Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trênthế giới. Trải qua 2.500 năm tồn tại và phát triển, giá trị đạo đức Phật giáocó những đóng góp to lớn cho nền đạo đức nhân loại và phù hợp với giá trị của nềnđạo đức xã hội mới. Một trong những giá trị đạo đức của Phật giáo có sức sốnglâu bền đó là tư tưởng “Lục hòa”. Trong giáo lý Phật giáo, “Lục hòa” là tổng thểsáu phương pháp cư xử để tạo ra sự hòa hợp từ vật chất đến tinh thần, từ lờinói đến việc làm. Bài viết phân tích “Lục hòa” gồm sáu điểm chính là những giớiluật mà Đức Phật đã chế ra không chỉ nhằm xây dựng một tăng đoàn hòa hợp mà còncó ý nghĩa với xã hội.
1. Thân hòa cùng trụ (thân hòa đồng trú)
Nghĩa là tăng ni, phật tử, cùng tu học chung dưới một mái chùa, tuy là không phải ruột thịt, nhưng là những người con của Đức Phật, cùng một lý tưởng mục đích, phải lấy hòa khí làm đầu, không được chia phe phái, ỷ mạnh hiếp yếu, ỷ thế hiếp cô, mạnh ai nấy được.
Trong một gia đình, một cộng đồng, các thành viên cùng nhau ở dưới một mái nhà, trong một phạm vi, một tổ chức, hôm sớm có nhau, cùng ăn, cùng ngủ, cùng học cùng hành. Khi sống chung hằng ngày, các cá nhân phải hòa thuận với nhau, không dùng sức mạnh, vũ lực để giải quyết xung đột. Nếu là anh em, vợ chồng, con cái trong một gia đình, thì phải tôn trọng lẫn nhau, kính trên, nhường dưới, anh em hòa thuận. Nếu là đồng bào, cùng chung sống trong một quốc gia thì phải lấy sự đồng thuận, đoàn kết làm đầu, không được gây cảnh nồi da xáo thịt, chia năm xẻ bảy. Cùng chung sống trên quả địa cầu, dù khác châu lục, màu da, chủng tộc đã là giống người thì phải thương yêu nhau. Đức Phật đã từng nói: không có đẳng cấp trong dòng máu đỏ như nhau, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn. Mọi người sinh ra là bình đẳng, vì vậy, giữa người với người phải thương yêu nhau, tôn trọng sự sống của nhau. Tóm lại, đã cùng chung sống với nhau trong một tăng đoàn, một cộng đồng, một quốc gia và toàn nhân loại, con người cần phải hòa hợp, thương yêu, tôn trọng lẫn nhau.
2. Khẩu hòa vô tranh (lời nói hòa hợp, không tranh cãi nhau)
Lời nói hòa nhã, đúng mực, đúng ngữ cảnh, đúng đối tượng giao tiếp là một trong những nội dung mà Đức Phật rất quan tâm. Trong tăng đoàn, Đức Phật yêu cầu các đệ tử phải giữ cho lời nói được hòa nhã, vui vẻ, không gây tranh cãi trong mọi trường hợp.
Mở rộng ra trong phạm vi một gia đình, nhiều khi, cũng vì một lời nói không hòa, mà anh em xa lìa, vợ chồng ly tán, cha con không nhìn mặt nhau, thậm chí trở thành những kẻ xa lạ, thù hằn. Trong xã hội, cũng vì một lời nói không hòa, bạn bè xung đột, mâu thuẫn, giữa các quốc gia, dân tộc, nhiều khi do bất hòa về khẩu mà phải lâm nạn chiến tranh. Bởi thế, nên thân thể hòa chưa phải là đủ, Đức Phật dạy phải cần cả khẩu hòa nữa. Nghĩa là người phật tử phải nói lời dịu dàng, hòa nhã với nhau, nhất thiết không được cãi lộn, gây gổ. Nếu có gì thắc mắc, chưa rõ cần phải tranh luận cho ra lẽ, tuyệt đối phải dùng lời nói ôn tồn, hòa nhã mà bàn luận. Có người giữ được thân hòa nhưng không giữ được khẩu hòa, hơn thua nhau từng câu nói, cuối cùng lại sinh ra xung đột về thân.
