Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong phát triển đất nước

ThS. Nguyễn Duy Dũng - 09:28, 30/01/2026

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, đóng vai trò nền tảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong kỷ nguyên mới với những biến động toàn cầu, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam.

Bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận, thựctrạng và các giải pháp nhằm củng cố, phát huy vai trò khối đại đoàn kết toàndân tộc trong giai đoạn hiện nay, qua đó, khẳng định tầm quan trọng của đoàn kếtdân tộc như một “nguồn lực mềm” đặc biệt, góp phần đưa đất nước phát triển giàumạnh, dân chủ, văn minh trong thời kỳ phát triển và hội nhập.

 1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, đại đoàn kết (ĐĐK) toàn dân tộc luôn được khẳng định là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh to lớn làm nên mọi thắng lợi của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” (Hồ Chí Minh, 2011, Toàn tập, Tập 13, tr.119), khẳng định giá trị trường tồn của tinh thần đoàn kết như một quy luật phát triển và là nền tảng của mọi thành tựu. Bước sang kỷ nguyên mới, bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số, biến động địa chính trị và thách thức an ninh phi truyền thống đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát huy hơn nữa vai trò của khối ĐĐK toàn dân tộc nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, khối ĐĐK không chỉ mang ý nghĩa chính trị - xã hội mà còn trở thành nguồn lực mềm cho phát triển. Việc củng cố khối ĐĐK giữa các giai tầng xã hội, giữa các dân tộc, tôn giáo, vùng miền… là điều kiện tiên quyết để đảm bảo ổn định chính trị, tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy trí tuệ và nội lực dân tộc. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, thực tiễn cũng cho thấy những biểu hiện phân hóa xã hội, suy giảm niềm tin, tác động tiêu cực của truyền thông mạng, cùng xu hướng cá nhân hóa trong đời sống xã hội đang đặt ra những thách thức mới đối với khối ĐĐK toàn dân tộc.

Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp phát huy vai trò của khối ĐĐK toàn dân tộc trong bối cảnh kỷ nguyên số không chỉ mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, mà còn góp phần định hướng chiến lược phát triển đất nước theo hướng “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận và khung khái niệm

a) Khái niệm về đại đoàn kết toàn dân tộc

ĐĐK toàn dân tộc là khái niệm trung tâm trong tư tưởng chính trị - xã hội ở Việt Nam, phản ánh sự thống nhất về ý chí, lợi ích và hành động của toàn thể nhân dân Việt Nam trên nền tảng các giá trị yêu nước, nhân nghĩa và tinh thần cộng đồng. Xét về bản chất, đó là sự gắn kết chặt chẽ giữa các giai tầng xã hội, dân tộc, tôn giáo, vùng miền và người Việt Nam ở trong, ngoài nước nhằm hướng tới mục tiêu chung là độc lập dân tộc, dân chủ, công bằng và phát triển bền vững.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là “then chốt của thành công”, là biểu hiện cao nhất của sức mạnh nhân dân, nơi mọi người “đều là con Lạc cháu Hồng”, cùng chung vận mệnh và trách nhiệm với Tổ quốc. Về mặt lý luận, khối ĐĐK toàn dân tộc là sự kết hợp giữa các yếu tố: chính trị, kinh tế, văn hóa tinh thần. Trong kỷ nguyên mới, khái niệm này không chỉ giới hạn ở phạm vi cộng đồng dân cư truyền thống, mà còn mở rộng tới các chủ thể xã hội mới, phản ánh tính năng động, bao trùm và thích ứng của tinh thần đoàn kết dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số.

b) Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của khối ĐĐK toàn dân tộc được hình thành trên nền tảng tư tưởng Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử, là lực lượng quyết định tiến trình phát triển xã hội. Sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng tiềm lực kinh tế hay quân sự, mà còn bởi mức độ liên kết, thống nhất và đồng thuận trong nội bộ xã hội. Từ góc nhìn đó, đoàn kết dân tộc chính là biểu hiện cụ thể của “sức mạnh nhân dân”, một yếu tố quyết định trong mọi giai đoạn phát triển.

Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển lý luận đó thành hệ giá trị đặc thù, coi ĐĐK toàn dân tộc là “đường lối chiến lược, là then chốt của thành công”. Người xác định đoàn kết phải dựa trên nguyên tắc lấy dân làm gốc, kết hợp giữa cái chung và cái riêng, giữa lợi ích toàn dân với lợi ích của từng giai tầng, từng dân tộc và tôn giáo. Đoàn kết, theo Hồ Chí Minh, không chỉ là khẩu hiệu chính trị, mà là động lực vật chất và tinh thần của cách mạng, gắn bó mật thiết với dân chủ, công bằng và nhân văn.

Về phương diện khoa học chính trị - xã hội, khối ĐĐK toàn dân tộc có thể được lý giải bằng các lý thuyết về vốn xã hội, quản trị cộng đồng và phát triển bền vững. Các học thuyết này chỉ ra rằng: niềm tin xã hội, mạng lưới hợp tác và sự gắn kết cộng đồng chính là những yếu tố then chốt tạo nên năng lực cạnh tranh và khả năng phục hồi của một quốc gia. Trong điều kiện toàn cầu hóa và chuyển đổi số, vốn xã hội càng trở thành nền tảng cho sự hội nhập hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản sắc văn hóa dân tộc và giá trị phổ quát của nhân loại.

