Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Tôn giáo trong vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam một số vấn đề cần quan tâm

PGS.TS. Nguyễn Thanh Xuân - 08:08, 30/01/2026

Việt Nam là quốc gia đa dạng về tôn giáo, và tôn giáo trong vùng dân tộc thiểu số cũng rất đa dạng. Bài viết này tập trung làm rõ về tôn giáo trong những cộng đồng dân tộc mang tính điển hình. Đó là người Mông theo Công giáo và đạo Tin Lành, các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên theo Công giáo và Tin Lành, người Khmer ở Tây Nam Bộ theo Phật giáo Nam tông, người Chăm ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ theo đạo Bàlamôn, Hồi giáo.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc. Năm 2019, Việt Nam có 54 dân tộc với 96,20 triệu người, trong đó các dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số (14,10 triệu người). Đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú ở các vùng: Trung du và miền núi phía Bắc (gọi chung là Tây Bắc), vùng Tây Nguyên, Nam Trường Sơn và vùng cao duyên hải miền Trung (gọi chung là Tây Nguyên) và vùng Nam Bộ, chủ yếu Tây Nam Bộ. Việt Nam là quốc gia đa dạng về tôn giáo, và tôn giáo trong vùng dân tộc thiểu số cũng rất đa dạng. Bài viết này tập trung làm rõ về tôn giáo trong những cộng đồng dân tộc mang tính điển hình. Đó là người Mông theo Công giáo và đạo Tin Lành, các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên theo Công giáo và Tin Lành, người Khmer ở Tây Nam Bộ theo Phật giáo Nam tông, người Chăm ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ theo đạo Bàlamôn, Hồi giáo. Và thay cho kết luận xin có một số điều cần quan tâm đến tôn giáo vùng dân tộc thiểu số.

1. TÔN GIÁO TRONG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY BẮC

1.1. Công giáo trong dân tộc Mông

Việc truyền bá Công giáo lên Tây Bắc được các giáo sỹ người Pháp thực hiện từ rất sớm, khoảng cuối thế kỷ XIX đến với người Mường, người Thái ở Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu; đến người Tày, người Nùng, người Dao ở Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang,… Việc truyền bá Công giáo đến người Mông càng được các giáo sỹ quan tâm để: “Nhằm xoa dịu, ru ngủ tinh thần đấu tranh chống Pháp của người Mông”. Tuy nhiên, việc truyền bá Công giáo đến người Mông được thực hiện đầu thế kỷ XX với vai trò của Linh mục Tuyên uý Francois Marie Savina (tên Việt gọi là Vị hay Savina Vị). Đầu năm 1921 có hai người Mông ở Lào Cai theo Công giáo, đến cuối năm 1921 có thêm 05 gia đình người Mông nữa theo Công giáo. Năm 1922, ngôi nhà nguyện ở bản Lồ Lao Chải (Lào Cai) được xây dựng. Đến năm 1927, hai họ giáo Hầu Tào và Lao Chải được thành lập gồm 33 gia đình ở 11 bản Mông. Năm 1931, ngôi nhà thờ được khởi công xây dựng kiên cố ở Sa Pa với tước hiệu Nhà thờ Đức Bà Sa Pa (Notre Dame de Sapa).

Sau năm 1954, do nhiều nguyên nhân, cộng đồng người Mông theo Công giáo ở Lào Cai và Yên Bái giảm xuống và sống phân tán theo tập quán di cư. Tuy nhiên, 65 hộ gia đình người Mông ở vùng Sa Pa theo Công giáo vẫn tin và duy trì sinh hoạt tôn giáo theo gia đình3. Sự gia tăng người Mông theo Công giáo liên quan đến thời kỳ đầu truyền đạo Tin Lành dưới tên gọi Vàng Trứ vào người Mông cuối thế kỷ XX ở Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Lai Châu, Sơn La,… Người Mông theo Vàng Trứ nhưng không đến với đạo Tin Lành mà chuyển qua theo Công giáo dưới sự hướng dẫn của linh mục, tu sỹ, tín đồ Công giáo ở các địa phương. Chỉ riêng hai năm 1989-1990 đã có 2.029 người Mông từ theo Vàng Trứ chuyển sang Công giáo. Sau đó, các hoạt động truyền bá Công giáo dưới nhiều hình thức được triển khai từ phía Giáo hội Công giáo và cộng đồng người Mông theo Công giáo, để đến năm 2019, số người Mông theo Công giáo trên dưới 20.000 tín đồ, trong đó Yên Bái: 8.500 tín đồ, Lào Cai: 3.505 tín đồ,...

