Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Chủ động phòng ngừa, giải quyết các hiện tượng tôn giáo mới và tín ngưỡng lệch chuẩn từ sớm, từ cơ sở

Minh Châu - 09:28, 08/10/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Trong bối cảnh biến đổi xã hội nhanh chóng, sự bùng nổ của không gian mạng và xu hướng tinh thần hóa đời sống hiện đại, Việt Nam đang đối mặt với sự xuất hiện ngày càng phức tạp của các hiện tượng tôn giáo mới có chiều hướng cực đoan và các hình thức tín ngưỡng lệch chuẩn. Bài viết phân tích về bản chất, đặc điểm của các hiện tượng tôn giáo mới này và tín ngưỡng lệch chuẩn tại Việt Nam hiện nay; trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất và làm rõ giải pháp chủ động phòng ngừa, giải quyết các hiện tượng tôn giáo mới và tín ngưỡng lệch chuẩn từ sớm, từ cơ sở trong mô hình quản lý 2 cấp (cấp Trung ương/tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp cơ sở).

Ông Lê Công Bình, Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo (Bộ Dân tộc và Tôn giáo) phát biểu khai mạc Hội nghị Tuyên truyền nhận diện về lệch chuẩn trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay tổ chức tại Tuyên Quang ngày 11/9/2026
Ông Lê Công Bình, Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo (Bộ Dân tộc và Tôn giáo) phát biểu khai mạc Hội nghị Tuyên truyền nhận diện về lệch chuẩn trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay tổ chức tại Tuyên Quang ngày 11/9/2026

Từ khóa: Hiện tượng tôn giáo mới và tín ngưỡng lệch chuẩn; Mô hình 2 cấp; Phát triển bền vững; Cơ sở.

1. Đặt vấn đề

Sự biến động kinh tế - xã hội, đô thị hóa và tính siêu kết nối của không gian mạng đang tạo dư địa cho các hiện tượng tôn giáo mới có chiều hướng cực đoan và tín ngưỡng lệch chuẩn, gọi chung là hiện tượng tôn giáo mới và tín ngưỡng lệch chuẩn, lan rộng tại Việt Nam. Các hiện tượng này không chỉ trục lợi, ảnh hưởng sức khỏe, kinh tế gia đình mà còn đe dọa an ninh và khối đại đoàn kết dân tộc, nhất là tại các vùng như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Phương thức quản lý thụ động, sự việc đã rồi đang bộc lộ hạn chế, do đó, chuyển dịch tư duy sang chủ động phòng ngừa, giải quyết từ sớm, từ cơ sở theo mô hình quản lý 2 cấp là giải pháp mang tính chiến lược và cấp thiết.

2. Bản chất, đặc điểm, tác động của hiện tượng tôn giáo mới và tín ngưỡng lệch chuẩn tại Việt Nam

Về bản chất, hiện tượng tôn giáo mới có chiều hướng cực đoan và tín ngưỡng lệch chuẩn bản chất là những phản ứng tâm lý - xã hội của con người trước những biến động, khủng hoảng giá trị do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và toàn cầu hóa mang lại. Về mặt lý luận, hiện tượng tôn giáo mới là các hình thức đức tin, thực hành tâm linh xuất hiện ngoài hệ thống các tôn giáo truyền thống đã được Nhà nước công nhận. Chúng thường mang tính chất dung hợp, vay mượn và cải biên các mảnh ghép giáo lý, nghi lễ từ nhiều nguồn khác để tạo nên một hệ thống niềm tin riêng.

Hiện tượng tôn giáo mới có chiều hướng cực đoan và tín ngưỡng lệch chuẩn bản chất là sự sai lệch, biến tướng của các hành vi thực hành tâm linh so với các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, thuần phong mỹ tục hoặc quy định pháp luật. Sự cực đoan, lệch chuẩn này xuất hiện khi tính chất thiêng liêng và tính cộng đồng của tín ngưỡng bị thay thế bởi sự cuồng tín, mê tín dị đoan, hoặc tính chất thương mại hóa và trục lợi.

