Từ khóa: Đại đoàn kết dân tộc; Giảm nghèo; Dân tộc thiểu số.
1. Cơ sở lý luận về giảm nghèo và đại đoàn kết dân tộc
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi xóa đói, giảm nghèo “không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề nhân đạo, đạo đức và chính trị. Chỉ khi xóa được đói, giảm được nghèo chúng ta mới từng bước xây dựng được chế độ xã hội chủ nghĩa, mới có thể làm cho tất cả mọi người Việt Nam trở nên ấm no, hạnh phúc [2]. Nhưng “Chủ nghĩa xã hội là gì?” Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Là no ấm. Gì nữa? Là đoàn kết, vui khỏe” [3].
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” nhân kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2021) và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 (ngày 23/5/2021) phân tích: một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển”; “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo”.
Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán những nội dung cơ bản trong chủ trương, chính sách dân tộc là: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển” [4]. “Các nội dung cơ bản của chính sách dân tộc là một khối liên kết chặt chẽ, bổ sung cho nhau, phải bình đẳng, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển thì mới đoàn kết, phải đoàn kết thực sự, thực lòng thì mới có thể thực hiện được bình đẳng, mới thực sự tôn trọng nhau và xác định giúp nhau cùng phát triển” [5].
Tại Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đã xác định định hướng chính sách đối với các dân tộc thiểu số (DTTS) nhằm tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc là: “Tập trung phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc” [6].
Đầu tư, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất nâng cao hiệu quả giảm nghèo để thu hẹp khoảng cách vùng miền, tạo công bằng xã hộiSau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, tại Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Nghị quyết đề ra quan điểm: “lấy mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc; trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 làm điểm tương đồng để động viên, cổ vũ Nhân dân đồng lòng, chung sức thực hiện vì tương lai của dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân”. Đối với cộng đồng các DTTS, Nghị quyết yêu cầu: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, phát huy nội lực, vươn lên cùng phát triển”.
Mới đây, bài viết “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để phát triển đất nước” của Tổng Bí thư Tô Lâm được các phương tiện thông tin đại chúng đồng loạt đăng tải ngày 17/11/2025 cũng nhấn mạnh: “không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ quyền lợi chính đáng của Nhân dân. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực củng cố khối đại đoàn kết”.
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng và các bài viết của người đứng đầu Đảng ta đều nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân với vấn đề đại đoàn kết dân tộc. Muốn nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cần tập trung giải quyết bài toán giảm nghèo cho Nhân dân. “Khi dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, khi mọi người dân đều được hưởng thành quả phát triển công bằng, thì khối đại đoàn kết càng bền chặt, không thế lực nào kích động chia rẽ được [1]”.
2. Vai trò của công tác giảm nghèo đối với củng cố đại đoàn kết dân tộc
Trong các chiến lược phát triển quốc gia, xóa đói giảm nghèo luôn được xem là trụ cột quan trọng để tạo dựng công bằng xã hội. Không phải vì nghèo là vấn đề duy nhất, mà vì nghèo chính là “nút thắt” đầu tiên khiến những nhóm yếu thế bị tụt hậu. Khi nghèo đói chưa được xử lý, mọi chính sách phát triển khác đều vận hành kém hiệu quả. Nghèo không chỉ là thiếu thu nhập mà còn là thiếu cơ hội tiếp cận dịch vụ công, thiếu điều kiện học hành, thiếu kỹ năng lao động, thiếu khả năng tham gia thị trường, thiếu tiếng nói trong đời sống cộng đồng... Khi những thiếu hụt đó không được tháo gỡ, nghèo đói sẽ dẫn đến xung đột lợi ích, phân mảnh và suy giảm gắn kết cộng đồng.
Dựa trên những lý thuyết đó, công tác giảm nghèo có vai trò lớn trong việc củng cố đại đoàn kết dân tộc, thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, giảm nghèo giúp thu hẹp khoảng cách vùng miền, tạo công bằng xã hội
Khoảng cách vùng miền, dân tộc bắt nguồn từ bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực. Các khu vực khó khăn thường đối mặt với giao thông kém, điện, nước thiếu ổn định, giáo dục chưa đồng đều, mạng lưới y tế mỏng, hạ tầng số yếu… Thiếu hụt thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản gây ảnh hưởng đến khả năng tham gia của người dân vào các hoạt động kinh tế - xã hội, từ đó hạn chế vai trò của họ trong phát triển cộng đồng. Nếu khoảng cách giàu nghèo nới rộng, người nghèo càng có cảm giác bị bỏ rơi thì nguy cơ xung đột xã hội càng gia tăng. Giảm nghèo chính là làm giảm khoảng cách thu nhập và điều kiện sống. Hiệu quả của công tác giảm nghèo góp phần hạn chế tình trạng so bì, tỵ nạnh giữa các dân tộc, giảm bất bình đẳng trong thụ hưởng thành quả phát triển của đất nước. Khi bình đẳng xã hội được tăng cường, nguy cơ phân hóa giảm, đồng thuận xã hội đối với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước tăng lên, từ đó củng cố mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc.
