Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Thực tiễn sinh động bác bỏ luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch về giáo dục dân tộc ở nước ta

Phương Thảo - 19:20, 20/10/2026

(DTTG) - Thời gian qua, các thế lực thù địch luôn rêu rao, bịa đặt Việt Nam không quan tâm bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục của đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên thực tiễn sinh động trong lĩnh vực giáo dục dân tộc đã bác bỏ hoàn toàn những cáo buộc vô căn cứ, sai sự thật của chúng.

Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang kiểm tra cơ sở vật chất Trường Dự bị đại học dân tộc Trung ương Nha Trang (tháng 6/2026)
Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang kiểm tra cơ sở vật chất Trường Dự bị đại học dân tộc Trung ương Nha Trang (tháng 6/2026)

Chủ trương, chính sách giáo dục dân tộc ở Việt Nam

Phát triển giáo dục và đào tạo luôn được Đảng ta xác định là quốc sách hàng đầu, đồng thời là cơ sở quan trọng để thực hiện chính sách “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc”. Để giải quyết bài toán nâng cao đời sống của người dân, phát triển kinh tế-xã hội bền vững cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó giáo dục và đào tạo được xem là giải pháp then chốt, là động lực quan trọng cho sự phát triển.

Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo cho vùng đồng bào DTTS&MN, tiêu biểu như: Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của BCHTW Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới; Nghị quyết số 120/2020/QH14 của Quốc hội được thông qua ngày 19/06/2020 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030; Thông báo Kết luận số 81-TB/TW ngày 18/7/2025 của Bộ Chính trị về chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo;...

Trên cơ sở đó, Quốc hội đã kịp thời ban hành các luật, nghị quyết để thể chế chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển giáo dục và đào tạo cho vùng đồng bào DTTS&MN như: Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Nhà giáo và các luật khác có liên quan, trong đó đã quy định một số chính sách nhằm hỗ trợ, đầu tư phát triển giáo dục vùng DTTS&MN, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn... 

Trường Phổ thông dân tộc nội trú Bắc Bình (tỉnh Bình Thuận cũ), nay là tỉnh Lâm Đồng có 100% học sinh là người dân tộc thiểu số Cơ-ho, Raglai, Chăm, Tày, Nùng… đang sinh hoạt và học tập nội trú
Trường Phổ thông dân tộc nội trú Bắc Bình (tỉnh Bình Thuận cũ), nay là tỉnh Lâm Đồng có 100% học sinh là người dân tộc thiểu số Cơ-ho, Raglai, Chăm, Tày, Nùng… đang sinh hoạt và học tập nội trú

Chính phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản để cụ thể hóa các chính sách giáo dục và đào tạo ở vùng đồng bào DTTS&MN, trong đó Quyết định số 1719/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 cũng đã triển khai nhiều dự án, tiểu dự án đầu tư cho phát triển giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.  Ngoài ra, nhiều địa phương ban hành thêm chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển giáo dục đối với vùng đồng bào DTTS&MN trên địa bàn.

Tựu chung lại, chính sách giáo dục đào tạo đối với người dân tộc thiểu số, vùng đồng bào DTTS&MN tập trung vào: Ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; hỗ trợ học sinh về học phí, sách giáo khoa, học bổng; Phát triển chương trình, sách giáo khoa phù hợp với đặc thù, bao gồm giảng dạy tiếng dân tộc thiểu số; Thực hiện chính sách phân luồng, hướng nghiệp từ trung học cơ sở lên trung học phổ thông và đào tạo nghề cho học sinh dân tộc thiểu số. Mở rộng cơ sở đào tạo nghề, nâng cao chất lượng giảng dạy; hỗ trợ học phí và chỗ ở cho học viên dân tộc thiểu số; Tăng cường liên kết với doanh nghiệp để tạo cơ hội việc làm sau đào tạo; Thực hiện chính sách cử tuyển, dự bị đại học cho học sinh dân tộc thiểu số; Hỗ trợ học bổng, ưu tiên tuyển sinh, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, chuyên gia dân tộc thiểu số; các chính sách ưu tiên hỗ trợ các dân tộc thiểu số rất ít người, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa thông qua học bổng và các dự án giáo dục đặc thù; Tăng cường bồi dưỡng cán bộ, giáo viên và người làm công tác dân tộc...