3. Ý hòa đồng duyệt (tâm ý hòa hợp, vui vẻ)
Ý là một trong ba thành tố quan trọng tạo nghiệp; ý là một thành tố quan trọng hàng đầu. Bởi vì, ý là động cơ thúc đẩy thân và khẩu. Người có tâm ý tốt lành, tâm ý thiện sẽ có lời nói tốt lành, lời nói thiện và có hành động tốt lành, hành động đúng, hành động thiện. Trong một tăng đoàn, mỗi thành viên cần giữ cho tâm ý của mình được vui vẻ, trong sáng, lành mạnh, có như vậy, mới có thể xây dựng được một tăng đoàn lớn mạnh, hòa hợp, đoàn kết.
Mở rộng ra, trong một gia đình, một đoàn thể, mỗi người cần giữ gìn tâm ý của mình. Nếu ý tưởng hiền hòa, vui vẻ thì thân thể và lời nói dễ giữ được hòa khí. Trái lại nếu tâm ý bất hòa, thường trái ngược nhau, ganh ghét, đố kỵ lẫn nhau, thì thân và khẩu khó mà giữ cho được hòa hảo. Dù có cố gắng bao nhiêu, để thân và khẩu được hòa khí, hay vì sợ một uy quyền gì trên, mà phải ăn ở hòa thuận với nhau, thì sự hòa thuận này cũng chỉ là cái vỏ hình thức bề ngoài không phản ảnh được thực chất bản chất của mối quan hệ bên trong, chẳng khác gì một lớp sơn đẹp đẽ tô lên một tấm gỗ đã mục. Khi sự xung đột bên trong tâm ý đã đến đỉnh điểm, nó sẽ biểu hiện ra bằng xung đột trong lời nói hay trong hành động, cũng như tấm gỗ khi đã quá mục thì thế nào lớp sơn bên ngoài cũng rạn nứt, đổ bể.
Đức Phật đã thấu rõ điều đó nên Ngài dạy phải có tâm ý vui vẻ, hòa hợp trong khi chung sống với nhau. Muốn có được tâm ý hòa hợp, phải tu hạnh hỷ xả, nghĩa là, mỗi cá nhân cần vui với niềm vui của người khác, buồn với nỗi buồn của người khác, phá bỏ những sự buồn phiền, hờn giận, không chấp nhặt trong lòng những lỗi lầm của kẻ khác. Có như thế, tâm hồn mới thư thái, vui vẻ, ý nghĩ mới trong sáng, thanh tịnh được.
4. Giới hòa đồng tu (cùng nhau hòa hợp giữ gìn giới luật)
Một tổ chức, một đoàn thể có trật tự, đều phải có kỷ luật, quy định chặt chẽ và mỗi cá nhân trong đoàn thể, trong tổ chức đó đều phải chấp hành đúng các quy định, quy tắc của tổ chức.
Trong Phật giáo, mỗi phật tử, tùy theo địa vị cấp bậc tu hành của mình, mà thọ lãnh ít hay nhiều giới luật. Người tại gia thì thọ ngũ giới; người xuất gia thì thọ lãnh 10 giới nếu là sa di, sa di ni; thọ lãnh 250 giới nếu là tỳ kheo; 348 giới nếu là tỳ kheo ni...
Trong tăng đoàn, khi các đệ tử của Đức Phật cùng chung sống để tu học mỗi ngày, mỗi người tùy theo cấp bậc của mình mà giữ giới luật một cách nghiêm túc; cùng một cấp bậc tu hành với nhau thì tất phải thọ giới và giữ giới như nhau, không được giữ giới này, bỏ giới kia, mỗi người mỗi thứ, mạnh ai nấy làm. Nếu có sự vô kỷ luật thì lẽ tất nhiên tổ chức ấy sẽ tan rã. Vì thế, Đức Phật dạy: khi các đệ tử trong tăng đoàn đã chung sống với nhau, phải cùng nhau tu những giới luật như nhau, giữ đúng những giới luật của cấp bậc mình. Vậy, trong tăng đoàn, muốn hòa hợp cùng nhau để tu tập, thì mỗi người cần phải giữ gìn nghiêm túc giới luật như nhau.
