Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Văn hóa Công giáo - Từ lý luận đến thực tiễn hội nhập văn hóa Việt Nam

ThS. NCS. Nguyễn Thùy Duyên - 1 giờ trước

(DTTG) - Tóm tắt: Tôn giáo là một thành tố quan trọng của văn hóa và bản thân tôn giáo cũng là văn hóa. Công giáo là một tôn giáo lớn, có bản sắc văn hóa lâu đời, ảnh hưởng sâu rộng trên toàn thế giới. Những quan điểm cốt lõi về văn hóa Công giáo có trong Kinh Thánh, các văn bản huấn quyền của Giáo hội. Theo đó, Giáo hội khẳng định văn hóa trở thành nhân tố trung tâm, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự tiến bộ xã hội. Trong các yếu tố cấu thành nền văn hóa, Giáo hội quan tâm đến đạo đức và sự thật, coi đây là hai yếu tố cốt lõi của nền văn hóa nhân bản. Gần 5 thế kỷ, Công giáo du nhập và phát triển ở Việt Nam, sự hội nhập văn hóa Công giáo vào nền văn hóa Việt Nam phải trải qua những thăng trầm và thách đố, qua đó thực sự đã khẳng định được những giá trị tích cực trong nền văn hóa Việt, đồng thời chủ động “Việt hóa” trên đường hướng đồng hành cùng dân tộc.


Thánh lễ đầu năm của người Công giáo
Thánh lễ đầu năm của người Công giáo

Từ khóa: Văn hóa; Văn hóa Công giáo; Hội nhập văn hóa.

1. Đặt vấn đề

Công giáo là một tôn giáo lớn, có lịch sử lâu đời, gắn liền với nền văn hóa phương Tây. Khi du nhập vào nước ta, văn hóa Công giáo đã trở thành một “thách đố” thực sự trên con đường đồng hành cùng dân tộc. Những quan điểm về văn hóa Công giáo được hình thành từ thời tiền khởi, trong Kinh Thánh, các văn bản huấn quyền của Giáo hội, đúc kết lại những vấn đề có tính luân lý, chỉ đạo toàn bộ nhận thức và hoạt động thế tục của người Công giáo hiện nay. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả nghiên cứu phạm trù văn hóa Công giáo, nhằm để tìm hiểu cơ sở luân lý và hành trình hội nhập văn hóa Công giáo vào nền văn hóa dân tộc Việt Nam.

2. Văn hóa Công giáo - Những vấn đề luân lý

Những tư tưởng về xã hội, nơi đặt nền móng hình thành hệ thống quan điểm của Giáo hội Công giáo về văn hóa đã xuất hiện cách đây 2000 năm, trong Kinh Thánh Cựu ước. Từ tín lý đã được xác quyết trong sách Sáng Thế bàn về sự hiện diện của con người: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh của mình”. Con người là hình ảnh hoàn bị, nhân tố trung tâm của mọi giá trị văn hóa nhân loại cần đeo đuổi. Trong Kinh Thánh, con người là đề tài chủ yếu, những thông điệp về bình đẳng, công bằng và lẽ phải đều hướng tới bảo vệ phẩm giá con người, đặc biệt là người nghèo, người bị áp bức, bất công bởi các định chế xã hội ít quan tâm đến văn hóa nhân loại. Kinh Thánh còn truyền đạt tinh thần liên đới, dạy cho con người biết quan tâm, hoan hỷ hay ưu sầu đối với tha nhân dù gần hay xa, bổn phận mỗi người cần đặc biệt lưu tâm tới xây dựng nền văn minh “tình thương”. Xây dựng nền văn hóa Công giáo mà mục tiêu hướng tới con người đồng nghĩa với việc quan tâm xây dựng một “nước Thiên Chúa” ở trần gian, một xã hội mà ở đó với tất cả các định chế từ kinh tế, chính trị, giáo dục, xã hội và tôn giáo vận hành một cách đúng đắn, mục đích tối thượng làm gia tăng phẩm giá con người.