Vì vậy, ĐĐK toàn dân tộc là một cấu trúc động và mở, được duy trì bằng sự đồng thuận chính trị, chia sẻ kinh tế và gắn bó văn hóa tinh thần. Cơ sở lý luận này không chỉ khẳng định tính tất yếu khách quan của đoàn kết dân tộc trong tiến trình cách mạng Việt Nam, mà còn đặt nền tảng cho việc phát huy khối ĐĐK toàn dân tộc như một nguồn lực nội sinh quan trọng, thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, ổn định và bền vững trong kỷ nguyên hội nhập và chuyển đổi số.

c) Vai trò khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong phát triển đất nước

Khối ĐĐK toàn dân tộc là nền tảng chính trị - xã hội vững chắc của Nhà nước Việt Nam, đồng thời là động lực nội sinh quan trọng trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước. Xét trên bình diện lý luận và thực tiễn, sức mạnh ĐĐK dân tộc chính là yếu tố bảo đảm cho sự ổn định chính trị, gắn kết xã hội và phát triển bền vững. Trong mọi giai đoạn lịch sử, từ đấu tranh giành độc lập, thống nhất Tổ quốc cho đến công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tinh thần ĐĐK toàn dân luôn là nhân tố quyết định tạo nên sức mạnh tổng hợp của quốc gia.

Trong kỷ nguyên mới, vai trò của khối ĐĐK không chỉ dừng lại ở phạm vi truyền thống, mà còn mở rộng sang các lĩnh vực mới như quản trị số, đổi mới sáng tạo, bảo vệ môi trường và an ninh phi truyền thống. Phát huy đoàn kết dân tộc trở thành giải pháp chiến lược để kết nối người dân trong và ngoài nước, gắn kết cộng đồng truyền thống với cộng đồng mạng, hình thành sức mạnh tổng hợp, bền vững và linh hoạt, bảo đảm cho Việt Nam phát triển giàu mạnh, độc lập và hội nhập thành công.

2.2. Đại đoàn kết dân tộc là nhân tố quyết định bảo đảm ổn định chính trị - xã hội

Trong gần bốn thập niên đổi mới, khối ĐĐK toàn dân tộc ở Việt Nam đã được củng cố và phát huy mạnh mẽ, trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng thúc đẩy đất nước phát triển toàn diện và bền vững. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết và đường lối của Đảng, ĐĐK toàn dân tộc đã không ngừng mở rộng về quy mô, nâng cao về chất lượng và thích ứng linh hoạt với yêu cầu của thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số.

Trước hết, về chính trị, khối ĐĐK toàn dân tộc là nhân tố quyết định bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, giữ vững lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Cơ chế dân chủ ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện để Nhân dân tham gia vào quá trình hoạch định, giám sát và phản biện chính sách. Các tổ chức chính trị - xã hội, đặc biệt là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đã phát huy vai trò nòng cốt trong việc tập hợp, xây dựng khối liên minh giữa các giai tầng, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài, hình thành sức mạnh đồng thuận rộng lớn trong xã hội.

Về kinh tế - xã hội, tinh thần đoàn kết, tương trợ cộng đồng được phát huy mạnh mẽ, nhất là trong các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế tập thể. Nhiều mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp xã hội và phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo” đã thể hiện rõ tinh thần đoàn kết, sáng tạo, chia sẻ, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển vùng miền, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

Về văn hóa tinh thần, ĐĐK toàn dân tộc đã trở thành nền tảng quan trọng trong việc củng cố bản sắc văn hóa Việt Nam, tôn vinh giá trị đa dạng và giao thoa văn hóa giữa các vùng miền, dân tộc, tôn giáo. Các hoạt động văn hóa cộng đồng, lễ hội truyền thống, chương trình giao lưu dân tộc, tôn giáo được tổ chức thường xuyên, góp phần xây dựng không gian văn hóa chung của “nền văn hóa thống nhất trong đa dạng”.

Đặc biệt, trong bối cảnh kỷ nguyên số, khối ĐĐK được thể hiện qua tinh thần tương trợ, sẻ chia trong thiên tai, dịch bệnh và chuyển đổi kinh tế - xã hội. Phát huy sức mạnh đoàn kết đã giúp Việt Nam vượt qua nhiều thách thức toàn cầu, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh cộng đồng của dân tộc trên con đường phát triển giàu mạnh, bền vững và hội nhập sâu rộng.

Bên cạnh những thành tựu to lớn, quá trình phát huy khối ĐĐK toàn dân tộc hiện nay vẫn tồn tại một số hạn chế, đòi hỏi cần nhận diện thấu đáo và có giải pháp mang tính hệ thống. Đó là sự gắn kết và đồng thuận xã hội ở một số lĩnh vực, khu vực và nhóm xã hội chưa thật bền vững; vẫn còn biểu hiện phân hóa lợi ích, chênh lệch phát triển vùng miền, nhất là giữa khu vực đô thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

2.3. Củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ hội nhập và phát triển

Một là, nâng cao nhận thức chính trị - tư tưởng về đoàn kết dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi xã hội sâu sắc, cần tăng cường giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết; bồi dưỡng lòng yêu nước, ý thức cộng đồng và niềm tin chính trị, hình thành hệ giá trị chung, coi đoàn kết là sức mạnh nội sinh, nền tảng phát triển quốc gia bền vững.

Hai là, hoàn thiện thể chế, chính sách phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Cần xây dựng và thực thi các chính sách bảo đảm quyền tham gia, giám sát và phản biện xã hội của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, đồng thời, mở rộng các kênh dân chủ trực tiếp trên nền tảng công nghệ số. Bảo đảm để mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân chính là con đường bền vững để củng cố khối ĐĐK toàn dân tộc trong thời kỳ hội nhập và phát triển.

Ba là, tăng cường vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội trong nắm bắt, phản biện, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân. Phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội như cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân; nâng cao năng lực phản biện, giám sát xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, góp phần củng cố vững chắc khối ĐĐK toàn dân tộc.

Bốn là, thúc đẩy công bằng xã hội, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và nông thôn. Thúc đẩy công bằng xã hội là nền tảng để củng cố khối ĐĐK toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới. Cần thực hiện chính sách phát triển bao trùm, thu hẹp chênh lệch vùng miền; bảo đảm công bằng trong tiếp cận nguồn lực, giáo dục và an sinh xã hội; tôn trọng đặc trưng văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, qua đó củng cố niềm tin và tăng cường đoàn kết trong cộng đồng quốc gia.

Năm là, ứng dụng công nghệ số trong củng cố khối đoàn kết, phát huy dân chủ, kết nối tri thức và sáng kiến cộng đồng. Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện, công nghệ trở thành công cụ chiến lược để tăng cường gắn kết xã hội, phát huy dân chủ và lan tỏa tri thức cộng đồng. Cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị xã hội, tạo nền tảng kết nối người dân, Nhà nước, cộng đồng; phát huy dân chủ trực tuyến, chia sẻ tri thức, khuyến khích sáng kiến xã hội, qua đó tăng cường gắn kết, minh bạch và đồng thuận trong phát triển quốc gia.

3. Thảo luận

Trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, khối ĐĐK toàn dân tộc luôn giữ vị trí trung tâm, vừa là động lực, vừa là nguồn lực quyết định sự ổn định và phát triển bền vững của quốc gia. Tuy nhiên, trong bối cảnh kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế sâu rộng, nhiều thách thức mới đang đặt ra trong việc củng cố khối ĐĐK dân tộc, từ sự phân hóa xã hội, chênh lệch phát triển vùng miền, đến nguy cơ xói mòn niềm tin cộng đồng do tác động của thông tin sai lệch và các giá trị ngoại lai.

Phát huy sức mạnh ĐĐK toàn dân tộc đòi hỏi cách tiếp cận hệ thống, liên ngành và đa chiều, kết hợp giữa chính trị, văn hóa, kinh tế và công nghệ. Cần nhận thức rằng đoàn kết dân tộc không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu, mà phải được thể chế hóa bằng chính sách công bằng, minh bạch, bảo đảm quyền lợi của mọi nhóm xã hội, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, tôn giáo và người yếu thế. Đồng thời, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần được phát huy như một thiết chế trung gian, gắn kết ý chí của nhân dân với định hướng phát triển của Đảng và Nhà nước.

Trong kỷ nguyên mới, đoàn kết dân tộc cần được tái định nghĩa theo hướng mở, năng động và sáng tạo, một nền đoàn kết dựa trên chia sẻ tri thức, hợp tác phát triển và niềm tin vào giá trị chung “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

4. Kết luận

Khối ĐĐK toàn dân tộc là nền tảng chiến lược, bảo đảm sức mạnh nội sinhcho sự phát triển nhanh, bền vững và tự cường của đất nước trong kỷ nguyên mới.Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và biến động địa chính trị phức tạp,tinh thần đoàn kết dân tộc càng cần được củng cố bằng nhận thức chính trị vữngvàng, niềm tin xã hội sâu sắc và cơ chế thực thi hiệu quả. Phát huy sức mạnhĐĐK không chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là yêu cầu của phát triển bao trùm,hướng tới sự công bằng, bình đẳng và nhân văn. Mỗi tầng lớp nhân dân, mỗi cộngđồng dân tộc, tôn giáo cần được lắng nghe, tôn trọng và khơi dậy tiềm năng đónggóp cho đất nước. Trong tiến trình đó, Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc ViệtNam giữ vai trò nòng cốt trong định hướng, dẫn dắt và lan tỏa tinh thần đồngthuận xã hội, tạo nên nguồn lực đoàn kết vững chắc để hiện thực hóa khát vọngViệt Nam hùng cường, thịnh vượng vào giữa thế kỷ XXI.