Nói rộng ra, trong một trường học, một gia đình phật tử, một tổ chức, bao giờ cũng phải có kỷ luật nhất định. Trong trường học, nếu học sinh không giữ kỷ luật của trường, ai muốn đến cứ đến, ai muốn đi cứ đi, ai muốn học cứ học, ai muốn chơi cứ chơi, thì trường ấy sẽ không thể là trường học. Trong gia đình phật tử, đoàn sinh mỗi người tự làm theo ý của riêng mình, không tuân theo năm điều luật của gia đình, không làm theo huấn lệnh của huynh trưởng, thì gia đình phật tử ấy sẽ tan rã. Trong một tổ chức, nếu mỗi cá nhân không tôn trọng quy định của tổ chức, thì tổ chức ấy sớm muộn cũng sẽ không thể tồn tại được.
Nói tóm lại, trong một đoàn thể, một tổ chức dù trong đạo hay ngoài đời, nếu không cùng nhau gìn giữ giới điều, kỷ luật, quy tắc, thì các thành viên trong đoàn thể ấy, tổ chức ấy không thể sống chung với nhau một cách hòa hợp được, đoàn thể đó, tổ chức đó sẽ không thể tồn tại.
5. Kiến hòa đồng giải (cùng nhau thống nhất ý kiến)
Trong tăng đoàn cần thống nhất mọi tri kiến, mọi nhận thức để tạo sự hòa hợp trong giải quyết các công việc chung của tăng đoàn. Bên cạnh đó, mỗi đệ tử nhà Phật không chỉ cần phải nâng đỡ, giúp nhau trong đời sống vật chất mà còn phải nâng đỡ, chia sẻ với nhau về tri kiến, hiểu biết. Mỗi người hiểu biết được điều gì, khám phá được điểm gì, phải giãi bày, chỉ bảo, chia sẻ cho người khác cùng hiểu, có như vậy, tăng đoàn mới cùng nhau hòa thuận, tiến bộ trong sự tu học. Đặc biệt, với các đệ tử nhà Phật, trước kho tàng kinh sách đồ sộ, cao siêu, mỗi phật tử có thể tiếp cận, khám phá ở một khía cạnh khác nhau, vì vậy, nếu không chia sẻ, giãi bày để cùng nhau hiểu biết thì khó có thể có được một cách nhìn chung, thống nhất trong cách tiếp cận nội dung kinh điển, như vậy rất khó có thể có được một cuộc sống hòa hợp trong tăng đoàn. Trước mỗi sự việc, mỗi hiện tượng, các thành viên trong tăng đoàn có sự thống nhất với nhau trong cách thức giải quyết, tạo được sự hòa hợp, đồng thuận.
Trong một gia đình, giữa mới quan hệ vợ chồng, con cái có những lúc êm ấm, hạnh phúc nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những lúc bất hòa, cơm không lành, canh không ngọt. Mối quan hệ được giữ gìn hay đổ vỡ là chính ở sự hợp tác, cách hành xử và giải quyết mâu thuẫn của mỗi người, nhưng suy cho cùng, sự đồng lòng và lắng nghe nhau để đi đến tìm được tiếng nói chung trong gia đình chính là bí quyết của hạnh phúc và thành công. Ca dao Việt Nam có câu “Chồng giận thì vợ bớt lời/ Cơm sôi nhỏ lửa biết đời nào khê”; “Thuận vợ, thuận chồng tát biển Đông cũng cạn” hay khi nói về tình cảm, sự hòa hợp giữa cha mẹ, con cái, ca dao Việt Nam lại có câu: “Cha con đồng lòng việc khó cũng thành dễ”.