Những chủ đề về văn hóa tiếp tục được Giáo hội Công giáo bàn trong những bối cảnh lịch sử khác nhau. Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX là thời kỷ nền văn minh trung cổ nhường chỗ cho nền văn minh mới, văn minh công nghiệp, theo đó các đề tài về văn hóa của Giáo hội Công giáo lần lượt bị xã hội đặt trong dấu ấn thù nghịch, nghi kỵ, cáo buộc và lên án. Chỉ đến thời Giáo hoàng Lê-ô XIII với thông điệp Tâm sự (1891) những vấn đề văn hóa của Giáo hội mới thực sự đi vào hội nhập với thế giới hiện đại. Đặc biệt, thời Giáo hoàng Pi-ô XI với thông điệp Tứ Thập Niên (1931), đã đề nghị xây dựng một thế giới trên nền “văn minh Ki-tô giáo” hay “văn minh tình yêu”, thực chất đây là khát vọng phổ quát những giá trị văn hóa của Công giáo trên bình diện toàn thế giới. Sau đó, đề tài văn hóa được Công đồng Vatican II bàn sâu trong hiến chế Vui mừng và hy vọng (1965); tuyên ngôn Phẩm giá con người; tuyên ngôn về Giáo dục Ki-tô giáo (1965). Qua nghiên cứu cho thấy, Giáo hội Công giáo bàn về văn hóa trên các bình diện chính yếu như: khái niệm về văn hóa, vai trò và các yếu tố cấu thành văn hóa; các phương tiện chuyển tải văn hóa.

Khái niệm văn hóa: từ tính đa nghĩa và phức tạp của nó, cho đến nay vẫn còn nhiều cách tiếp cận và định nghĩa về văn hóa, Giáo hội Công giáo tiếp cận văn hóa với nghĩa hẹp - văn hóa tinh thần. Theo đó: “Văn hóa chỉ rõ tất cả những gì nhờ đó mà con người tinh luyện và phát triển nhiều khả năng của tinh thần và thể xác; nỗ lực khuất phục vũ trụ nhờ tri thức và lao động; nhân bản hóa đời sống xã hội, cũng như đời sống gia đình và toàn bộ đời sống dân sự, nhờ sự tiến bộ về phong tục và cơ chế”.

Vai trò của văn hóa: văn hóa hiện diện trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự tiến bộ xã hội. Vai trò của văn hóa được biểu lộ trên hai phương diện: đối với cá nhân, văn hóa có chức năng, nhiệm vụ nhân bản hóa con người; nói cách khác, “nhờ có văn hóa con người với tư cách là người, sẽ trở thành người hơn và một khi là người hơn như thế, thì cũng làm cho sự hiện hữu có giá trị hơn”. Đối với quốc gia dân tộc, văn hóa “là nguồn bảo đảm giữ gìn bản sắc của một dân tộc, đồng thời biểu lộ và phát huy chủ quyền thiêng liêng của dân tộc ấy”. Trên thực tế, có nhiều thành tố cấu thành nền văn hóa, tuy nhiên Giáo hội Công giáo quan tâm đến hai vấn đề chính yếu: đạo đức và sự thật. Đạo đức là nhân tố quyết định tính chất của một nền văn hóa. Vì vậy, Giáo hội Công giáo đề nghị xây dựng nền đạo đức với giá trị cốt lõi, đề cao nhân phẩm cao quý của con người, đặc biệt của người nghèo, người lao động, những đối tượng cần ưu tiên hàng đầu trong công cuộc xây dựng nền văn hóa nhân loại.

Giáo hội Công giáo coi sự thật là nội dung cốt lõi của nền văn hóa tiên tiến. Một nền văn hóa tôn trọng sự thật là nền văn hóa được xây dựng trên cơ sở tôn trọng phẩm giá con người, lấy con người làm điểm khởi đầu và kết thúc trong mọi hoạch định chính sách phát triển xã hội. Cùng với những giá trị thiện, mỹ, sự thật (chân) phải được giáo dục, rèn luyện, phổ quát... để nó thực sự trở thành một trụ cột quan trọng cấu thành nhân cách con người; đồng thời sự thật phải là tiêu chuẩn luân lý trong quan hệ khoa học, chính trị, xã hội, gia đình và tình huynh đệ.