Thứ hai, giảm nghèo giúp tăng cường niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước
Thúc đẩy giảm nghèo tức là giải quyết đúng nhu cầu đang được người dân quan tâm nhất, đó là những vấn đề xoay quanh đời sống, thu nhập, điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, thông tin liên lạc, nhà ở, vệ sinh môi trường)… Đối với hệ thống chính trị, chăm lo cho người yếu thế, đồng bào DTTS thể hiện trách nhiệm đạo đức và chính trị. Những chương trình giảm nghèo được Đảng và Nhà nước chỉ đạo triển khai hiệu quả giúp người dân cảm nhận rõ sự quan tâm trong chính sách và sự chuyển hóa của quyết tâm “không để ai bị bỏ lại phía sau” thành những kết quả cụ thể trong thực tiễn đời sống. Mặt khác, hiệu quả giảm nghèo cũng phản ánh khả năng thiết kế chính sách, phân bổ nguồn lực và tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Khi đồng bào thấy Đảng, Nhà nước hành động đúng, nhanh, hiệu quả, niềm tin vào đường lối, chính sách được nâng lên. Tại vùng đồng bào DTTS và miền núi, sự tin tưởng này trở thành nhân tố quyết định bảo đảm an ninh trật tự và giữ gìn ổn định xã hội. Niềm tin xã hội càng bền vững thì khối đại đoàn kết càng vững mạnh.
Thứ ba, giảm nghèo tạo ra động lực hợp tác và tương trợ trong cộng đồng
Nghèo đói là rào cản lớn nhất khiến cộng đồng suy yếu. Khi từng hộ còn chật vật với cái ăn, cái mặc, họ buộc phải co cụm, ưu tiên lợi ích trước mắt của gia đình hơn là tham gia vào các hoạt động chung của cộng đồng. Thiếu thốn kéo theo tâm lý phòng thủ, sự bất an về tương lai và suy giảm lòng tin vào khả năng hợp tác cùng nhau giải quyết vấn đề. Bởi vậy, nghèo không chỉ là câu chuyện kinh tế mà còn là lực cản vô hình làm đứt gãy sợi dây hợp tác trong cộng đồng. Nếu chính sách giảm nghèo được triển khai hiệu quả, các rào cản này dần được tháo gỡ, từ đó hình thành động lực hợp tác mạnh mẽ hơn. Cải thiện đời sống cũng giúp người dân củng cố niềm tin vào hàng xóm, vào thiết chế thôn bản và vào chính sách của Nhà nước - những yếu tố then chốt để cấu trúc xã hội vận hành lành mạnh. Khi thu nhập, sinh kế và năng lượng tinh thần được cải thiện, người dân chuyển sang hợp tác để mở rộng sinh kế, chia sẻ kinh nghiệm và liên kết sản xuất. Đó là nền tảng đầu tiên để chuyển từ tình trạng “mạnh ai nấy lo” sang trạng thái sẵn sàng hợp tác. Nói cách khác, giảm nghèo không chỉ nâng cao thu nhập mà còn giải phóng năng lực hợp tác, trực tiếp thúc đẩy gia tăng liên kết xã hội.
Thứ tư, giảm nghèo giúp ổn định chính trị xã hội, tạo “thế trận lòng dân” vững chắc
Giảm nghèo và ổn định chính trị xã hội luôn song hành như hai mặt của một vấn đề. Khi đời sống người dân được cải thiện, vòng luẩn quẩn của thiếu thốn - bất mãn - dễ bị kích động dần được tháo gỡ. Người dân có việc làm, có sinh kế ổn định thì từ những mâu thuẫn nhỏ trong cộng đồng tới các biểu hiện cực đoan đều giảm. Đó không phải nhận định cảm tính, mà là quy luật của mọi nền quản trị. Đời sống được bảo đảm thì lòng người tự nhiên yên. Ở góc độ quản lý nhà nước, giảm nghèo tạo ra sự “đồng pha” giữa mục tiêu phát triển của Nhà nước và mong muốn của người dân. Các chương trình hỗ trợ sinh kế, hạ tầng, y tế, giáo dục… được triển khai hiệu quả ở vùng khó khăn gửi đi một thông điệp rõ ràng: Nhà nước không để ai bị bỏ lại phía sau. Thông điệp ấy góp phần củng cố niềm tin xã hội, tăng mức độ chấp nhận chính sách và hạn chế các nguy cơ bị lợi dụng bởi thông tin xấu độc.