Còn đối với Việt Nam một quốc gia đa dân tộc, thực tế lịch sử hàng nghìn năm qua đã chứng minh, hòa hợp, đoàn kết, thống nhất là truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc Việt Nam, là đường lối chiến lược của cách mạng, đồng thời, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo sự thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
6. Lợi hòa đồng quân (lợi ích cùng nhau chia đều)
Sống trong tăng đoàn, các thành viên cần chia sẻ với nhau lợi ích cả về tài lợi, vật thực, đồ dùng, không ai được thọ dụng một mình, hoặc chiếm làm của riêng, hay giành phần nhiều về mình.
Khi sống chung trong tăng đoàn, nếu có người đem dâng vật thực, y phục, chăn chiếu, thuốc thang... thì phải đem phân chia đều tất cả. Nghĩa là mọi thứ đều phải chia đều nhau cho các thành viên trong tăng đoàn, không vì tình riêng, kẻ ít người nhiều mà phải lấy công bằng làm trọng. Giữ được như thế, thì dù ở chung nghìn người, tăng đoàn cũng vẫn vui vẻ, hòa hợp. Trái lại, nếu vì tư ý riêng, tham tài, ham lợi thì dù chỉ có vài ba người chung sống với nhau, cũng không thể có được sự hòa hợp. Với tinh thần bình đẳng, lợi tha, từ bi cứu khổ, với một trí huệ soi thấu rõ sự vô thường, giả tạm của cuộc đời, Đức Phật đã dạy: có tài lợi, nên tùy phận chia sẻ cho nhau, hay triệt để hơn nữa là lợi ích phải được chia đều.
Từ sự phân tích trên có thể thấy được tư tưởng “Lục hòa” không chỉ có ý nghĩa trong tăng đoàn mà còn có ý nghĩa với từng gia đình, trong từng cộng đồng và với toàn xã hội. Lục hòa cũng không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà còn có thể ứng dụng vào thực tiễn nhằm giải quyết những vấn đề hiện nay xã hội quan tâm.
Trong gia đình, nếu cha mẹ đối xử thiên lệch giữa con trai và con gái, giữa con lớn và con bé, luôn khen con này chê con kia, hoặc dành sự quan tâm, sự thương yêu không như nhau cho các con thì gia đình ấy chắc chắn sẽ không hòa thuận, anh em tỵ nạnh, đố kỵ lẫn nhau. Sự công bằng này phải thể hiện cả về vật chất lẫn tinh thần. Cha mẹ phải dành thời gian đồng đều cho tất cả trẻ, phải nghiêm khắc như nhau với những đứa con của mình. Không so sánh các con, đối xử công bằng với chúng và dạy chúng biết yêu thương nhau là những việc cha mẹ nên làm để tránh tình trạng mâu thuẫn giữa anh chị em ruột. Trong những công việc chung của gia đình, cha mẹ có thể phân công trẻ cùng nhau làm việc để tăng cường sự hợp tác với nhau, chia đều tình thương, lợi ích và gánh nặng thì anh em sẽ luôn gắn kết, yêu thương nhau.
Trong xã hội, lợi ích phân chia không đều là căn nguyên gây ra trăm thứ bệnh như bè phái, tham ô, lãng phí,
Nếu công bằng trong nhà Phật nhấn mạnh trên phương diện đạo đức, dạy lối hành xử, cách ứng nhân xử thế, những quan điểm bình đẳng giai cấp, bình đẳng nam nữ, quyền con người, những lối sống, cách ứng xử trong gia đình và xã hội thì công bằng trong xã hội hiện nay lại nghiêng về công bằng về việc phân chia lợi ích, phân phối của cải trong xã hội. Song, suy cho cùng thì chính từ sự công bằng trong tư tưởng, trong hành xử thể hiện đạo đức, lối sống mang đến công bằng trong sự phân chia lợi ích, của cải vật chất, từ những suy nghĩ trong sáng trong tâm hồn sẽ khiến bớt đi lòng tham, sân, si, biết sẻ chia lợi ích với nhau.
