triển khai các chính sách, pháp luật liên quan đến quyền chính trị đối với đồng bào DTTS.

Điều 75 Hiến pháp năm 2013 còn khẳng định vai trò của Hội đồng Dân tộc trong cơ cấu tổ chức của Quốc hội. Hội đồng Dân tộc có nhiệm vụ nghiên cứu, kiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc; giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi và vùng đồng bào DTTS; thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án khác và báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Hội đồng. Chủ tịch Hội đồng Dân tộc được mời tham dự phiên họp của Chính phủ bàn về việc thực hiện chính sách dân tộc. Khi ban hành quy định thực hiện chính sách dân tộc, Chính phủ phải lấy ý kiến của Hội đồng Dân tộc.

Ở góc độ quyền của một tộc người trong một quốc gia đa dân tộc, quyền chính trị của đồng bào DTTS gồm quyền có tỷ lệ đại diện hợp lý trong các thiết chế chính trị, bộ máy nhà nước, đặc biệt là cơ quan dân cử là Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp; quyền được quyết định hoặc tham gia thảo luận các vấn đề liên quan trực tiếp đến cộng đồng tộc người của mình với mục đích là bảo đảm dân chủ, bảo vệ lợi ích của cộng đồng DTTS, giữ gìn bản sắc văn hoá của cộng đồng dân tộc mình đặt trong sự hài hoà và gắn liền với lợi ích của quốc gia. Quyền chính trị của đồng bào DTTS ở khía cạnh này chính là đảm bảo quyền làm chủ của các dân tộc đối với đất nước và sự bình đẳng giữa các DTTS với dân tộc đa số sống trên cùng lãnh thổ quốc gia như tinh thần tại Khoản 1 và khoản 4 Điều 5 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận.

3. Thực hiện quyền chính trị của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Văn kiện Đại hội XIV (2026) của Đảng yêu cầu: “Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có cơ chế phù hợp, thuận lợi, tin cậy để Nhân dân tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định đường lối, chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước; nêu cao trách nhiệm tiếp thu, trách nhiệm thông tin, giải trình của các cơ quan Đảng, Nhà nước đối với những kiến nghị, đề xuất của Nhân dân; thực hiện đầy đủ các quyền dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở, chống các biểu hiện dân chủ hình thức”[1]. Từ quan điểm của Đảng và các quy định của Hiến pháp, quyền chính trị của người DTTS ở nước ta được thể hiện cụ thể trong nhiều văn bản luật.

Thứ nhất, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân

Khoản 2 Điều 8 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân năm 2015 quy định số lượng người DTTS được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, bảo đảm có ít nhất 18% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là người DTTS. Điều 9 - Dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng Nhân dân trong Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân năm 2025 quy định số lượng người ứng cử là người DTTS được xác định phù hợp với đặc điểm, cơ cấu dân tộc và tình hình cụ thể của từng địa phương. Những quy định này nhằm đảm bảo gia tăng cơ hội để người DTTS trở thành đại biểu trong các cơ quan dân cử, giúp đồng bào tăng tiếng nói trong quá trình lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng liên quan đến DTTS, đồng thời nâng cao tính đại diện và tính bao trùm của nền dân chủ.

Kết quả cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 cho thấy trong 500 người trúng cử đại biểu Quốc hội, có 76 đại biểu là người DTTS, chiếm 15,2%. Đối với Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh, đại biểu người DTTS có 413 người, đạt 16,18%; cấp xã có 14.788 người, đạt 20,41%. Họ đại diện cho cử tri người DTTS quyết định biện pháp thực hiện chính sách dân tộc ở cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở Trung ương và địa phương.

Thứ hai, quyền tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định đường lối, chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước thông qua cơ chế dân chủ đại diện, thể hiện trong Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức Chính phủ

Như đã nêu, cử tri người DTTS thực hiện quyền chính trị bầu ra đại biểu Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình, thay mặt mình tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định đường lối, chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước, của địa phương thông qua cơ chế dân chủ đại diện.

Ở Quốc hội, đó là các nhiệm vụ làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp; làm luật, sửa đổi luật; quyết định chính sách dân tộc của Nhà nước; quyết định trưng cầu dân ý; thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật, các nghị quyết của Quốc hội... Căn cứ vào năng lực chuyên môn, yêu cầu công tác và khả năng bố trí thời gian tham gia đầy đủ hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội còn có thể đăng ký tham gia làm thành viên của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội để thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng. Các đại biểu không phải là thành viên của Hội đồng Dân tộc vẫn có quyền đăng ký tham dự phiên họp do Hội đồng tổ chức để thảo luận những nội dung mà đại biểu quan tâm. Những quy định này cho thấy Hội đồng Dân tộc là thiết chế quan trọng hỗ trợ Quốc hội và các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm bảo đảm và bảo vệ quyền chính trị của đồng bào DTTS, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề dân tộc và quyền lợi của các cộng đồng DTTS. Đại biểu Quốc hội còn có quyền tham dự kỳ họp Hội đồng Nhân dân các cấp nơi mình thực hiện nhiệm vụ đại biểu, có quyền tham gia ý kiến vào các vấn đề quản lý nhà nước, vấn đề liên quan đến đời sống của đồng bào DTTS…