Hiện nay, cộng đồng người Mông theo Công giáo nói trên tuỳ theo địa bàn thuộc sự hướng dẫn và điều hành của Giáo phận Hưng Hoá, Giáo phận Lạng Sơn, Giáo phận Bắc Ninh.

1.2. Đạo Tin Lành trong dân tộc Mông

Tuy truyền vào Việt Nam sau so với Công giáo nhưng đạo Tin Lành cũng chú trọng việc truyền giáo đến vùng dân tộc thiểu số ở Tây Bắc. Khởi đầu là các mục sư người Việt lên truyền giáo ở Lạng Sơn, Lào Cai, Hoà Bình nhưng không mấy kết quả. Cuối cùng chỉ có một cộng đồng người Dao ở Bắc Sơn, Lạng Sơn theo Tin Lành từ năm 1937, 1938, sau này trở thành chi hội của Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc).

Dấu ấn việc truyền đạo Tin Lành lên Tây Bắc là giữa thập niên 1980. Cụ thể là năm 1985, 1986, một số người Mông ở Hà Tuyên (sau nay là Hà Giang và Tuyên Quang), Sơn La, Lai Châu,... khi nghe đài Nguồn Sống - FEBC phát bằng tiếng Mông nói về Vàng Trứ - “đạo Vàng Trứ” đã đứng ra vận động người Mông theo đạo Vàng Trứ. Năm 1987, 1988, đạo Vàng Trứ lan sang nhiều tỉnh khác như Cao Bằng, Bắc Thái (sau này là Bắc Kạn, Thái Nguyên), Hà Tuyên,... Đến năm 1990, ở 09 tỉnh miền núi phía Bắc, đạo Vàng Trứ đã thâm nhập vào 164 xã có người Mông là Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Yên Bái.

Những năm đầu thập niên 1990, cộng đồng người Mông mới theo đạo Tin Lành ở Tây Bắc được đài Nguồn Sống và một số mục sư đạo Tin Lành hiệu chỉnh và hướng dẫn, danh xưng Vàng Trứ được thay bằng đạo Tin Lành. Thời gian này, đạo Tin Lành phát triển rất nhanh, lan rộng ra tất cả những địa phương có người Mông sinh sống, nhất là những tỉnh ở vùng cao, như: Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng,… Cũng thời gian này số người Mông theo đạo Tin Lành ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã di cư vào Thanh Hóa và một số tỉnh Tây Nguyên. Đạo Tin Lành tiếp tục tăng vào cuối những năm 1990, đầu những năm 2010. Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 1996 cả nước có gần 80.000 người Mông theo đạo Tin Lành, đến năm 2003 tăng lên là 105.000 người Mông (chiếm 13% tổng số người Mông) ở 735 bản Mông theo đạo Tin Lành.

Ngày 04/02/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 01/2005/CT-TTg Về một số công tác đối với đạo Tin Lành. Với chủ trương nhìn nhận và từng bước bình thường hóa hoạt động của đạo Tin Lành các tỉnh Tây Bắc. Từ đó, đạo Tin Lành trong dân tộc Mông diễn biến theo xu hướng ổn định. Thời kỳ này, với môi trường pháp lý mới, đa số các tổ chức Tin Lành, kể các tổ chức được công nhận và chưa được công nhận đều lên vùng miền núi phía Bắc người theo đạo Tin Lành về mình làm tăng sự đa dạng tổ chức, hệ phái Tin Lành. Theo Ban Tôn giáo Chính phủ ở thời điểm năm 2005, khi triển khai Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg, số người dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành ở các tỉnh miền núi phía Bắc là 110.000 tín đồ ở 927 điểm nhóm. Năm 2015 là 205.000 tín đồ ở 1.480 điểm nhóm. Đến năm 2025, tổng số người Mông theo đạo Tin Lành ở các tỉnh miền núi phía Bắc là 320.000 tín đồ ở 1.802 điểm nhóm (trong đó khoảng hơn 62.000 tín đồ di cư vào Tây Nguyên).

