Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Thực thi chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Lan Anh - Thảo Nguyên - 16:04, 28/07/2026

(DTTG) - Việt Nam nằm ở khu vực châu Á, là nơi giao lưu giữa các nền văn hóa Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc và sau này là các nền văn minh phương Tây. Với vị trí địa lý hội tụ đồi núi, đồng bằng, sông ngòi, biển cả trải dài khắp đất nước, khí hậu thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nhưng cũng là nước chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh. Điều kiện đó đã hình thành nên hệ thống tín ngưỡng phong phú của người Việt mong cầu cho đất nước bình an, mưa thuận gió hòa cuộc sống ấm no. Quá trình phát triển với sự giao lưu tiếp biến văn hóa, Việt Nam đã hình thành thêm một hệ thống các tôn giáo ở khắp các vùng, miền, phản ánh sự phong phú, đa dạng nhu cầu tâm linh của người Việt Nam trong truyền thống cũng như hiện tại. Là quốc gia đa dạng tôn giáo nên Việt Nam đã sớm hình thành chủ trương, chính sách, pháp luật để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, ngăn chặn những hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật làm phương hại đến đời sống của người dân và ổn định xã hội của đất nước.

Từ khóa: Tín ngưỡng, tôn giáo; Chủ trương, chính sách, pháp luật; Công tác tín ngưỡng, tôn giáo; Việt Nam

1. Đặt vấn đề

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa tín ngưỡng, tôn giáo với đời sống tâm linh phong phú, đa dạng, được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử lâu dài cùng với sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các nền văn minh phương Đông và phương Tây. Tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ đáp ứng nhu cầu tinh thần của một bộ phận lớn Nhân dân mà còn có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa, xã hội, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán quan điểm tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; đồng thời không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý cho các hoạt độngtín ngưỡng, tôn giáo diễn ra ổn định, đúng quy định, phát huy các giá trị tíchcực của tôn giáo trong đời sống xã hội. Đặc biệt, việc ban hành Hiến pháp 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 và các văn bảnhướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo đảm quyền tự dotín ngưỡng, tôn giáo, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Việc xây dựng và thực thi hiệu quả chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người
Việc xây dựng và thực thi hiệu quả chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người

Thực tiễn cho thấy, cùng với những kết quả đạt được trong việc thực thi chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cũng đang xuất hiện những xu hướng mới và đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác quản lý nhà nước, công tác vận động quần chúng và phát huy nguồn lực tôn giáo phục vụ phát triển đất nước. Vì vậy, việc đánh giá việc thực thi chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, góp phần làm rõ những thành tựu đã đạt được, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và phát huy các giá trị tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

2. Tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú, đa dạng với khoảng 95% dân số có niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo. Hệ thống tín ngưỡng, truyền thống được hình thành từ lâu đời, bao gồm thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng liên quan đến vòng đời con người, tín ngưỡng nghề nghiệp, và tín ngưỡng thờ thần, thánh. Bên cạnh đó, Việt Nam hiện có 16 tôn giáo với 43 tổ chức được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động, khoảng 27,7 triệu tín đồ, hơn 61 nghìn chức sắc, hơn 144 nghìn chức việc và gần 30 nghìn cơ sở thờ tự. Các tổ chức tôn giáo cơ bản hoạt động ổn định, tuân thủ pháp luật, tích cực tham gia các hoạt động an sinh xã hội, từ thiện nhân đạo và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Đa số chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo tin tưởng vào đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Sự đa dạng về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là kết quả của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa lâu dài giữa các nền văn minh trong khu vực và trên thế giới. Các loại hình tín ngưỡng truyền thống và các tôn giáo du nhập cùng tồn tại, phát triển trong môi trường hòa hợp, gắn bó với dân tộc và thích ứng với bối cảnh xã hội đương đại. Nhìn chung, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của người dân được tôn trọng và bảo đảm, qua đó, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tăng cường sự đồng thuận xã hội và phát huy các giá trị đạo đức, nhân văn trong cộng đồng.

Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và thực thi hiệu quả chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, đồng thời phát huy những giá trị tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo đối với sự phát triển bền vững của đất nước.