Về đặc điểm, đa số các nhóm tôn giáo mới có chiều hướng cực đoan không có hệ thống giáo lý hoàn chỉnh mà do một cá nhân tự xưng là đấng cứu thế, thiên sứ hay giáo chủ sáng lập. Giáo lý thường tập trung vào các lời tiên đoán mang tính tận thế, cứu rỗi tức thì, hoặc đề cao khả năng chữa bệnh kỳ diệu của cá nhân giáo chủ để thao túng tâm lý tín đồ.

Tín ngưỡng lệch chuẩn thường biến các nghi lễ tâm linh truyền thống như hầu đồng, dâng sao giải hạn, cúng oan gia trái chủ, trục vong thành công cụ kinh doanh. Người tham gia bị kích động bởi tâm lý sợ hãi nhằm ép buộc họ đóng góp tài chính, cúng cống lượng tiền khổng lồ dưới danh nghĩa gieo duyên hay mua sự bình an.

Tận dụng sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội như Facebook, Zalo, Telegram, Zoom, các nhóm này lôi kéo tín đồ thông qua các nhóm kín, giảng đạo trực tuyến. Điều này khiến không gian truyền đạo không còn bị giới hạn bởi địa giới hành chính, tạo ra các hộp đệm âm thanh nhốt tín đồ vào luồng thông tin sai lệch. Nhiều tổ chức sử dụng mô hình tiếp thị đa cấp để phát triển lực lượng. Tín đồ sau khi tham gia có nghĩa vụ phải tiếp tục lôi kéo người thân, bạn bè, đồng nghiệp nhằm nhận được các đặc quyền tâm linh hoặc sự hỗ trợ kinh tế từ tổ chức.

Đặc biệt tại các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, một số hiện tượng tôn giáo mới có chiều hướng cực đoan bị các thế lực thù địch bên ngoài tài trợ và giật dây. Chúng lợi dụng tâm lý tự ti, thiếu thông tin của đồng bào dân tộc thiểu số để lồng ghép tư tưởng ly khai, kích động thành lập Nhà nước riêng, gây mất an ninh trật tự.

Về tác động, đối với cá nhân và gia đình, nhiều hiện tượng tôn giáo mới có chiều hướng cực đoan cổ xúy việc tẩy chay y học hiện đại, xúi giục tín đồ uống nước phép, năng lượng lạ hoặc nhịn ăn để chữa các bệnh hiểm nghèo như ung thư, Covid-19, dẫn đến những hậu quả đáng tiếc về tính mạng. Do bị thao túng tâm lý, nhiều tín đồ từ bỏ người thân, dỡ bỏ bàn thờ tổ tiên, bỏ bê nghĩa vụ nuôi dạy con cái hoặc cống hiến toàn bộ tài sản cho giáo phái, làm suy sụp kinh tế gia đình và rạn nứt các giá trị đạo đức nền tảng.

Tín ngưỡng lệch chuẩn làm biến đổi méo mó các giá trị văn hóa dân gian truyền thống, làm xói mòn tính thiêng, tạo ra tâm lý ỷ lại, mê tín, coi trọng ma thuật hơn là lao động sản xuất và tri thức khoa học. Từ đó chia rẽ tính cố kết cộng đồng làng bản, tạo ra những nghi kỵ giữa người theo đạo và người giữ truyền thống.

Đối với an ninh trật tự và an ninh quốc gia, các hiện tượng tôn giáo mới có chiều hướng cực đoan này lừa đảo, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Khi bị lợi dụng cho mục đích chính trị, chúng trở thành ngòi nổ gây ra các điểm nóng về an ninh nông thôn và an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Sự xuyên tạc tôn giáo làm suy giảm niềm tin của quần chúng Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền, ảnh hưởng trực tiếp đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

3. Mô hình quản lý 2 cấp

Trong bối cảnh các hiện tượng tôn giáo mới và tín ngưỡng lệch chuẩn ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi, việc đổi mới phương thức quản lý nhà nước về tôn giáo từ mô hình hành chính nhiều tầng nấc sang mô hình quản lý 2 cấp là một bước chuyển mang tính đột phá. Mô hình này không chỉ tối ưu hóa bộ máy hành chính, giảm thiểu sự chồng chéo, trung gian mà còn tạo ra cơ chế vận hành linh hoạt, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác phòng ngừa và giải quyết các nguy cơ lệch chuẩn tâm linh từ cơ sở, ngay từ khi mới phát sinh.