Như vậy, chỉ trong thời gian 35 năm (1985-2020) từ con số không (0) - có thể nói như vậy, đạo Tin Lành đã xâm nhập và phát triển trong cộng đồng người Mông ở 14 tỉnh Tây Bắc và một số tỉnh ở Tây Nguyên, tạo thành một thực thể Tin Lành có tính quần chúng khá đông đảo và rộng rãi.

2. TÔN GIÁO TRONG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY NGUYÊN

2.1. Công giáo trong dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên

Xét về phương diện truyền giáo thì Tây Nguyên là vùng đất mở đối với các tôn giáo, nhất là với Công giáo và đạo Tin Lành. Công giáo truyền lên Tây Nguyên từ giữa thế kỷ XIX từ vùng Quy Nhơn lên khi chính sách cấm đạo của nhà Nguyễn, với vai trò của Giám mục Stephano Cuénot (tên Việt gọi là Thể hay Cuénot Thể). Nơi các giáo sỹ lên truyền giáo là các dân tộc ở Kon Tum. Kết quả là năm 1853, những tín đồ Công giáo đầu tiên của cư dân tại chỗ là người Ba Na và Xơ Đăng. Việc truyền Công giáo lên Tây Nguyên trở nên thuận lợi khi Pháp thực chiếm Tây Nguyên - Trường Sơn qua Hiệp định Patenôte (1884) và mở các đồn điền ở vùng đất này thu hút một bộ phận người Kinh, trong đó có tín đồ Công giáo lên Tây Nguyên tránh phản ứng của Phong trào Văn Thân. Từ năm 1884 đến năm 1901, ở Bắc Tây Nguyên có 8.000 người Ba Na theo Công giáo. Để hỗ trợ cho việc truyền giáo ở Bắc Tây Nguyên, năm 1905 các giáo sỹ Thừa sai lập Trường Giáo phụ mang tên Cuénote Thể ở Kon Tum để đào tạo các Giáo phụ truyền giáo trong vùng dân tộc thiểu số. Trước sự gia tăng tín đồ và hình thành lực lượng giáo phụ đông đảo, năm 1932, Giáo phận Kon Tum được thành lập.

Một hướng truyền Công giáo lên Tây Nguyên từ phía Nam đến Đà Lạt. Sự kiện đầu tiên ảnh hưởng đến truyền giáo vùng này là năm 1917 một nhà nghỉ dành cho các giáo sỹ được xây dựng. Từ đó nhiều giáo sỹ lên đây nghỉ dưỡng và truyền giáo. Việc truyền Công giáo lên vùng Nam Tây Nguyên gắn với Giám mục Mossard (tên Việt gọi là Mão hay Rossard Mão). Năm 1920, giáo xứ Đà Lạt, giáo xứ Di Linh được thành lập. Việc truyền Công giáo ở vùng Nam Tây Nguyên ít đem lại kết quả so với các vùng khác ở Tây Nguyên.