Trong vô vàn các phương thức truyền tải văn hóa, Giáo hội Công giáo quan tâm đến hai phương diện chính yếu là giáo dục và truyền thông, coi đây là những lĩnh vực cấp thiết, cần quan tâm đúng mức trong thế giới đương đại. Khẳng định tính cấp thiết, vai trò quan trọng của nền giáo dục, ngày 28/10/1965, Giáo hội Công giáo đã phát đi Tuyên ngôn về Giáo dục Ki-tô giáo. Theo đó, khẳng định quyền được giáo dục của mọi con người là bất khả xâm phạm, bình đẳng, cần được bảo đảm và thực thi trên toàn thế giới: “Tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giai cấp và tuổi tác, do phẩm giá con người, đều có một quyền bất khả nhượng là phải được hưởng một nền giáo dục, đáp ứng với sứ mệnh riêng, phù hợp với cá tính, của từng phái, thích nghi với văn hóa và truyền thống dân tộc”.

Nhận biết vai trò của truyền thông đại chúng trong việc thúc đẩy sự thăng tiến một nền văn hóa đích thực, trước hết Giáo hội Công giáo coi các phương tiện truyền thông như những công cụ tạo nên và tăng cường sự liên đới. Giáo hội đề nghị truyền thông đại chúng phải phục vụ mục tiêu công ích, hướng tới phản ánh, xóa bỏ những bất công, đau khổ của con người thay vì phục vụ “sự tham lam và thèm khát” của những người giàu. Truyền thông phải sàng lọc, bài trừ những tư tưởng độc hại, đi ngược lại truyền thống bản sắc văn hóa nhân loại; cơ cấu, chính sách truyền thông cũng như sự phân bố các phương tiện kỹ thuật phải bảo yếu tố công bằng, bình đẳng trong quyền được tiếp cận thông tin của mỗi người; bảo đảm nền tảng truyền thông thấm đẫm tinh thần đạo đức, trên cơ sở “cởi bỏ sự gian dối” để tiến tới một nền văn hóa “sự thật”.

3. Quá trình hội nhập văn hóa Công giáo vào nền văn hóa dân tộc Việt Nam

Hội nhập với nền văn hóa dân tộc là đòi hỏi tất yếu của lịch sử phát triển cả Công giáo và dân tộc; là nhiệm vụ quan trọng, một dấu chỉ khẳng định đường hướng đồng hành cùng dân tộc Việt Nam. Từ đòi buộc tất yếu đó, quá trình hội nhập văn hóa Công giáo với văn hóa dân tộc đã diễn ra theo hai con đường khác nhau: từ phía phi quan phương, sự hội nhập được manh nha từ khi Công giáo đặt chân vào Việt Nam; từ phía quan phương, lịch sử hội nhập văn hóa diễn ra muộn với nhiều thách đố hơn.

Xét về quan phương, Công đồng Vatican II đã có những thông điệp về hội nhập văn hóa từ năm 1962, tuy nhiên tinh thần Công đồng vẫn còn xa lạ đối với hàng giáo sỹ Việt Nam lúc đó. Mãi đến Thư Chung năm 1980, vấn đề văn hóa được Giáo hội bàn với các diễn từ thật ngắn gọn: “Xây dựng trong Hội thánh một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc”, nhưng thật tiếc, tinh thần hội nhập chưa được thực hiện nhiều trong những năm sau đó.

Thư Chung năm 1992, vấn đề hội nhập văn hóa dân tộc được bàn cụ thể, đầy đủ hơn. Giáo hội khuyên nhủ mọi thành phần dân Chúa phải biết chắt lọc tinh hoa văn hóa dân tộc để vận dụng, làm cho văn hóa dân tộc trở thành phương tiện hiện hữu trong mối tương quan giữa con người và Thiên Chúa, đồng thời văn hóa sẽ làm các dân tộc xích lại gần nhau hơn. Thư Chung viết: “Ngay từ đầu, cha ông chúng ta đã biết vận động những cái hay trong kho tàng văn hóa dân tộc để diễn tả đức tin, diễn tả tương quan của mình với Thiên Chúa: từ âm nhạc, nghệ thuật, kiến trúc, lễ nghi đến cách tổ chức gia đình, làng xóm, xứ đạo. Đi tìm sắc thái văn hóa dân tộc không có nghĩa là đơn thuần lấy lại những cái cổ xưa, nhưng là làm sao cho tính cách dân tộc được diễn tả trong lời kinh tiếng hát, trong cử hành phụng vụ, trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong suy tư và ngôn ngữ thần học”.