3. Thực thi chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam

3.1. Về công nhận tổ chức

Việc xem xét công nhận tổ chức và đăng ký hoạt động cho các tôn giáo đã được quy định trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và là một trong những điểm nổi bật trong thực thi pháp luật của Việt Nam. Điều này vừa bảo đảm quyền của những tổ chức hợp pháp vừa đảm bảo hoạt động tôn giáo của tổ chức và sinh hoạt tôn giáo của tín đồ, vừa đảm bảo môi trường hoạt động tôn giáo ổn định vừa hạn chế hoạt động lợi dụng tôn giáo của các tổ chức, cá nhân phi tôn giáo. Do vậy, đây là công tác được chính quyền quan tâm, đến nay số tổ chức được công nhận và cấp đăng ký hoạt động là 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo. Với một số các tôn giáo chưa được công nhận tổ chức thì được cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung.

Cùng với việc chấp thuận tổ chức và đăng ký hoạt động là việc chấp thuận cho các tổ chức tôn giáo thành lập trường, mở lớp đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo có đủ nhân sự quản lý và tổ chức các hoạt động tôn giáo. Tính đến tháng 12/2023, cả nước có trên 54 nghìn chức sắc, trên 144 nghìn chức việc đáp ứng ngày một tốt nhu cầu hướng dẫn việc đạo cho tín đồ. Cùng với đó các cơ quan chức năng cũng chủ động hướng dẫn các tổ chức tôn giáo phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển, xây dựng sửa đổi hiến chương, điều lệ, hướng dẫn đăng ký sinh hoạt tôn giáo hằng năm theo quy định của pháp luật.

Trong những năm gần đây, cùng với sự mở cửa hội nhập người nước ngoài đến Việt Nam đầu tư, làm ăn sinh sống ngày càng nhiều, theo đó là nhu cầu sinh hoạt tôn giáo, trong đó có tôn giáo chưa có ở Việt Nam hoặc không cùng tổ chức, hệ phái, nhưng cũng được chính quyền các cấp quan tâm, tạo điều kiện cho phép thuê địa điểm để sinh hoạt tôn giáo tập trung. Xu hướng toàn cầu hóa trong tôn giáo đã làm cho Việt Nam trở thành địa điểm hấp dẫn của các tôn giáo nước ngoài tìm kiếm cơ hội truyền giáo, thành lập các tổ chức mới.

Việc tiếp tục xem xét công nhận tổ chức, cấp đăng ký hoạt động đối với các tôn giáo đủ điều kiện, một mặt phản ánh sự quan tâm của Việt Nam trong việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền bình đẳng giữa các tôn giáo cũng thuận lợi cho công tác hướng quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của các địa phương.

3.2. Công tác hướng dẫn, quản lý hoạt động, tín ngưỡng, tôn giáo

Hằng năm, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện theo chương trình đã đăng ký với chính quyền. Với các tôn giáo thì căn cứ nghị quyết các đại hội theo nhiệm kỳ, vào hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật. Nhiều hoạt động tôn giáo được tổ chức với quy mô lớn, trang trọng như: lễ Phật đản, lễ Vu lan, lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh, lễ Hội Yến Diêu Trì Cung, lễ kỷ niệm ngày khai đạo của các tôn giáo, lễ hội Ka-tê, tháng Ramadan... thu hút đông đảo tín đồ và người dân tham gia.

Việc hỗ trợ, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo tổ chức thành công các sự kiện tôn giáo quốc tế không chỉ khẳng định Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách tự do tôn giáo, quan tâm đến sinh hoạt tôn giáo mà còn góp phần quảng bá hình ảnh một nước Việt Nam đủ lực đăng cai các sự kiện quốc tế, khẳng định môi trường an ninh tốt, một môi trường văn hóa - tâm linh lành mạnh và điểm đến hấp dẫn cả trong đầu tư và du lịch, cũng là cơ sở trong đấu tranh bảo vệ nhân quyền của Việt Nam, hạn chế các thế lực xấu lợi dụng tôn giáo chống lại thành quả đổi mới đất nước.