Việc gia tăng nhanh số lượng tín đồ Công giáo là dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên phải đợi đến sau năm 1954, khi người Kinh lên Tây Nguyên, nhất là việc chính quyền Việt Nam Cộng hòa điều chỉnh dân cư đưa gần 65.000 người Kinh, chủ yếu là Công giáo từ miền Bắc di cư vào Nam lên Tây Nguyên, chủ yếu định cư ở Đắk Lắk, Gia Lai10. Với sự phát triển Công giáo ở Tây Nguyên, trong đó có dân tộc thiểu số, năm 1960 Toà thánh Vatican thành lập Giáo phận Đà Lạt, năm 1967 thành lập Giáo phận Ban Mê Thuột. Số lượng tín đồ Công giáo dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên ở thời điểm năm 1975 là trên dưới 100.000 người. Việc gia tăng nhanh tín đồ Công giáo là dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên cũng cần chú ý thời gian sau năm 1975 khi người Kinh, trong đó có người Kinh theo Công giáo ở mọi miền đất nước lên Tây Nguyên. Đầu tiên là các đợt đi xây dựng vùng “kinh tế mới” có kế hoạch từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Sau đó bước vào thời kỳ đổi mới, mở cửa, kinh tế thị trường, người Kinh ở cả nước và các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc “tự do” lên cư trú ở Tây Nguyên. Tín đồ Công giáo là người Kinh lại là lực lượng hỗ trợ cho việc truyền giáo, củng cố đức tin, hướng dẫn, hiệu chỉnh các sinh hoạt tôn giáo và truyền giáo trong vùng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

Theo báo cáo từ Ban Tôn giáo các địa phương, năm 2020, số tín đồ Công giáo là dân tộc thiểu số/ tổng số tín đồ ở các tỉnh Tây Nguyên và Bình Phước là 470.643 trong tổng số 1.180.085 tín đồ, trong đó Kon Tum: 141.244 tín đồ, Lâm Đồng: 130.150 tín đồ, Gia Lai: 86.781 tín đồ, Đắk Lắk: 56.000 tín đồ, Đắk Nông: 26.144 tín đồ,… Ngoài ra, số Công giáo là dân tộc thiểu số ở các tỉnh duyên hải miền Trung và Đồng Nai là 45.000 tín đồ, riêng tỉnh Đồng Nai: 25.570 tín đồ.

2.2. Đạo Tin Lành trong dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên

Đối với một tôn giáo có nét đặc trưng riêng biệt là phát triển rất thuận lợi và có nhiều kinh nghiệm hoạt động ở vùng dân tộc thiểu số, nên khi đến Việt Nam, một xứ sở có nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, đạo Tin Lành không thể không nắm lấy và khai thác. Truyền đạo Tin Lành lên Tây Nguyên được bắt đầu từ Bắc Tây Nguyên và Nam Tây Nguyên từ năm 1926 do các giáo sỹ của Hội Truyền giáo - CMA và các mục sư, truyền đạo người Việt. Việc truyền giáo lên Tây Nguyên thời gian đầu không đạt được kết quả như mong muốn, vì một mặt cạnh tranh với Công giáo; mặt khác, Pháp có chính sách hạn chế hoạt động của đạo Tin Lành ở Tây Nguyên,...

Giai đoạn 1954-1975, Hội truyền giáo CMA, Hội thánh Tin Lành Việt Nam và các tổ chức Tin Lành khác được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức từ thiện quốc tế, tăng cường truyền giáo lên vùng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Việc truyền đạo Tin Lành ở Tây Nguyên những năm 1954 -1975 đã đưa lại kết quả quan trọng. Theo tài liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ, số tín đồ và mục sư, truyền đạo là người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên qua các thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975. Cụ thể: Năm 1954: 6.000 tín đồ, 70 chi hội, 47 mục sư, truyền đạo; năm 1975: 62.000 tín đồ, 235 chi hội, 152 mục sư, truyền đạo, 75 truyền đạo sinh. Riêng Hội thánh Tin Lành Việt Nam, ở thời điểm năm 1975 với 50.000 tín đồ, 216 chi hội, 135 mục sư, truyền đạo.