Trong những năm sau, giới nghiên cứu Công giáo đã tiến hành nhiều cuộc hội thảo khoa học quy mô, nhằm tìm giải pháp đưa văn hóa Công giáo hội nhập văn hóa dân tộc, trong đó chú trọng nghiên cứu truyền thống và văn hóa bản địa, văn hóa tộc người. Kết quả nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn đã đưa đến nhận định: “Hội nhập văn hóa không phải là chạy theo “mốt thời đại”, cũng không phải là hoài cổ, nhưng là tìm ra những điểm gặp gỡ giữa Tin mừng và hồn dân tộc, để xây dựng một nếp sống diễn tả đức tin ngày càng phù hợp hơn với nền văn hóa dân tộc”.

Sự chuyển biến về nhận thức đã đưa đến những thành quả trong hoạt động thực tiễn. Những thành quả đó được Hội đồng Giám mục Việt Nam báo cáo tại Hội nghị Thượng Hội đồng các Giám mục châu Á năm 1998. Trong Hội nghị, các giám mục Việt Nam đã trình bày những kinh nghiệm đạt được trong lĩnh vực giáo lý, những thực hành mục vụ theo chiều hướng hội nhập văn hóa và đáp ứng các nhu cầu của xã hội. Tựu trung đã nêu lên mấy chủ đề: 1. Làm sao nói với Thiên Chúa Cha và Hội thánh trong khung cảnh nền văn hóa của xã hội Việt Nam vốn lấy gia đình làm nền tảng. 2. Làm sao nhận ra tác động của Chúa Thánh Thần nơi mọi người thành tâm thiện chí, đặc biệt nơi các tôn giáo bạn. 3. Làm sao để việc tôn kính ông bà, Tổ tiên giúp người ta nhận biết Thiên Chúa, và hiểu rõ hơn về đạo hiếu của người Công giáo Việt Nam”.

Xét về phi quan phương: với những quy luật nội tại và tất yếu của lịch sử giao thoa văn hóa, ngay từ những ngày đầu, các thành tố văn hóa Công giáo đã dần hiện lộ, hòa nhập với văn hóa dân tộc Việt Nam.

Trước Công đồng Vatican II, Giáo hội không chấp nhận việc thờ cúng Tổ tiên, tuy nhiên, thực tế trước đó, người Công giáo đã thực hiện thờ cúng Tổ tiên với các hình thức và mức độ khác nhau: thờ cúng người mở đất, mở làng; thờ cúng tổ nghề; thờ cúng Vua Hùng; thờ cúng họ tộc, ông bà, cha mẹ, người thân qua đời. Đạo hiếu, hay tinh thần hiếu thảo đối với cha mẹ, ông bà Tổ tiên là điểm gặp gỡ, tương đồng trong tâm thức thờ cúng Tổ tiên của người Việt và thờ phụng Thiên Chúa của người Công giáo. Cung cách thờ cúng có ít nhiều điểm khác so với người không Công giáo, nhưng thực chất vẫn mang đậm bản sắc dân tộc, vùng miền. Theo khảo sát, năm 1993, số người Công giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh thờ cúng Tổ tiên lên đến 88,9% (cao hơn cả người không Công giáo), Huế là 87,4%, Hà Nội 64,2%. Một số xứ, họ đạo đã xuất hiện hình thức cúng hậu vào các nhà thờ, điều này hoàn toàn giống tập tục người Việt cúng hậu ở chùa.

