Trang phục truyền thống của một số dân tộc thiểu số ở Trung QuốcTừ khóa: Dân tộc; Chính sách dân tộc; Trung Quốc.
1. Trung Quốc và các dân tộc ở Trung Quốc
Trung Quốc có lịch sử lâu đời - một trong những nền văn minh cổ của nhân loại, cách ngày nay khoảng 5.000 năm. Người Hán ở lập quốc đầu tiên dưới thời Nghiêu - Thuấn trên sông Hoàng Hà (tỉnh Hà Bắc ngày nay), sau đó cùng với quá trình mở rộng địa vực là các triều đại: Nhà Hạ (2205 1776.TCN), nhà Thương (1776-1122.TCN), nhà Chu (1122-256.TCN), nhà Tần (221-210.TCN), nhà Hán (210.TCN-265.SCN), nhà Tấn (265-420), nhà Tùy (581-618), nhà Đường (thế kỷ VII, VIII, IX), nhà Tống (X-XII), nhà Nguyên (1279-1368), nhà Minh (1368-thế kỷ XVII), nhà Thanh (thế kỷ XVII-1911), Trung Hoa Dân quốc (1911-1949), Cộng hòa nhân dân Trung Hoa theo chế độ Xã hội chủ nghĩa (1949 đến nay).
Hiện nay, Trung Quốc diện tích 9.597.000 km2 có đường biên giới đất liền tiếp giáp với 14 nước. Trung Quốc xây dựng thể chế nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân từ năm 1949, chế độ một viện (Quốc hội) từ năm 1954. Về mặt hành chính, hiện nay Trung Quốc có 22 tỉnh, 05 khu tự trị, 04 thành phố trực thuộc trung ương và 02 đặc khu (Hồng Kông và Ma Cao). Từ khi thực hiện chính sách “Cải cách và mở cửa”, kinh tế của Trung Quốc phát triển nhanh, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, thu nhập bình quân đầu người năm 1982 là 203,3 USD, năm 2010 là 4.550 USD, năm 2024 là 13.306 USD.
Trung Quốc là quốc gia thuộc tốp 10 nước có số lượng các dân tộc đông nhất. Hiện nay Trung Quốc có 56 dân tộc, trong đó có 55 dân tộc thiểu số. Dân số cả nước là 1,324 tỷ người, trong đó người Hán chiếm đa số với hơn 91%, còn lại là các dân tộc khác. Xét về ngôn ngữ, các dân tộc ở Trung Quốc hiện nay rất đa dạng, bao gồm nhóm ngôn ngữ thuộc 5 ngữ hệ lớn: Hán-Tạng, Altai, Tai-Kadai, Hmông-Miền, Nam Á. Cụ thể số dân từng dân tộc như sau: Choang-Zhuang là 19,6 triệu, Duy Ngô Nhĩ-Uyghur là 11,7 triệu, Hồi-Hui là 11,3 triệu, Hmông-Miao là 11,1 triệu, Mãn-Manchu là 10,4 triệu, Lô Lô-Yi là 9,8 triệu, Di-Dy là 9,8 triệu, Thổ Gia-Tujia là 9,5 triệu, Tạng-Zang là 7,1 triệu, Mông Cổ-Mongolian là 6,2 triệu, Bố Y-Buyi là 3,6 triệu, Động-Dong là 3,5 triệu, Dao-Yao là 3,3 triệu, Bạch-Bai là 2,1 triệu, Triều Tiên-Korean là 1,7 triệu, Hà Nhì-Hani là 1,7 triệu, Cáp Tát Khắc Tư-Kazakh là 1,6 triệu, Lê-Li là 1,6 triệu, Thái-Dai là 1,3 triệu,… Các dân tộc dưới 50.000 người, như: Phổ Mễ-Pumi là 45.012, A Xương Achang là 39.555, Nô-Nu là 36.575, Kinh-Jing là 33.112, Ngạc Ôn Khắc-Ewenki là 30.875, Bố Lãng-De’ang là 22.354, Cơ Nặc-Jino là 26.025, Bảo An-Baoan là 20.074, Dụ Cổ-Yugu là 14.706, Biệt Khắc-Uzbeks là 12.742,…
Các dân tộc thiểu số ở Trung Quốc có những đặc điểm cần quan tâm. Trước hết về địa bàn cư trú, các dân tộc thiểu số thường ở những vùng ven - biên giới tại khu vực Tây Bắc, Bắc, Đông Bắc, Nam và Tây Nam những nơi trong quá trình người Hán chinh phục mở rộng lãnh thổ sau này. Theo thời gian, một số dân tộc cư trú chung với người Hán, nhưng đa số các dân tộc trên địa bàn riêng được hình thành cùng với quá trình lịch sử. Các dân tộc thiểu số có văn hóa, lối sống, phong tục tập quán riêng được hình thành và lưu giữ từ lâu đời tạo sắc thái riêng của từng dân tộc. Một số dân tộc nhập vào Trung Quốc từ lâu đời, bị “Hán hóa” nên chỉ giữ đôi nét văn hóa riêng gắn với tín ngưỡng. Đa số các dân tộc thiểu số có đời sống dân sinh và trình độ dân trí thấp hơn so với mặt bằng chung, thậm chí có dân tộc còn giữ lối sống lạc hậu với những hủ tục. Vì nhiều lý do, cả lịch sử và hiện tại, một số dân tộc thiểu số cũng có tư tưởng và hoạt động ly khai gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Phụ nữ dân tộc Choang ở Trung Quốc2. Chính sách và thực hiện chính sách dân tộc ở Trung Quốc