Sau ngày giải phóng miền Nam (1975), tất cả các mục sư người nước ngoài rút về nước, các tổ chức Tin Lành mất đi sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế; mặt khác, các tổ chức Tin Lành ở miền Nam đều không được công nhận tư cách pháp nhân, không được hoạt động về tổ chức. Riêng ở Tây Nguyên tổ chức FULRO - một tổ chức chính trị phản động mang tư tưởng ly khai, lợi dụng một số mục sư, truyền đạo, tín đồ Tin Lành ở Tây Nguyên hoạt động chính trị chống lại cách mạng. Trong bối cảnh đó, để đấu tranh chống tổ chức phản động FULRO, ổn định tình hình chính trị, các địa phương ở Tây Nguyên ngừng tất cả các hoạt động của đạo Tin Lành. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh ngừng hoạt động nhưng đạo Tin Lành vẫn tồn tại, phát triển và phát triển rất nhanh, tạo ra sự bùng nổ về người theo đạo Tin Lành ở Tây Nguyên, nhất là những năm cuối của thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Đến 2025 số lượng của đạo Tin Lành là dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và Bình Phước là 616.000 tín đồ, 1.347 chức sắc, 1.700 chức việc, 1.338 điểm nhóm đã đăng ký/1.711 điểm nhóm (chiếm hơn 78%), 265 cơ sở thờ tự,… của 33 tổ chức hệ phái Tin Lành.

Như vậy, quá trình truyền đạo và theo đạo Tin Lành ở Tây Nguyên qua hai giai đoạn trước và sau năm 1975. Hai giai đoạn có sự khác nhau về mọi khía cạnh, lực lượng truyền giáo và điều kiện truyền giáo nhưng số lượng tín đồ và phạm vi hoạt động của đạo Tin Lành có sự khác nhau. Nếu trước năm 1975 đạo Tin Lành chỉ có ở một số dân tộc thiểu số và tập trung ở một số địa phương, thì đến nay đạo Tin Lành có ở các dân tộc thiểu số trên địa bàn vùng đất Tây Nguyên. Và so với năm 1975 số lượng tín đồ dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đến năm 2025 tăng gấp hơn 11 lần.

3. PHẬT GIÁO NAM TÔNG TRONG NGƯỜI KHMER VÀ ĐẠO BÀLAMÔN, HỒI GIÁO TRONG NGƯỜI CHĂM

Nếu xét từng dân tộc theo tôn giáo, thì ngoài người Mông theo Công giáo và đạo Tin Lành, ở Việt Nam có hai dân tộc theo tôn giáo với đặc trưng riêng là người Khmer theo Phật giáo Nam tông và người Chăm theo đạo Bàlamôn và Hồi giáo.

3.1. Phật giáo Nam tông trong người Khmer

Qua hiện vật khảo cổ và truyền thuyết, Phật giáo truyền vào Phù Nam (Nam Bộ ngày nay) từ khá sớm khoảng thế kỷ VI cùng với việc truyền vào vùng đất Chân Lạp (Campuchia ngày nay). Thời kỳ đầu, Phật giáo truyền vào Chân Lạp và Phù Nam từ cả hai dòng Bắc tông và Nam tông cùng tồn tại với đạo Bàlamôn. Cũng như ở Chân Lạp, vì nhiều lý do, cuối cùng Phật giáo Bắc tông ở Phù Nam nhường chỗ cho Phật giáo Nam tông. Điều cần quan tâm, sau khi vương quốc Phù Nam suy vong, người Phù Nam lưu tán nên cả Phật giáo và đạo Bàlamôn đều suy giảm. Phải đợi đến thời kỳ người Khmer từ Campuchia sang định cư thì Phật giáo Nam tông mới phát triển nhanh và rộng rãi. Thế kỷ XVII hầu hết những nơi người Khmer sinh sống ở Nam Bộ đều theo Phật giáo Nam tông, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ở các phum sóc của người Khmer đều có ngôi chùa của Phật giáo Nam tông. Tương tự như Phật giáo Nam tông ở Campuchia, Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ cũng có hai dòng (hoặc giáo phái): Dòng bình dân và dòng quý tộc, trong đó dòng bình dân (Mahanikay) là chủ yếu. Riêng Phật giáo Nam tông tỉnh An Giang theo dòng quý tộc (Thommayud).