Mô hình Trường Phổ thông Dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở xã Nà Bủng, tỉnh Điện Biên
Mô hình Trường Phổ thông Dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở xã Nà Bủng, tỉnh Điện Biên

Những kết quả nổi bật, đập tan luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch

Với việc được xác định là “chìa khóa” để phát triển vùng đồng bào DTTS&MN, các chính sách về giáo dục đào tạo của Đảng, Nhà nước đã góp phần thúc đẩy lĩnh vực này đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo chuyển biến tích cực trong bảo đảm công bằng, bình đẳng trong tiếp cận, thể hiện rõ nét trên các góc độ sau:

Thứ nhất, mạng lưới cơ sở giáo dục vùng đồng bào DTTS&MN tiếp tục được củng cố, phát triển; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được cải thiện, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của học sinh. Giai đoạn 2021-2025, Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN (Chương trình MTQG 1719) đã chi hơn 8.309 tỷ đồng hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đối với 1.032 trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông có học sinh ở bán trú; Gần 671 tỷ đồng đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp các trường Đại học Tây Nguyên, Đại học Tây Bắc, Trường Hữu nghị T78, Trường Hữu nghị 80…

Đặc biệt, thực hiện Thông báo Kết luận số 81-TB/TW ngày 18/7/2025 của Bộ Chính trị về chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới - địa bàn sinh sống chủ yếu của người dân tộc thiểu số, sau gần 1 năm quyết liệt triển khai, dịp khai giảng năm học mới 2026-2027, 108 trường phổ thông liên cấp tiểu học - trung học cơ sở khởi công cuối năm 2025 và đầu năm 2026 đã đủ điều kiện cơ bản để đón học sinh tới trường học tập trong một môi trường giáo dục khang trang, hiện đại. Và như Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng khẳng định: “Mỗi ngôi trường được đưa vào hoạt động không đơn thuần là một công trình mới mà còn là điểm tựa của niềm tin và tương lai; để khoảng cách địa lý hay hoàn cảnh gia đình không ngăn cản ước mơ học tập, rèn luyện của các cháu; đồng thời thể hiện tình cảm, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân cả nước đối với thế hệ tương lai”.

Cơ sở vật chất phục vụ dạy và học ngày càng hiện đại, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Trong ảnh: Giờ học của cô - trò Trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Nghĩa Thuận, tỉnh Tuyên Quang)
Cơ sở vật chất phục vụ dạy và học ngày càng hiện đại, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Trong ảnh: Giờ học của cô - trò Trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Nghĩa Thuận, tỉnh Tuyên Quang)

Sự phát triển mạnh mẽ của mạng lưới trường lớp vùng đồng bào DTTS&MN đã góp phần quan trọng tăng tỷ lệ huy động trẻ em dân tộc thiểu số trong độ tuổi đến trường. Tại các địa phương, tỷ lệ học sinh mẫu giáo 5 tuổi, học sinh tiểu học đến trường đạt 99-100%; tỷ lệ học sinh trung học cơ sở đến trường đạt 95-98%; giảm tình trạng học sinh bỏ học, học sinh lưu ban.

Thứ hai, chất lượng giáo dục vùng đồng bào DTTS&MN có chuyển biến tích cực. Việc tổ chức dạy học được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với đặc điểm tâm lý, văn hóa, ngôn ngữ của học sinh dân tộc thiểu số. Một số địa phương đã tăng cường dạy tiếng dân tộc thiểu số, đơn cử như tỉnh Lào Cai, năm học 2025-2026 có 20 trường tiểu học dạy tiếng Mông, với 98 lớp, 2.592 học sinh; tỷ lệ duy trì sĩ số, tỷ lệ hoàn thành môn học và tỷ lệ học sinh biết đọc, biết viết chữ Mông sau khi hoàn thành chương trình tiểu học đều đạt 100%. Tại tỉnh Tuyên Quang, đã tổ chức 33 lớp dạy chữ Nôm Dao cho cộng đồng người Dao với hơn 1.000 học viên. Tại Phú Thọ, đã mở các lớp bồi dưỡng tiếng Dao Thanh Y và Dao Thanh Phán cho 975 lượt cán bộ, công chức, viên chức…

Công tác dạy học tiếng Việt, hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số nâng cao năng lực tiếng Việt được chú trọng, góp phần nâng cao hiệu quả, tiếp thu kiến thức và giảm chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa các vùng.