Sau khi thành lập (1921), trong quá trình vận động cách mạng, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chú ý đến vấn đề dân tộc. Tháng 11/1931, Đảng Cộng sản Trung Quốc khi xây dựng Đại cương Hiến pháp Cộng hòa Xô Viết Trung Hoa đã có nội dung về dân tộc qua Điều 13 và Điều 14, trong đó đã nhấn mạnh: “Trong phạm vi chính quyền Xô Viết, công nhân, nông dân, hồng quân và tất cả quần chúng lao động nghèo khổ cùng gia đình của họ không phân biệt nam nữ, chủng tộc, tôn giáo đều bình đẳng, là công dân Xô Viết”. Sau đó, các văn kiện của Đảng Cộng sản Trung Quốc ban hành vào các năm 1936, 1939, 1941, 1942… đều có những nội dung liên quan đến chính sách dân tộc.
Sau cuộc nội chiến giữa Đảng Cộng sản và Đảng Quốc dân năm 1949, Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập. Đảng Cộng sản và Chính phủ Trung Quốc cũng rất quan tâm đến vấn đề dân tộc. Tháng 9/1949, Cương lĩnh Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc có nội dung về dân tộc. Bản Hiến pháp đầu tiên năm 1954 của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, sau đó, các lần tu chỉnh vào năm 1975 và 1978 đều có nội dung về chính sách dân tộc. Đặc biệt bước vào thời kỳ “Cải cách và mở cửa”, Hiến pháp năm 1982, sau này sửa đổi năm 1993, 1999, 2004, 2018 nhấn mạnh những nguyên tắc hiến định đối với dân tộc. Cụ thể: Mọi dân tộc có quyền bình đẳng; Nhà nước đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các dân tộc; Cấm phân biệt và áp bức dân tộc; Thiết lập chế độ tự trị đối với những khu vực tập trung đông các dân tộc (Điều 4). Ngoài nguyên tắc về dân tộc, Hiến pháp Trung Quốc có những nội dung liên quan đến dân tộc. Cụ thể như: “Các dân tộc đều có quyền tự do sử dụng và phát triển ngôn ngữ, văn tự của mình; Đều có quyền tự do duy trì hay thay đổi phong tục tập quán của mình”… “Công dân nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đủ 18 tuổi không phân biệt dân tộc, chủng tộc, giới tính, thành phần xuất thân, tôn giáo, tín ngưỡng, trình độ giáo dục, tình trạng kinh tế, thời gian cư trú đều có quyền bầu cử và ứng cử; Tuy nhiên cần ngoại trừ những người bị tước quyền chính trị dựa trên pháp luật” (Điều 34),…
Điều rất được quan tâm, với những vùng dân tộc mang tính đặc thù về lịch sử, văn hóa, dân tộc, Chính phủ Trung Quốc cho thành lập các khu tự trị. Cụ thể: Khu tự trị Nội Mông được thành lập từ năm 1947 ở phía Bắc, giáp với Mông Cổ và Nga với địa hình thảo nguyên. Khu tự trị Tân Cương được thành lập năm 1955 ở Tây Bắc là khu tự trị lớn nhất với địa hình sa mạc. Khu tự trị dân tộc Choang được thành lập từ năm 1958 ở Quảng Tây vùng ven biển phía Nam là nơi có dân số dân tộc thiểu số đông nhất. Khu tự trị Ninh Hạ được thành lập năm 1958 ở phía Tây Bắc, là nơi tập trung đông dân tộc Hồi sinh sống. Khu tự trị Tây Tạng được thành lập năm 1965 ở cao nguyên có văn hóa Phật giáo Mật tông rất đặc trưng. Có lẽ với người Hmông dù đông người cư trú tập trung nhưng do những đặc điểm về lịch sử, văn hóa, tâm lý, tính cách tộc người nên Chính phủ Trung Quốc không thực hiện quy chế tự trị như một số dân tộc khác.