Sau đây là số liệu về Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ. Trước hết là các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long (vùng Tây Nam Bộ) ở thời điểm năm 2020 là 1.155.097 tín đồ chiếm đến hơn 95% tổng số người Khmer, 7.891 sư sãi, 445 chùa, trong đó Sóc Trăng 396 tín đồ Trà Vinh 304.845 tín đồ, Kiên Giang 210.899 tín đồ, An Giang 62.903 tín đồ, Bạc Liêu 68.129 tín đồ, Hậu Giang 26.257 tín đồ, Cà Mau 40.000 tín đồ, Vĩnh Long 22.771 tín đồ, Cần Thơ 22.294 tín đồ. Ngoài ra, Phật giáo Nam tông ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ (ở thời điểm năm 2012) là: 48.528 tín đồ.

Đối với người Khmer, Phật giáo Nam tông là tôn giáo của dân tộc Khmer, là thể hiện nét đặc sắc về văn hóa và là sự khác biệt giữa dân tộc Khmer với các dân tộc khác ở Việt Nam. Sự khác biệt này là ở các yếu tố liên quan đến chức sắc - nhà tu hành, đến cơ sở thờ tự, tổ chức và các lễ hội truyền thống.

3.2. Đạo Bàlamôn và Hồi giáo trong người Chăm

Theo hiểu biết hiện nay, các tôn giáo ở Ấn Độ, trong đó có đạo Bàlamôn truyền vào các nước Đông Nam Á bằng hai con đường: thủy và bộ. Các nhà khoa học cho rằng đạo Bàlamôn có mặt ở Chăm Pa rất sớm, khoảng đầu Công nguyên, từ Ấn Độ sang. Thế kỷ VII, đạo Bàlamôn, đúng hơn là đạo Shiva đã trở thành tôn giáo chính thống của đa số các đời vua Chăm Pa.

Cũng như nhiều dân tộc ở Đông Nam Á, người Chăm có nền văn hoá lâu đời, hướng theo “tính mạnh” nên khi đạo Bàlamôn vào người Chăm đã bị bản địa hóa, hình thành một tôn giáo khác nhiều so với gốc đạo Bàlamôn tại Ấn Độ. Đa số người Chăm theo đạo Bàlamôn không hiểu biết đầy đủ giáo lý, giáo luật của đạo Bàlamôn. Sự hiểu biết về giáo lý, giáo luật chủ yếu trong tầng lớp chức sắc với những tên gọi đã bị Chăm hóa. Người Chăm theo đạo Bàlamôn chỉ có ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận với số lượng là 70.506 tín đồ (trong tổng số 178.948 người Chăm ở Việt Nam), 284 chức sắc, chức việc, 42 cơ sở thờ tự (đền/tháp).

Hồi giáo truyền đến người Chăm từ thế kỷ X, XI liên quan đến các thương gia và các nhà truyền giáo Ảrập Xêút, Ba Tư (Iran). Tuy nhiên, Hồi giáo không vượt qua được đạo Bàlamôn nên có rất ít người theo. Không những thế Hồi giáo có sự dung hợp với đạo Bàlamôn hình thành một loại hình tôn giáo mới là đạo Bàni hay Awal, quen gọi là Hồi giáo Bàni hay Chăm Bàni, tương tự như đạo Sikh ở Ấn Độ. Điều cần quan tâm đạo Bàni có mối quan hệ thân thiết với đạo Bàlamôn, như anh em. Các ngày lễ, nhất là các lễ hội của mỗi tôn giáo đều có sự tham gia của cả hai tôn giáo. Người Chăm theo đạo Bàni lại không có mối quan hệ nào với người Chăm theo Hồi giáo và thế giới Hồi giáo. Hiện nay đạo Bàni có gần 50.000 tín đồ tập trung ở hai tỉnh Bình thuận và Ninh Thuân. Cụ thể ở Ninh Thuận: 28.000 tín đồ, 108 chức sắc, chức việc, 08 cơ sở tôn giáo; Bình Thuận: 20.000 tín đồ, 329 chức sắc, chức việc, 10 cơ sở tôn giáo.