Vấn đề nghi lễ, lối sống đạo của người Công giáo cũng có nhiều thay đổi theo hướng hội nhập với văn hóa dân tộc. Từ những hình thức diễn xướng (đọc sách, đọc kinh, múa, hát, tế lễ...) đều mang âm hưởng, hơi thở của cốt cách người Việt. Trên lĩnh vực kiến trúc, tuy phần lớn nhà thờ Công giáo có kiến trúc phương Tây, song vẫn có nhiều nhà thờ mang phong cách Á Đông (trên 20 loại), phần lớn nhà thờ theo phong cách này đều được xây dựng dựa trên những đặc trưng riêng của các loại kiến trúc Việt Nam như: đình, chùa, miếu, phủ, cung điện... Lĩnh vực hội họa và điêu khắc, tinh thần hội nhập cũng được thể hiện rõ nét.

Bước sang thế kỷ 21, sự hội nhập văn hóa thế giới ngày càng sâu, rộng. Trong Thư Chung 2001, Giáo hội khẳng định “Hội thánh đem Tin mừng đến không phải để thay thế các nền văn hóa, nhưng để giúp cho các nền văn hóa được thăng hoa, đạt tới đỉnh cao của chân thiện mỹ”. Trên đường hướng đã định, Trong bản Thư Chung gửi cộng đồng dân Chúa 2010, Giáo hội đã có những chỉ dẫn cụ thể và đầy đủ hơn về nội dung và cách thức để hội nhập văn hóa Công giáo. Theo đường hướng đó, Giáo hội Công giáo Việt Nam phải nghiên cứu tường tận bản sắc văn hóa dân tộc, ngõ hầu có thể phân định những gì là tốt đẹp, để diễn tả đức tin bằng những nét văn hóa ấy đồng thời đem tinh thần phúc âm thấm vào các sinh hoạt văn hóa, cụ thể như các dịp lễ, tết và ma chay cưới hỏi. Cũng thế, cần khuyến khích và hướng dẫn các văn nghệ sĩ Công giáo trong các sáng tác của họ. Ngoài ra, những chương trình huấn luyện ở mọi cấp phải quan tâm đến việc học hỏi về hội nhập văn hóa”.

4. Kết luận

Văn hóa Công giáo là vấn đề không mới, song việc tìm hiểu cơ sở tín lý của vấn đề quả thực vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Việc hội nhập văn hóa Công giáo với nền văn hóa dân tộc vẫn thực sự là “thách đố”. Một bộ phận xã hội nhìn nhận Công giáo chủ yếu bằng nhãn quan chính trị thay vì một thực thể đạo đức, văn hóa, hay nguồn lực. Thực trạng trên đã góp phần làm cho văn hóa Công giáo trở nên “xa lạ” với phần còn lại của xã hội. Người Công giáo sẽ “đồng hành” nhưng sẽ khó có thể “đồng điệu” nếu những quan niệm quá nặng về lịch sử, thiếu tinh thần đối thoại vẫn còn tồn tại trong xã hội. Thực tế cho thấy, những vấn đề luân lý văn hóa trên đây đã và đang được Giáo hội Công giáo phổ quát, trở thành linh đạo trong công cuộc dấn thân hội nhập văn hóa “đồng hành cùng dân tộc” của người Công giáo Việt Nam .

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Hồng Dương (2016), Những nẻo đường Phúc âm hóa Công giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.

2. Công đồng Vaticanno II (1962-1965), Hiến chế Mục vụ Vui mừng và Hy vọng.

3. Công đồng Vatican II, Tuyên ngôn về Giáo dục Ki-tô giáo, 28/10/1965.

4. Gioan Phaolo II, Thư gửi UNESCO, 26/6/1980.

5. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2004), Tóm lược Học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.

6. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2002), Kinh Thánh trọn bộ Cựu ước và Tân ước, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.

7. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2012

8. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư Chung 1980, Hà Nội, 1980.

9. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư Chung 1992, Hà Nội, 1992.

10. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư Chung 1998, Hà Nội, 1998.

11. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư Chung 2001, Hà Nội, 2001.

12. Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư Chung năm 2010, TP. Hồ Chí Minh, 2011.