Trang phục rực rỡ của dân tộc Tạng ở Trung QuốcSau khi thành lập các khu tự trị, Hiến pháp Trung Quốc (từ Điều 112 đến Điều 122) quy định chi tiết cơ cấu, chức năng và quyền hạn của bộ máy hành chính các cấp của khu tự trị trong các lĩnh vực y tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, ngôn ngữ, chữ viết, tôn giáo, phong tục, tập quán,… Cùng với Hiến pháp, Trung Quốc ban hành Luật Tự trị năm 1984 (sửa đổi năm 2001). Luật Tự trị đã cụ thể hóa các nguyên tắc của Hiến pháp với những quy định các điều kiện thành lập, phạm vi, cơ cấu tổ chức và chức năng và quyền hạn của các cấp hành chính, phân cấp quản lý giữa trung ương và khu tự trị,… Hỗ trợ cho Luật Tự trị, Trung Quốc có các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan đến chính sách dân tộc, như: Luật Giáo dục (1995, sửa đổi năm 2015), Luật Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (2011), Luật Y tế cơ bản (2019), Luật Tổ chức chính quyền địa phương (2015),...
Dân tộc và tôn giáo là hai vấn đề mang nhiều nét đặc thù nhưng là hai vấn đề khác nhau trong nhận thức và ứng xử từ phía chủ thể quản lý. Nếu là vấn đề tôn giáo, hầu hết các nước có quy định pháp luật để điều chỉnh những hoạt động tôn giáo, còn dân tộc là những chính sách để đảm bảo bình đẳng dân tộc và nâng cao đời dân sinh, trình độ dân trí cho người dân. Về tôn giáo ở Trung Quốc thời kỳ “Cải cách và mở cửa”, năm 1994, Trung Quốc ban hành Sắc lệnh Quản lý việc đăng ký các cơ sở hoạt động tôn giáo; Sau đó, ngày 30/11/2004 ban hành Điều lệ Sự vụ tôn giáo. Với vấn đề dân tộc, ngoài những văn bản như đã nêu, Chính phủ Trung Quốc chỉ ban hành các văn bản tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện, đặc biệt là các kế hoạch, các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đối với dân tộc nói chung và đối với từng vùng dân tộc, nhất là các khu tự trị. Cùng với quy định về chính sách dân tộc, luật pháp Trung quốc có những nội dung chế tài những vi phạm pháp luật liên quan đến các hoạt động ly khai, kích động thù hận dân tộc, chia rẽ dân tộc, xúc phạm văn hóa, phong tục của các dân tộc khác, các hoạt động liên quan đến khủng bố,…
Thực hiện chính sách dân tộc là một nội dung quan trong rất được Trung Quốc quan tâm cần có cơ quan chuyên ngành. Đó là Ủy ban Dân tộc thuộc Quốc vụ viện (Chính phủ) là cơ quan ngang bộ với những chức năng cụ thể, như: nghiên cứu tham mưu chính sách dân tộc; Điều phối liên ngành với các bộ ngành có liên quan; Thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện chính sác dân tộc; Đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số,… Ở các tỉnh, khu tự trị, các huyện, châu, thậm chí ở cấp xã có vấn đề dân tộc đều có Ban Dân tộc là cơ quan chức năng của chính quyền trong việc thực hiện chính sách dân tộc. Cũng như những quốc gia theo thể chế nhất nguyên dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Trung Quốc có cơ chế trong việc lãnh đạo, định hướng, chỉ đạo chính sách và thực hiện chính sách dân tộc với phương châm “Đảng lãnh đạo toàn diện công tác dân tộc”. Cơ quan công tác dân tộc của Đảng là Ban Dân tộc Trung ương Đảng và Đảng ủy các cấp.
Với những chính sách dân tộc cụ thể, dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Chính phủ, bộ máy chuyên trách phối hợp với các ngành, các địa phương có liên quan, chính sách dân tộc ở Trung Quốc đạt được những kết quả rất quan trọng. Bước vào thời kỳ “Cải cách và mở cửa”, Trung Quốc chú trọng đầu tư xây dựng hạ tầng, giao thông, trợ cấp ngân sách, hỗ trợ giảm nghèo,… Đặc biệt là những chương trình khai thác tài nguyên, chuyển dịch cơ cấu lao động, đô thị hóa ở các khu tự trị Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Vân Nam,… Với những chính sách cụ thể trong thời gian gần đây, đời sống dân sinh của dân tộc ở Trung Quốc thay đổi rõ rệt. Chỉ số thu nhập bình quân đầu của nhiều nơi vùng dân tộc thiểu số đã được nâng lên so với mặt bằng chung. Mấy thập niên gần đây, các chính sách cụ thể về xã hội được triển khai cụ thể đối với cộng đồng dân tộc, nhất là ở các khu tự trị, như giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe, văn hóa,… Cùng với những chương trình về kinh tế, văn hóa, xã hội, Chính phủ Trung Quốc chú trọng công tác tuyên truyền và thực hiện đoàn kết dân tộc dựa trên lợi ích và hòa giải dân tộc, duy trì mối quan hệ giữa các dân tộc, giữa các dân tộc với nhà nước. Có thể nói, thời kỳ “Cải cách và mở cửa”, đời sống dân sinh, trình độ dân trí các dân tộc ở Trung Quốc thay đổi lớn theo hướng tích cực.