Sau biến cố 1471, vương quốc Chăm Pa suy vong và các biến động chính trị, xã hội thời Hậu Chăm Pa, người Chăm lưu tán sang Campuchia. Tại Campuchia, người Chăm tiếp xúc với người Mã Lại theo Hồi giáo. Vì cùng nhóm ngôn ngữ nên người Chăm theo Bàlamôn, theo đạo Bàni đã chuyển sang theo Hồi giáo. Từ đây hình thành cộng đồng người Chăm theo Hồi giáo ở Campuchia. Dưới triều nhà Nguyễn, giữa thế kỷ XIX vì nhiều lý do, người Chăm theo Hồi giáo từ Campuchia về vùng Châu Đốc (sau này thuộc tỉnh An Giang) định cư, hình thành những cộng đồng người Chăm theo Hồi giáo ở Việt Nam. Từ sau năm 1945, một số người Chăm theo Hồi giáo từ Châu Đốc đến Sài Gòn sinh sống hình thành những cộng đồng theo xóm, khu sống xen kẽ với người Kinh. Cộng đồng Chăm Hồi giáo tại những vùng khác ở Nam Bộ như Tây Ninh, Đồng Nai,... được hình thành sau này trong những hoàn cảnh cụ thể. Riêng cộng đồng người Chăm theo Hồi giáo ở Bình Thuận hình thành từ 2013 liên quan đến cuộc hôn nhân giữa người Chăm Hồi giáo với người Chăm Bàni.

Người Chăm ở Nam Bộ theo Hồi giáo chính thống gọi là Asulam, quen gọi là Chăm Islam. Người Chăm Hồi giáo giữ đức tin theo Kinh Koran, thực hành tôn giáo theo năm trụ cột truyền thống, như tuyên xưng đức tin, ăn chay Ramadan, bố thí, hành hương. Đặc biệt, người Chăm theo Hồi giáo vẫn giữ các quan hệ với thế giới Hồi giáo, nhất là Hồi giáo khu vực Đông Nam Á. Theo Thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 2019, số người Chăm theo Hồi giáo là 32.734 tín đồ, 64 cơ sở tôn giáo (41 thánh đường và 23 tiểu thánh đường), 539 chức sắc, chức việc với 04 Ban Đại diện Hồi giáo ở các tỉnh: An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Ninh Thuận.

Ngoài các cộng đồng dân tộc theo tôn giáo như trên, ở Việt Nam còn có khoảng trên dưới 400 nghìn người dân tộc thiểu số theo các tôn giáo, như người Mường, Tày, Nùng, Dao,... ở Tây Bắc theo Phật giáo, Công giáo và đạo Tin Lành; một số dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên theo Phật giáo, đạo Cao Đài; người Khmer, người Chăm ở Nam Bộ theo Công giáo, đạo Tin Lành,... và người Hoa theo Phật giáo và các tôn giáo khác.

4. KẾT LUẬN

Tôn giáo trong vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam là một trong những nét đặc thù về tôn giáo, về dân tộc của Việt Nam. Mối quan hệ giữa dân tộc với tôn giáo cần chú ý những nét riêng trong những trường hợp cụ thể.

Mối quan hệ giữa dân tộc thiểu số ở Việt Nam đều cư trú ở những vùng đất có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội ảnh hưởng rất lớn đến ổn định và phát triển của đất nước. Đồng bào dân tộc thiểu số theo tôn giáo đặt ra cùng một lúc thực hiện cả hai chính sách: chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo. Chính sách dân tộc là bình đẳng giữa các dân tộc, là nâng cao đời sống dân sinh, trình độ dân trí, là giữ gìn bản sắc văn hoá,... Chính sách tôn giáo là tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhìn nhận và phát huy các giá trị tích cực về văn hoá, đạo đức của các tôn giáo,... Tránh việc vì lý do theo tôn giáo mà không thực hiện đầy đủ và đúng đắn chính sách dân tộc, và cũng không vì lý do dân tộc mà không thực hiện đầy đủ và đúng đắn chính sách tôn giáo.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Tôn giáo Chính phủ (1980), Tình hình đạo Tin Lành ở miền Nam trước ngày giải phóng miền Nam (1975), Phòng Tư liệu, Hà Nội.