Bên cạnh cơ chế dân chủ đại diện, đồng bào DTTS trực tiếp thực hiện quyền chính trị của mình thông qua các phương thức giám sát hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội bằng việc theo dõi nội dung kỳ họp Quốc hội được truyền hình, phát thanh trực tiếp, tham gia hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp công dân của đại biểu Quốc hội; đóng góp ý kiến vào các dự án luật của Quốc hội được đăng tải công khai trên các phương tiện truyền thông; biểu quyết các vấn đề của đất nước khi Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân…

Trong Luật Tổ chức Chính phủ 2025, tại điểm b, khoản 1 Điều 10 quy định Chính phủ phải trình Quốc hội thông qua dự án luật hoặc dự thảo nghị quyết về chính sách dân tộc của Nhà nước. Khoản 3 Điều 26 nêu rõ khi ban hành quy định thực hiện chính sách dân tộc, Chính phủ phải lấy ý kiến của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội. Khoản 2 Điều 29: Chính phủ mời Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội tham dự phiên họp của Chính phủ khi bàn về việc thực hiện chính sách dân tộc.

Những quy định này khẳng định vai trò của Quốc hội trong quyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của đồng bào DTTS. Quy định Chính phủ bắt buộc phải lấy ý kiến Hội đồng Dân tộc trước khi ban hành các quy định về chính sách dân tộc, mời Chủ tịch Hội đồng Dân tộc tham dự các phiên họp của Chính phủ khi thảo luận nội dung này đã tạo ra cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp, góp phần bảo đảm các chính sách dân tộc được xây dựng trên cơ sở tham vấn đầy đủ, phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của đồng bào DTTS, tăng cường tính đại diện và sự tham gia của đồng bào vào quá trình hoạch định chính sách. Xét dưới góc độ quyền chính trị, đây là một bảo đảm pháp lý quan trọng nhằm hiện thực hóa quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của các DTTS thông qua các thiết chế đại diện của mình.

Ở địa phương, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025 cũng có các quy định để đảm bảo quyền chính trị của đồng bào DTTS. Khoản 10 Điều 17 quy định Chủ tịch UBND tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn chỉ đạo việc thực hiện các chính sách về dân tộc ở địa phương; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào DTTS ở địa phương theo quy định của pháp luật. Điểm b khoản 6 Điều 21 quy định Hội đồng Nhân dân xã có nhiệm vụ, quyền hạn quyết định biện pháp thực hiện chính sách dân tộc; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào DTTS trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Khoản 8 Điều 23, Chủ tịch UBND xã có nhiệm vụ quyền hạn chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chính sách về dân tộc; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào DTTS trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Điểm a, khoản 3 Điều 29 quy định Hội đồng Nhân dân ở tỉnh, thành phố có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số được thành lập Ban Dân tộc (nay là Sở Dân tộc Tôn giáo).

Thứ ba, thực hiện quyền giám sát Ngoài ra, Luật Mặt trận Tổ quốc năm 2015, sửa đổi năm 2025 xác định Mặt trận Tổ quốc là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các thành phần, tầng lớp trong xã hội, trong đó có các DTTS. Với vai trò đó, Mặt trận Tổ quốc là kênh thể hiện tiếng nói, nguyện vọng đồng bào DTTS tới các cơ quan chính quyền, đồng thời thông qua MTTQ, đồng bào DTTS thực hiện quyền giám sát hoạt động của Nhà nước, phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

4. Kết luận

Qua nghiên cứu cho thấy, quyền chính trị của người DTTS đã được ghi nhận và bảo đảm toàn diện trong hệ thống pháp luật Việt Nam, từ Hiến pháp năm 2013 đến các luật chuyên ngành và các chính sách dân tộc. Trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát huy dân chủ ở cơ sở, bảo đảm và thúc đẩy quyền chính trị của người DTTS không chỉ góp phần bảo vệ quyền con người mà còn củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường sự đồng thuận xã hội và tạo động lực cho sự phát triển bền vững của đất nước .

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tập 1, tr.121.

2. Đoàn Minh Huấn (2018), Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc ở nước ta, https://mattran.org.vn/hoi-dong-tu-van/bao-dam quyen-cua-cac-dan-toc-thieu-so-va-dau-tranh-chong-loi-dung-van-de-dan-toc-o-nuoc-ta-11006.html.

3. Ngô Trung Thành (2025), Quan điểm, chính sách cơ bản của Đảng, Nhà nước ta về quyền dân sự, chính trị và tư pháp đối với đồng bào dân tộc thiểu số, Hội thảo khoa học “Chính sách, pháp luật về quyền dân sự, chính trị và tư pháp đối với đồng bào dân tộc thiểu số”.

4. Trường Đại học Luật Hà Nội (2025), Chuyên đề “Chính sách, pháp luật về quyền chính trị đối với đồng bào dân tộc thiểu số - Thực trạng và đề xuất cho dự Luật về lĩnh vực dân tộc”, Hội thảo khoa học “Chính sách, pháp luật về quyền dân sự, chính trị và tư pháp đối với đồng bào dân tộc thiểu số”.