3.3. Hoạt động đối ngoại liên quan đến tôn giáo của các cơ quan chức năng

Hoạt động đối ngoại liên quan đến tôn giáo là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. Hoạt động đối ngoại diễn ra ở nhiều lĩnh vực, từ đào tạo, hội nghị, hội thảo đến việc chia sẻ kinh nghiệm cũng như vấn đề truyền giáo… số lượng đoàn ra, đoàn vào nghiên cứu, tìm hiểu về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo luôn tăng và được đảm bảo theo quy định. Hỗ trợ các tổ chức tôn giáo tích cực tham gia các hội nghị diễn đàn tôn giáo khu vực và quốc tế như: Đối thoại liên tín ngưỡng Á - Âu (Asem), Đối thoại liên tín ngưỡng khu vực châu Á - Thái Bình Dương… Hoạt động đối ngoại tôn giáo vừa đáp ứng nhu cầu mở rộng quan hệ quốc tế, vừa tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức tôn giáo nâng cao vai trò, vị thế trong hoạt động tôn giáo quốc tế, cũng như tạo điều kiện để các tổ chức nước ngoài hiểu hơn về đất nước, thuận lợi hơn trong công tác tuyên truyền đối ngoại của Việt Nam.

Công tác đối ngoại của các cơ quan chức năng cũng được thúc đẩy, góp phần quan trọng trong công tác tôn giáo và công tác nhân quyền. Năm 2023 Ban Tôn giáo Chính phủ đã công bố “Sách trắng” cung cấp thông tin về thành tựu đảm bảo nhân quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam; phản bác thông tin không đúng về tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Tăng cường tiếp xúc với các đoàn khách quốc tế, các cơ quan ngoại giao nước ngoài đến Việt Nam. Thường xuyên duy trì và tăng cường công tác đối thoại với các đại sứ quán, các tổ chức quốc tế tại Việt Nam để cung cấp thông tin về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Việt Nam, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc thiếu thiện chí về vấn đề dân chủ nhân quyền và tự do tôn giáo của Việt Nam.

3.4. Công tác vận động chức sắc tôn giáo tham gia đóng góp vào công tác xã hội

Đảm bảo an sinh xã hội là chính sách và hoạt động lớn của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước. Trong lĩnh vực tôn giáo, chủ trương của Đảng là phát huy nguồn lực của tôn giáo trong phát triển đất nước và được cụ thể ở Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII của Đảng. Trên cơ sở đó các bộ, ngành liên quan đã nỗ lực thể chế hóa thành các quy định của pháp luật nhằm khơi thông nguồn lực tôn giáo cho phát triển đất nước, nhưng cũng là công cụ trong hướng dẫn và quản lý hoạt động an sinh xã hội của tôn giáo.

Các ngành chức năng đã làm tốt công tác tuyên truyền vận động chức sắc, tín đồ thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tham gia thực hiện các cuộc vận động do chính quyền phát động. Đặc biệt là trong những hoàn cảnh đặc biệt như bão, lũ, dịch bệnh cá nhân, tổ chức tôn giáo không chỉ chấp hành tốt mà còn quyên góp ủng hộ về tiền, vật phẩm, con người rất lớn, góp phần quan trọng cùng với Đảng, Nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác hỗ trợ kịp thời những nơi gặp khó khăn.

Trong công tác quản lý, theo chức năng nhiệm vụ các sở, ngành đã tham mưu cho tỉnh ủy, UBND các cấp trong công tác hướng dẫn, quản lý và vận động tôn giáo tham gia thực hiện các hoạt động an sinh xã hội và từ thiện theo quy định. Hướng dẫn, hỗ trợ thủ tục pháp lý cho cá nhân, tổ chức tôn giáo trong việc thành lập các cơ sở giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội; thanh tra, kiểm tra các hoạt động để kịp thời động viên, khuyến khích những kết quả đạt được, nhắc nhở, chấn chỉnh, xử lý các vi phạm, đảm bảo các hoạt động đúng mục đích và quy định. Do đó, số lượng cá nhân, tổ chức tôn giáo tham gia ngày càng nhiều; số lượng các cơ sở hoạt động an sinh xã hội không ngừng gia tăng; nguồn lực tài chính mà các tôn giáo đóng góp năm sau luôn cao hơn năm trước. Nhiều cá nhân, tổ chức tôn giáo đã được Thủ tướng Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc các cấp tuyên dương, khen thưởng vì có nhiều đóng góp, góp phần phát triển hệ thống an sinh xã hội.