Chính sách tôn giáo trong vùng dân tộc rất được Chính phủ Trung Quốc quan tâm theo hướng giữ nguyên tôn giáo truyền thống của từng cộng đồng người, đồng thời tạo điều kiện cho cho các hoạt động tôn giáo, như: sinh hoạt tôn giáo của tín đồ, hoạt động tôn giáo của chức sắc, việc đào tạo chức sắc, xuất bản kinh sách, xây dựng sửa chữa nơi thờ tự,… đã giúp mối quan hệ dân tộc phát triển theo hướng tích cực.
Bên cạnh thành tựu đã đạt được, việc thực hiện chính sách dân tộc, Trung Quốc đang đứng trước những vấn đề cần quan tâm. Đó là việc phân biệt đối xử, bất bình đẳng đối với người dân tộc vẫn diễn ra liên quan đến công ăn, việc làm, giáo dục, đào tạo, quan hệ xã hội. Đó là mô hình “tự trị trong thống nhất” trong một số trường hợp còn là hình thức, nhất là về quyền lập pháp, tài chính, nhân sự lãnh đạo các cấp. Đó là việc phát triển kinh tế, khai thác tài nguyên quá mức ảnh hưởng môi trường ở vùng dân tộc, cùng với đó là việc di dân của người Hán đến vùng dân tộc,… Một trong những vấn đề phức tạp mà Trung Quốc đối diện là tôn giáo trong vùng dân tộc liên quan đến chủ nghĩa ly khai theo xu hướng cực đoan. Cụ thể, vào thập niên đầu thế kỷ XXI, các nhóm Jihadist ở Nam Á và Trung Đông, bao gồm cả IS đã ban hành các tuyên bố ủng hộ sự ly khai khỏi Trung Quốc của Tân Cương và hội nhập vào Hồi giáo toàn cầu. Một số người Di Ngô Nhĩ đã tham gia khủng bố của Taliban và Al-Qaeda, từng tuyên bố sẽ quay về “nhuộm đỏ Trung Hoa”,… Chính phủ Trung Quốc đã dùng nhiều biện pháp để giải quyết nhưng chưa đem lại hiệu quả như mong muốn.
3. Kết luận
Trung Quốc là quốc gia có đông cộng đồng dân tộc, mặc dù tỷ lệ người dân tộc thấp so với dân số nhưng vì nhiều lý do, cả lịch sử và hiện tại nên được Đảng và Chính phủ Trung Quốc rất quan tâm. Thời kỳ “Cải cách và mở cửa”, Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã ban hành nhiều chính sách cụ thể về mọi mặt đối với dân tộc thích ứng với giai đoạn phát triển mới, đã đem lại những kết quả quan trọng nhưng chính sách, việc thực hiện chính sách dân tộc ở Trung Quốc vẫn cần có những điều chỉnh phù hợp .
* Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Tài liệu tham khảo
1. Lưu Bành, Tôn giáo và pháp trị của Trung Quốc, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc, bản dịch Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3, 2007.
2. Albert P. Blaustein, Jay A. Sigler, Các bản hiến pháp làm nên lịch sử, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013.
3. Lê Hải Đăng - Phạm Minh Phúc, Xung đột tộc người và tôn giáo ở một số quốc gia trong những năm gần đây, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2020.
4. Lê Giảng, Các triều đại Trung Hoa, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2008.
5. Đinh Quang Hải (Chủ biên), Quan hệ biên giới trên đất liền giữa Trung Quốc với các quốc gia láng giềng, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2022.
6. Tang Kiệt, Khái quát quá trình lập pháp tôn giáo ở Trung Quốc, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3/2013.
7. Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Tuyển tập Hiến pháp của một số quốc gia, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2012.
8. Hoàng Thị Lan, Giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo và mối quan hệ dân tộc - tôn giáo ở Trung Quốc và những tham chiếu cho Việt Nam, Tạp chí Thông tin Lý luận, số 1/2023.
9. F.M. Savina, Lịch sử người Mèo - Histoire des Miao, Nhà in Nazareth, Hồng Kông, 1930. 10. Mai Lý Quảng, 252 quốc gia và vùng lãnh thổ thế giới, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2010.