2. Ban Tôn giáo Chính phủ (1992), Tình hình truyền đạo Tin Lành trong người Mông năm 1991, Phòng Tư liệu, Hà Nội.

3. Ban Tôn giáo Chính phủ (2004), Báo cáo tình hình đạo Tin Lành trong vùng dân tộc thiểu số (năm 2004), Phòng Tư liệu, Hà Nội.

4. Ban Tôn giáo Chính phủ (2004), Báo cáo tình hình đạo Tin Lành trong vùng dân tộc thiểu số (năm 2004), Hà Nội.

5. Ban Tôn giáo Chính phủ (2015), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 01/CT-TTg (2005-2015) Về một số công tác đối với đạo Tin Lành, Hà Nội.

6. Ban Tôn giáo Chính phủ - Vụ Tin Lành (2019), Tổng hợp tình hình đạo Tin Lành (tháng 4/2019), Hà Nội.

7. Ban Tôn giáo Chính phủ (2019), Tổng quan Phật giáo Nam tông Khmer ở Nam Bộ (Đề tài nghiên cứu 2019), Hà Nội.

8. Ban Tôn giáo Chính phủ (2020), Tổng hợp số liệu báo cáo của Ban Tôn giáo các tỉnh Tây Nguyên và Bình Phước năm 2020, Hà Nội.

9. Ban Tôn giáo Chính phủ (2025), Đánh giá 20 năm thực hiện Chỉ thị 01/CT-TTg Về một số công tác đối với đạo Tin Lành (2005-2025), Hà Nội.

10. Ban Tôn giáo tỉnh Ninh Thuận và Ban Tôn giáo tỉnh Bình Thuận (2022), Báo cáo buổi làm việc với Đoàn cán bộ Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tháng 12/2022.

11. Bộ Tuyên truyền (1955), Tội các của đế quốc Mỹ, phái thực dân Pháp phản Hiệp định và bè lũ Ngô Đình Diệm trong âm mưu cưỡng ép và dụ dỗ đồng bào di cư ở Việt Nam, Hà Nội, tháng 8/1955.

12. G.E. Coedès (2011), Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông, Nxb. Thế giới, Hà Nội.

13. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2006), Giáo hội Công giáo Việt Nam - Niên giám 2005, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.

14. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2016), Giáo hội Công giáo Việt Nam - Niên giám 2015, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.

15. Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo Hội Phật giáo Việt Nam (2012), Tài liệu hội nghị chuyên đề Phật giáo Nam tông lần thứ V, Văn phòng Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam ấn hành, Hà Nội.

16. Lê Đình Lợi (2019), Công giáo trong cộng đồng người Mông ở Lào Cai (Phần Phụ lục), Luận án Tiến sỹ Tôn giáo học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

17. Nguyễn Văn Luận (1974), Người Chàm Hồi giáo miền Tây Nam phần, Tủ sách biên khảo, Bộ Văn hoá giáo dục và thanh niên, Sài Gòn.

18. Nguyễn Quang Ngọc - Chủ biên (2019), Hỏi và đáp về lịch sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

19. Bạch Thanh Sang (2019), Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước vùng Tây Nam Bộ, Luận án Tiến sỹ Tôn giáo học (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), Hà Nội.

20. Trần Hữu Sơn (1996), Văn hóa Mông, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

21. Trần Quảng Thuận (2008), Phật giáo Nam tông tại Đông Nam Á, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.

22. Nguyễn Thanh Xuân (2019), Đạo Tin Lành trên thế giới và ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.

23. Nguyễn Thanh Xuân - Nguyễn Quỳnh Trâm (2024), Tôn giáo vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo.