Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Vai trò của thiết chế văn hóa cơ sở trong phát triển văn hóa vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Phương Thảo - 3 giờ trước

(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu về vai trò của thiết chế văn hóa cơ sở đương đại trong đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số; Phân tích kết quả đạt được trong giai đoạn 2021-2025, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế này trong giai đoạn tới.

Từ khóa: Thiết chế văn hóa cơ sở; Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Dân tộc thiểu số.

Thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở đã được các địa phương từng bước quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, đổi mới phương thức hoạt động, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và thể chất của Nhân dân
Thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở đã được các địa phương từng bước quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, đổi mới phương thức hoạt động, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và thể chất của Nhân dân

1. Vai trò của thiết chế văn hóa vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Thiết chế văn hóa là thuật ngữ dùng để chỉ các cơ quan, đơn vị hoạt động văn hóa do Nhà nước hoặc cộng đồng xã hội lập ra trong khuôn khổ pháp luật hoặc quy chế của ngành, đoàn thể nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của công chúng, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương.

Thiết chế văn hóa có vị trí quan trọng trong xây dựng, phát triển nền văn hóa dân tộc. Bất kỳ thời đại nào, chế độ xã hội nào cũng cần có các thiết chế văn hóa để chuyển tải văn hóa chính thống của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân, để tổ chức các hoạt động văn hóa phù hợp với yêu cầu chuẩn mực, đạo đức, lối sống, tập quán của thời đại và của cộng đồng.

Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò của văn hóa. Từ năm 1998, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã xác định: “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”. Quan điểm này tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện, khẳng định trong các kỳ Đại hội tiếp theo của Đảng.

Ngày 07/01/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Một trong những quan điểm được nêu tại Nghị quyết này là: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hóa phải được gắn kết chặt chẽ, hài hoà, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới”.

Việt Nam là quốc gia thống nhất, có 53 dân tộc thiểu số (DTTS), mỗi DTTS có bản sắc văn hóa riêng, độc đáo, nên được xem như “mỏ vàng” để “phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển” như mục tiêu phát triển 2026 - 2030 và tầm nhìn 2045 trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng do Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày tại phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (ngày 20/1/2026). Muốn phát huy “mỏ vàng” văn hóa các DTTS, cần có “khai trường”, chính là các thiết chế văn hóa ở cơ sở.

Thiết chế văn hóa gồm thiết chế văn hóa cổ truyền và thiết chế văn hóa đương đại. Thiết chế văn hóa đương đại là nhà văn hóa từ thôn, bản đến cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Thiết chế văn hóa cổ truyền là đình, chùa, đền, phủ ở làng xã; Nhà rông, nhà gươl ở buôn, bon, plei… (Nguyễn Chí Bền, 2024).

Thiết chế văn hóa có nhiều vai trò:

Thứ nhất, thiết chế văn hóa là nơi diễn ra các hoạt động sáng tạo, phổ biến, thực hành và hưởng thụ các giá trị văn hóa; Nơi rèn luyện, nâng cao năng lực thẩm mỹ và thể lực của các tầng lớp nhân dân, giúp người Việt Nam khoẻ về thể chất, đẹp về tinh thần, phát triển toàn diện về đức - trí - thể - mỹ. Đây cũng là địa chỉ quan trọng trong bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp và lan toả các giá trị văn hóa mới của thời đại, của dân tộc. Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN), thiết chế văn hóa không đơn thuần là nơi sinh hoạt cộng đồng mà là không gian lưu giữ ký ức văn hóa, tri thức địa phương, phong tục, tập quán, lễ hội, tiếng nói, chữ viết và các hình thức diễn xướng dân gian. Thông qua hoạt động của thiết chế, các giá trị văn hóa truyền thống được trao truyền giữa các thế hệ, góp phần hạn chế đứt gãy văn hóa trong các dân tộc.

Thứ hai, thiết chế văn hóa có thể là nơi tổ chức các hoạt động chính trị, xã hội, góp phần kiến tạo nên bộ mặt cảnh quan của các địa phương; Giữ vai trò quan trọng trong tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, xã hội. Các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước có đến được với đại đa số quần chúng nhân dân hay không, một phần quan trọng là nhờ hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở, vì đây là một địa điểm quan trọng để truyền thông chính sách, đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào DTTS bằng những hình thức phù hợp, dễ tiếp nhận. Thiết chế văn hóa trở thành kênh bổ trợ hiệu quả cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức xã hội, nhất là ở địa bàn vùng đồng bào DTTS&MN, nơi đồng bào còn hạn chế về tiếp cận thông tin chính thống. Đây còn là nơi để Nhân dân, trong đó có đồng bào DTTS tăng thêm sức đề kháng trước những luận điệu sai trái, chống phá cách mạng, chống phá Đảng và Nhà nước… trong bối cảnh nước ta vẫn phải tăng cường cảnh giác, đấu tranh với âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.

Thứ ba, thiết chế văn hóa là điểm gặp gỡ, đối thoại và chia sẻ của cộng đồng dân cư; Nơi tổ chức các sinh hoạt tập thể, lễ hội, hội họp. Do đó, thiết chế văn hóa góp phần gắn kết cộng đồng, thúc đẩy sự hiểu biết, tôn trọng và tương tác giữa các nhóm dân tộc, giai cấp và tầng lớp khác nhau, từ đó củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Đồng bào các DTTS chủ yếu sinh sống rải rác, ở nơi giao thông, thông tin liên lạc còn khó khăn thì vai trò này của thiết chế văn hóa càng có ý nghĩa trong việc củng cố niềm tin xã hội, phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín, để góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở cơ sở.

Thứ tư, thiết chế văn hóa góp phần xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và giữ gìn trật tự xã hội. Hoạt động hiệu quả của thiết chế văn hóa giúp hình thành nếp sống văn minh, lành mạnh, từng bước đẩy lùi các hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội. Ở nhiều địa phương vùng đồng bào DTTS&MN, thiết chế văn hóa còn là không gian hoà giải, giải quyết mâu thuẫn cộng đồng trên cơ sở phong tục, tập quán truyền thống kết hợp với pháp luật, góp phần giữ gìn an ninh trật tự từ cơ sở.

Thứ năm, thiết chế văn hóa là nền tảng để phát triển kinh tế văn hóa và sinh kế cộng đồng. Khi được tổ chức, vận hành phù hợp, thiết chế văn hóa có thể trở thành điểm tựa cho phát triển du lịch cộng đồng, giới thiệu nghề truyền thống, sản phẩm văn hóa địa phương, tạo thêm sinh kế cho người dân. Vai trò này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN, hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững gắn với bảo tồn văn hóa.

Thứ sáu, thiết chế văn hóa góp phần khẳng định bản sắc và tăng cường “sức đề kháng văn hóa”. Trong bối cảnh giao thoa, tiếp biến văn hóa mạnh mẽ hiện nay, thiết chế văn hóa giúp đồng bào DTTS nhận diện rõ giá trị của chính mình, từ đó chủ động tiếp nhận cái mới có chọn lọc. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao “sức đề kháng văn hóa”, tránh nguy cơ đồng hoá, thương mại hoá thô bạo hoặc làm biến dạng bản sắc văn hóa truyền thống. Trên tất cả, thiết chế văn hóa là yếu tố quan trọng để tạo ra môi trường sống giàu có về văn hóa cho mọi người, “góp phần vào sự phát triển cá nhân, sự hài lòng và trải nghiệm cuộc sống của mỗi người, đồng thời đóng góp vào sự phát triển bền vững và thịnh vượng của xã hội” (Vũ Thị Thu Hằng, Nguyễn Thị Vân Anh, 2024).

Nhà văn hóa dân tộc xã Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh - một trong các điểm tổ chức Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số
Nhà văn hóa dân tộc xã Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh - một trong các điểm tổ chức Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số

2. Kết quả phát triển thiết chế văn hóa cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Ở Việt Nam, xã, thôn bản là địa bàn cư trú, nơi diễn ra mọi hoạt động sinh sống và làm ăn của đồng bào; là địa chỉ quan trọng nhất hiện thực hóa chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Với những vai trò quan trọng của thiết chế văn hóa, đồng thời thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển văn hóa, những năm qua, các cấp, các ngành đã quan tâm đầu tư hệ thống các thiết chế văn hóa cơ sở ở vùng đồng bào DTTS&MN.

Nội dung “Hỗ trợ đầu tư xây dựng thiết chế văn hóa, thể thao và trang thiết bị tại các thôn vùng đồng bào DTTS&MN sinh sống” thuộc Dự án 6: “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch”, trong Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ năm 2021-2025 (Chương trình), đã hỗ trợ đầu tư xây dựng 3.220 nhà văn hóa - khu thể thao tại các thôn, bản; Hỗ trợ hoạt động cho 695 câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa dân gian và 5.760 đội văn nghệ truyền thống tại các thôn, bản; Hỗ trợ xây dựng 907 tủ sách cộng đồng cho các xã vùng đồng bào DTTS&MN; 1.189 nhà văn hóa/ khu thể thao cấp thôn được hỗ trợ trang thiết bị, tu bổ, tôn tạo.

Với kết quả này, nhóm mục tiêu trong Chương trình về bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc với hai chỉ tiêu: (1) Tỷ lệ thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng và (2) tỷ lệ thôn có đội văn hóa, văn nghệ, câu lạc bộ truyền thống hoạt động thường xuyên, có chất lượng đều vượt xa so với cấp có thẩm quyền giao và là một trong 6 nhóm mục tiêu cụ thể được Quốc hội giao tại Nghị quyết số 120/2020/QH14 cơ bản đạt và vượt mục tiêu đề ra. Cụ thể: Tỷ lệ thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng đạt 93,8% (kế hoạch giao 80%); Tỷ lệ thôn có đội văn hóa, văn nghệ (CLB) truyền thống hoạt động thường xuyên, có chất lượng đạt 66,1%, (kế hoạch giao 50%).

Đối với cấp xã, kết quả điều tra 53 DTTS năm 2024 cho thấy, 78,9% số xã vùng DTTS&MN đã có nhà văn hóa. Hệ thống thiết chế văn hóa đã góp phần phát triển phong trào văn hóa, văn nghệ, thể thao phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương, nâng cao đời sống tinh thần cho đồng bào; Tác động tích cực đến chất lượng hoạt động của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng nông thôn mới, giúp củng cố bản sắc văn hóa truyền thống, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương thông qua các dịch vụ du lịch; Bảo tồn toàn diện các giá trị văn hóa phi vật thể của 14 dân tộc có khó khăn đặc thù, gồm: Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Pu Péo, Si La, Cống, Bố Y, Cơ Lao, Mảng, Lô Lô, Chứt, Lự, Pà Thẻn, La Ha; Khích lệ đồng bào DTTS phát huy vai trò chủ thể văn hóa cùng với hỗ trợ của Nhà nước để nỗ lực vượt qua khó khăn, tham gia phát triển kinh tế và giải quyết tốt các vấn đề xã hội.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của thiết chế văn hóa cơ sở

Một là, các thiết chế văn hóa có vị trí quan trọng không chỉ trong lĩnh vực văn hóa mà còn tác động đến nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế, giới, truyền thông… Do vậy, cần tiếp tục đầu tư xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở cho vùng đồng bào DTTS&MN, nhất là khi cả nước vẫn còn 19,7% số xã vùng đồng bào DTTS&MN (trước khi sáp nhập) chưa có nhà văn hóa. Việc đầu tư cần tính toán về nhu cầu, tâm lý, phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa của đồng bào để xây dựng các thiết chế phù hợp với không gian văn hóa tại chỗ, kết hợp được với các thiết chế văn hóa truyền thống mang dấu ấn lịch sử văn hóa của địa phương. Tuy nhiên, cách tiếp cận chính sách cần chuyển từ “xây cho đủ” sang “vận hành cho hiệu quả” bằng cách hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực cho hoạt động thường xuyên của thiết chế văn hóa. Bổ sung và ổn định nguồn kinh phí cho hoạt động duy tu, bảo dưỡng thiết chế văn hóa cơ sở. Quan tâm bố trí kinh phí cao hơn để tổ chức các hoạt động ở nhà văn hóa tại những xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn.

Hai là, thiết chế văn hóa cơ sở cần được nhìn nhận như một thiết chế văn hóa - xã hội có tính “động”, gắn với sinh hoạt thường ngày của đồng bào DTTS. Đồng bào các DTTS với vai trò chủ thể văn hóa, vừa trực tiếp thụ hưởng, vừa tiếp thu những yếu tố văn hóa mới, tiếp nhận các thông tin về phát triển kinh tế - xã hội và triển khai ở địa phương nên cần có ý thức phát huy quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ trong thụ hưởng, sáng tạo các giá trị văn hóa … tại các thiết chế văn hóa cơ sở. Giải pháp then chốt là trao quyền và tạo điều kiện để cộng đồng tham gia trực tiếp vào quản lý, vận hành thiết chế văn hóa. Khi phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của đồng bào DTTS thì thiết chế mới có sức sống bền vững.

Ba là, sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ số, công nghệ truyền thông đang giúp đồng bào DTTS tiếp cận nhanh, đa dạng với các sản phẩm văn hóa trong nước và quốc tế, dẫn tới nhu cầu, thị hiếu thay đổi. Song các thiết chế văn hóa ở cơ sở chưa bắt nhịp để đổi mới nội dung, phương thức hoạt động nhằm thu hút sự tham gia của đồng bào. Nhiều trung tâm văn hóa xã, nhà văn hóa thôn bản chủ yếu sử dụng để hội họp, các hoạt động chuyên môn đơn điệu nên chưa phát huy được vai trò là nơi sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật của cộng đồng. Nhân sự hoạt động tại thiết chế văn hóa xã, thôn, bản đa số chưa được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ. Do đó, cần quan tâm công tác quy hoạch, đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa ở cơ sở biết tham mưu, tư vấn, biết tiếng DTTS, có năng lực quản lý, tổ chức các hoạt động trong thiết chế văn hóa để phát huy công năng của các thiết chế đã được đầu tư theo hướng thực hành, gắn với đặc thù từng vùng, từng dân tộc. Có cơ chế đãi ngộ, tôn vinh, hỗ trợ nghệ nhân và người nắm giữ di sản văn hóa tham gia thường xuyên vào hoạt động của thiết chế, coi đây là nguồn lực không thể thay thế.

Bốn là, gắn hoạt động của thiết chế văn hóa với phát triển sinh kế và kinh tế văn hóa địa phương. Thiết chế văn hóa cơ sở cần được kết nối với du lịch cộng đồng, nghề truyền thống, giới thiệu sản phẩm văn hóa đặc trưng của đồng bào DTTS. Việc khai thác phải được định hướng rõ ràng, có kiểm soát, bảo đảm hài hoà giữa bảo tồn và phát triển, tránh thương mại hoá làm biến dạng giá trị văn hóa.

Năm là, tăng cường vai trò của thiết chế văn hóa trong truyền thông chính sách và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Cần phát huy thiết chế văn hóa như một kênh truyền thông chính sách gần dân, dễ tiếp cận, phù hợp với ngôn ngữ, phong tục của từng tộc người. Thông qua sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đối thoại cộng đồng, thiết chế văn hóa góp phần nâng cao nhận thức pháp luật, xây dựng nếp sống văn minh, củng cố khối đại đoàn kết ở cơ sở.

Sáu là, tăng cường giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của thiết chế văn hóa cơ sở. Đưa tiêu chí hiệu quả hoạt động của thiết chế văn hóa cơ sở vào hệ thống đánh giá thực hiện chính sách văn hóa ở vùng đồng bào DTTS&MN. Giám sát không chỉ dựa trên số lượng công trình mà cần dựa vào mức độ tham gia của cộng đồng, tần suất, chất lượng hoạt động, tác động xã hội cụ thể.

4. Kết luận

Xây dựng các thiết chế văn hóa cơ sở vùng đồng bào DTTS&MN là đòi hỏi khách quan, bởi các thiết chế này đã, đang và sẽ đồng hành với đồng bào các DTTS trong thụ hưởng các giá trị văn hóa, mở rộng không gian sinh hoạt cộng đồng, góp phần để văn hóa gắn kết chặt chẽ, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần cốt lõi mang giá trị bền vững, nguồn nội lực quan trọng tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo. Đây cũng là yêu cầu cần thiết để xây dựng các xã, thôn, bản vùng đồng bào DTTS&MN đạt các tiêu chí về nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu, phù hợp với mục tiêu Đại hội XIV về “phát triển văn hóa và con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” trong những năm tới.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2025), Quyết định số 3399/QĐ-BVHTTDL ngày 23/9/2025 phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035, giai đoạn I từ năm 2025 đến năm 2030.

2. Chính phủ (2025), Báo cáo số 901/BC-CP ngày 10/10/2025 Tổng kết Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I từ 2021-2025.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998). Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Toàn văn Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, https://vtv.vn/toan-van-bao-cao-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-ve-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv-cua-dang-100260120093250436.htm.

5. GS.TS. Nguyễn Chí Bền (2024), Phát huy vai trò của thiết chế văn hóa cổ truyền trong xã hội đương đại, Hà Nội.

6. TS. Vũ Thị Thu Hằng - ThS. Nguyễn Thị Vân Anh (2024), Nguồn lực phát triển thiết chế văn hóa, thể thao ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Hà Nội.