Giữ được ổn định chính trị xã hội là xây dựng được “thế trận lòng dân”. Khi người dân cảm thấy mình có vị trí trong tiến trình phát triển, có cơ hội vươn lên thì họ có lý do để gắn bó với cộng đồng, với quốc gia. Khi khoảng cách phát triển được thu hẹp, sự gắn kết giữa các nhóm cộng đồng được củng cố, người dân khó bị tác động bởi các yếu tố gây bất ổn. Vì vậy, giảm nghèo không chỉ là chính sách kinh tế - xã hội mà là giải pháp chiến lược để xây dựng sự đồng thuận xã hội, bảo đảm an ninh, nuôi dưỡng niềm tin của Nhân dân - những yếu tố quyết định sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.
3. Kết luận
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc. Hiện nay, tại vùng đồng bào DTTS và miền núi vẫn đang tồn tại 5 vấn đề nổi bật: (1) Điều kiện cơ sở hạ tầng khó khăn nhất. (2) Chất lượng nhân lực thấp nhất. (3) Kinh tế - xã hội chậm phát triển nhất. (4) Tiếp cận dịch vụ xã hội khó khăn nhất. (5) Tỷ lệ hộ nghèo cao nhất. Đây là những yếu tố luôn bị các thế lực thù địch triệt để khai thác, lợi dụng nhằm tạo nên những “điểm nóng” ở nhiều khu vực, qua đó chia rẽ các dân tộc, gây ra các vụ xung đột, bạo loạn, khủng bố… để “quốc tế hóa” vấn đề dân tộc, “tạo cớ cho các thế lực thù địch can thiệp vào công việc nội bộ, phá hoại nền độc lập, thống nhất và sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa của cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam” [10].
Nhận thức rõ mối quan hệ biện chứng giữa giảm nghèo với củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc ban hành và ưu tiên bố trí nguồn lực thực hiện các chính sách giảm nghèo tại vùng đồng bào DTTS và miền núi. Theo báo cáo của Chính phủ tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, tỷ lệ hộ nghèo DTTS cuối năm 2024 còn 12,55%. Thành tựu giảm nghèo của Việt Nam thể hiện quyết tâm cao của Chính phủ trong thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Việt Nam cũng được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao là một trong những nước có tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhất thế giới, đạt được những tiến bộ ấn tượng nhất trong các mục tiêu phát triển bền vững mà Việt Nam cam kết thực hiện. Theo Liên Hợp quốc, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2025 xếp thứ 46, tăng 37 bậc so với năm 2020 và “chúng ta đã giữ được “trong ấm, ngoài êm”, “củng cố, tăng cường niềm tin vững chắc của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước” [6].
Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy giảm nghèo góp phần trực tiếp vào việc thu hẹp khoảng cách vùng miền, tăng cường niềm tin xã hội và tạo dựng môi trường phát triển bền vững. Đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới, hơn bao giờ hết, cần tiếp tục ưu tiên hàng đầu cho việc củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết, xem đó là nhân tố then chốt đưa đất nước phát triển. Trong bối cảnh mới, giảm nghèo tiếp tục là giải pháp quan trọng để củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tài liệu tham khảo
1. Tổng Bí thư Tô Lâm (2025), Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để phát triển đất nước, https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/phat-huy-suc-manh-dai-doan-ket-toan-dan-toc-de-phat-trien-dat-nuoc-1011684.
2. Tạp chí Lý luận chính trị, Tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói, giảm nghèo và sự vận dụng của Đảng ta trong điều kiện mới, https://lyluanchinhtri.vn/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-xoa-doi-giam-ngheo-va-su-van-dung-cua-dang-ta-trong-dieu-kien-moi-6757.html, truy cập ngày 20/9/2025.
3. Ủy ban Dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Bài nói chuyện với cán bộ và học sinh Trường Sư phạm miền núi Nghệ An, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2013, tr.584.
4. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ Bẩy, Ban Chấp hành Trung ương Khóa IX về công tác dân tộc.
5. Chính phủ (2025), Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026-2035.
6. Hoàng Xuân Lương, Dân tộc và Phát triển, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2013, tr.214.
7. Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
8. Chính phủ, Báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và 5 năm 2021-2025; dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.
9. Nguyễn Phú Trọng (2021), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/- asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-chu-nghia-xa-hoi-va-con-duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam.
10. Trần Xuân Dung (2020), Giải pháp cơ bản cấp bách phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta và đề xuất bổ sung, hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Tài liệu Hội thảo Góp ý nội dung công tác dân tộc trong Dự thảo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tr.219-220.