Thứ ba, các mô hình giáo dục đặc thù như trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, các cơ sở giáo dục dự bị đại học được tổ chức, củng cố và hoạt động ngày càng nền nếp, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh dân tộc thiểu số được học tập, rèn luyện trong môi trường giáo dục phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho vùng DTTS&MN.

Thứ tư, các chế độ, chính sách đối với học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số như hỗ trợ học tập, sinh hoạt, học bổng, miễn giảm học phí… được các địa phương và các cơ sở giáo dục quan tâm triển khai tương đối đầy đủ, kịp thời, góp phần giảm bớt khó khăn về kinh tế cho gia đình học sinh, sinh viên, tạo động lực để người học yên tâm học tập. Ví dụ, tại tỉnh Lai Châu, giai đoạn 2021-2025, gần 122 nghìn học sinh được hỗ trợ trên 524 tỷ đồng; tỉnh Bình Phước (cũ), từ năm 2017-2025, đã hỗ trợ hơn 4 tấn gạo cho 37.012 lượt học sinh; hỗ trợ trên 55 tỷ đồng tiền ăn, ở cho gần 1 vạn lượt học sinh; chi ngân sách hơn 7 tỷ đồng hỗ trợ 2.498 lượt học sinh, sinh viên; trên 7,8 tỷ đồng hỗ trợ Tết Nguyên đán cho trên 12 nghìn lượt học sinh, sinh viên…

Đáng chú ý đến nay, 53/53 dân tộc thiểu số đã có người được cử tuyển đi học ở các trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học. Có những dân tộc thiểu số trước đây rất khó khăn về nguồn tuyển sinh cử tuyển như dân tộc Co, Mảng, Rơ Măm, Cờ Lao, Gié Triêng, Cống, Pà Thẻn, Lô Lô, La Hủ, Brâu, Lự, nay đã có người học cử tuyển.

Đảng, Nhà nước Việt Nam nhất quán quan điểm đầu tư cho giáo dục dân tộc là đầu tư cho tương lai phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Đảng, Nhà nước Việt Nam nhất quán quan điểm đầu tư cho giáo dục dân tộc là đầu tư cho tương lai phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Ngoài các chính sách của Trung ương, một số địa phương đã ban hành thêm chính sách và mở rộng đối tượng hỗ trợ chi phí học tập để tạo đột phá trong thực hiện chính sách giáo dục và đào tạo. TP. Hồ Chí Minh ban hành chính sách hỗ trợ chi phí học tập đối với học sinh, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh là gười dân tộc thiểu số với mức 60% mức lương cơ sở/tháng…

Giai đoạn 2026-2030, lĩnh vực giáo dục dân tộc tiếp tục nhận được sự quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước thông qua Chương trình Mục tiêu xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình MTQG 417). Chương trình sẽ đầu tư nguồn lực để xây mới, cải tạo, nâng cao cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở giáo dục mầm non, các trường phổ thông, các trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở, trường phổ thông dân tộc bán trú, nội trú, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp...; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm tăng cường năng lực thực hiện nhiệm vụ của các trường dự bị đại học; đầu tư, cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các đơn vị sự nghiệp công lập có hoạt động trong lĩnh vực công tác dân tộc như: Trường Văn hóa Bộ Công an, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Tây Nguyên, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, Trường Đại học Đà Lạt...

Những con số trên tuy chưa đầy đủ nhưng đã “biết nói”, khẳng định sự quan tâm to lớn của Đảng, Nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo vùng đồng bào DTTS&MN, tạo ra những chuyển biến tích cực trong bảo đảm công bằng, bình đẳng về tiếp cận giáo dục cho người dân tộc thiểu số; từng bước nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đối với học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc. Những kết quả đó đồng thời là bằng chứng sinh động đập tan luận điệu của các thế lực thù địch bịa đặt Việt Nam không quan tâm bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục của đồng bào dân tộc thiểu số.