Trong lĩnh vực từ thiện xã hội, các tôn giáo đều tham gia theo khả năng với đa dạng các mô hình: xây nhà tình thương, xây cầu đường, đóng góp xây dựng nông thôn mới; bếp ăn từ thiện, hỗ trợ học liệu, học bổng; xây dựng trạm xá, cai nghiện ma túy và tư vấn người nhiễm HIV/AIDS; xe cứu thương; hỗ trợ khẩn cấp khi thiên tai, dịch bệnh, đặc biệt là trong đại dịch COVID-19. Với số tiền mà các tôn giáo đóng góp hàng trăm tỷ mỗi năm, hỗ trợ tích cực vào các hoạt động an sinh xã hội của đất nước. Đóng góp của các tôn giáo đã và đang làm giảm bớt chi ngân sách nhà nước, thu hẹp khoảng cách giữa các nhóm người trong xã hội.

Công tác vận động, tranh thủ chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tổ chức tôn giáo tham gia đại biểu Quốc hội, HĐND, thành viên của các tổ chức chính trị - xã hội, phát huy vai trò nòng cốt của họ trong tuyên truyền, vận động tín đồ tham gia đóng góp tích cực vào các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương, đảm bảo môi trường xã hội lành mạnh trong vùng đồng bào tôn giáo, ngăn chặn việc lợi dụng, kích động tôn giáo để chia rẽ dân tộc, tôn giáo của các thế lực xấu.

4. Kết luận

Trong quan hệ với tôn giáo, Việt Nam xác định mô hình Nhà nước thế tục, chấp nhận sự đa dạng tôn giáo. Do vậy việc duy trì ổn định tình hình tôn giáo và phát triển chính sách, pháp luật về tôn giáo, về đất đai, y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội… được Việt Nam quan tâm nhằm tạo sự đồng bộ trong các quy định của pháp luật. Tạo cơ sở pháp lý để thúc đẩy các tổ chức tôn giáo có thế mạnh, nguồn lực tham gia đóng góp vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Cùng với đó là công tác tuyên truyền phổ biến chính sách, pháp luật về tôn giáo đến chức sắc, tín đồ và người dân nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trong chấp hành pháp luật. Bố trí nguồn lực để hỗ trợ, quản lý các hoạt động tôn giáo đúng quy định. Giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc phức tạp liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo. Chủ động trong phòng ngừa, giải quyết xung đột liên quan đến tôn giáo và việc lợi dụng tôn giáo của các đối tượng xấu nhằm gây mất đoàn kết tôn giáo, dân tộc, phương hại đến đời sống và tình hình đất nước ở Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2003), Nghị quyết số 25NQ/TW, ngày 12/3/2003 về công tác tôn giáo.2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Báo cáo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Chính phủ (2017), Nghị định Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, số 162/2017/NĐ-CP, ngày 30/12/2017.

4. Chính phủ (2023), Nghị định Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật tín ngưỡng, tôn giáo, số 95/2023/NĐ-CP, ngày 29/12/2023.

5. Thảo Nguyên (2012), Kết quả thực hiện Chỉ thị số 1940/CTTTg của Thủ tướng Chính phủ về nhà, đất liên quan đến tôn giáo tại tỉnh Thái Bình, Tạp chí Công tác Tôn giáo số 6.

6. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 7. Quốc hội (2016), Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, số 02/2016/QH14, ngày 18/11/2016.

8. Quốc hội (2013), Luật Đất đai, số 45/2013/QH13, ngày 29/11/2013. 9. Vũ Chiến Thắng (2021), Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát huy nguồn lực tôn giáo trong quá trình xây dựng và phát triển bền vững đất nước, đề tài khoa học cấp Bộ.

10. Thủ tướng Chính phủ (2008), Chỉ thị 1940/CT-TTg về nhà, đất liên quan đến tôn giáo.

11. Nguyễn Thanh Xuân - Lê Tâm Đắc (2019), Đời sống tôn giáo ở Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb, Tôngiáo, Hà Nội