Trong xã hội hiện nay, cái tôi của mỗi cá nhân con người đang được đề cao một cách thái quá, của cải vật chất và ham muốn vật chất đang trở thành mục đích sống của không ít người dân. Một bộ phận không nhỏ trong đó có xu hướng coi nhẹ những giá trị nội tại tự thân và đời sống tinh thần, thậm chí đánh mất nhân tính và phẩm giá con người. Nhiều vấn nạn xảy ra trong gia đình, nhà trường, ngoài xã hội đã và đang đặt loài người trước những thách thức lớn lao. Sự khủng hoảng tinh thần nhân văn, khủng hoảng các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống đang là những trở ngại lớn đối với sự tiến bộ của loài người.
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, phân cực giàu nghèo trong từng quốc gia, dân tộc, trong từng khu vực và giữa các quốc gia, khu vực đang ngày càng có xu hướng gia tăng. Một thế giới mà sự phân cực giàu nghèo có khoảng cách quá xa sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất ổn định. Việc đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hóa kinh tế và hình thành mạng thông tin toàn cầu cũng làm tăng nhanh quá trình giao lưu, va chạm giữa các nền văn minh, giữa các khu vực, tăng nhanh quá trình giao lưu tôn giáo. Xung đột tôn giáo, dân tộc đang có xu hướng gia tăng ở nhiều nơi trên thế giới.
Hơn nữa, khoa học công nghệ trên thế giới đang có sự phát triển mạnh mẽ chưa từng có... nhưng môi trường sống của con người đang bị phá hoại nghiêm trọng, trái đất nóng lên, khủng hoảng thiếu năng lượng, thiếu lương thực, bùng nổ dân số,… đang làm cho cuộc sống của loài người ngày càng trở nên khó khăn hơn. Đây là một trong những mâu thuẫn lớn của nhân loại trong thế kỷ XXI.
Tựu trung lại, từ sự phân tích ở trên, có thể thấy, tất cả các mâu thuẫn trong xã hội đều xuất phát từ các mối quan hệ của con người. Đó là quan hệ giữa con người với con người trong xã hội, con người với chính bản thân mình và con người trong mối quan hệ với tự nhiên. Mọi hành vi thái quá của con người, suy cho cùng đều xuất từ cái tôi vị kỷ, làm xấu đi các mối quan hệ của con người, gây nên những mâu thuẫn cho xã hội.
7. Kết luận
Những khủng hoảng và mâu thuẫn của sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay chỉ có thể khắc phục được bằng chính nỗ lực của con người thông qua hoạt động thực tiễn trong cuộc sống. Song cũng không thể phủ nhận được rằng, ở một mức độ nhất định, những giải pháp giáo dục, hoàn thiện nhân cách đạo đức cho cá nhân con người của các tôn giáo, trong đó có Phật giáo cũng có những đóng góp nhất định. Vận dụng giá trị đạo đức của Phật giáo trong đó có tư tưởng “Lục hòa” để hoàn thiện nhân cách đạo đức cho cá nhân con người sẽ giúp nâng cao tố chất tinh thần loài người, giảm thiểu những tư lợi cá nhân, những đau khổ, bất an do sự ích kỷ của cái tôi cá nhân mỗi người đem lại, góp phần xây dựng một xã hội hài hòa, đoàn kết.
Phật giáo có một mục tiêu duy nhất là xây dựng mộtxã hội hài hòa và cân bằng trong nỗ lực giải thóat. Vì thế, Phật giáo chủtrương bất bạo động trong mọi hoàn cảnh; chủ trương không chấp trước, nghiêng vềbên nào trong hai cực sướng khổ. Tư tưởng về “Lục hòa” là một trong những cáchthức xây dựng cuộc sống tự tại, an nhiên, giải tỏa sức ép mà con người phảigánh chịu trong xã hội hiện đại là những gì tốt lành nhất mà tư tưởng này đem lại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.
2. Báo mới, Phát huy sức mạnh của toàn Đảng và toàn dân tộc, ngày 10/01/2011.