3.1. Tổ chức mô hình quản lý 2 cấp

Bộ máy quản lý theo mô hình 2 cấp được thiết kế tinh gọn nhưng đảm bảo sự thông suốt về thông tin và mệnh lệnh hành chính, phân định rõ năng lực chuyên môn và trách nhiệm của từng cấp.

Cấp 1: Cấp Trung ương/tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gọi là cấp chiến lược

Cấp chiến lược đóng vai trò là điều hành bao gồm Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ, Bộ Nội vụ ở Trung ương và Sở Dân tộc và Tôn giáo, Sở Nội vụ, Ban Tôn giáo/Phòng Tôn giáo ở cấp tỉnh. Cấp này không trực tiếp can thiệp vào các vụ việc nhỏ lẻ trên địa bàn mà tập trung vào các chức năng vĩ mô: xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp lý; ban hành các bộ tiêu chí nhận diện hiện tượng tôn giáo mới và tín ngưỡng lệch chuẩn; ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo để rà quét thông tin trên không gian mạng; điều phối các nguồn lực và chỉ đạo các chuyên án, vụ việc phức tạp mang tính liên tỉnh, xuyên quốc gia.

Cấp 2: Cấp cơ sở: xã/phường/thôn/bản/buôn/tổ dân phố gọi là cấp thực thi

Cấp cơ sở là tuyến đầu trực tiếp tiếp xúc với đời sống tâm linh của quần chúng Nhân dân. Lực lượng nòng cốt ở cấp này bao gồm UBND cấp xã, công an xã, mặt trận Tổ quốc, cùng hệ thống tự quản cộng đồng như trưởng thôn/bản, bí thư chi bộ, già làng, trưởng dòng họ và Người có uy tín. Cấp thực thi đóng vai trò là cánh tay nối dài, chuyển hóa các chính sách từ cấp chiến lược thành hành động thực tế tại địa bàn dân cư.

3.2. Cơ chế vận hành trong phòng ngừa, giải quyết các hiện tượng tôn giáo mới và tín ngưỡng lệch chuẩn

Một là, cơ chế thông tin hai chiều, phản ứng nhanh

Mô hình 2 cấp rút ngắn tối đa khoảng cách báo cáo hành chính. Khi xuất hiện các dấu hiệu bất thường tại bản làng như người lạ xuất hiện truyền đạo trái phép, người dân dỡ bỏ bàn thờ, tụ tập sinh hoạt trực tuyến qua Zoom/Telegram, cấp cơ sở ngay lập tức cập nhật dữ liệu lên hệ thống quản lý số dùng chung. Cấp Trung ương/tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thông qua phân tích dữ liệu AI sẽ lập tức đưa ra cảnh báo, hỗ trợ tài liệu nghiệp vụ, căn cứ pháp lý và hướng dẫn quy trình xử lý cho cán bộ cơ sở chỉ trong thời gian ngắn, tránh tình trạng chờ xin ý kiến làm mất thời điểm vàng dập tắt sự việc.

Hai là, cơ chế phòng ngừa, giải quyết

Cấp cơ sở vận hành theo phương châm bám dân, bám địa bàn. Công tác phòng ngừa được triển khai thông qua việc lồng ghép giáo dục pháp luật, tuyên truyền bằng tiếng dân tộc thiểu số trên hệ thống truyền thanh và Zalo cộng đồng. Khi phát hiện các hành vi lệch chuẩn, cấp cơ sở không vội vã áp dụng các biện pháp hành chính cứng nhắc mà kích hoạt cơ chế vận động quần chúng: sử dụng uy tín của già làng, trưởng dòng họ để phân tích, thuyết phục người lỡ bước; đồng thời bóc gỡ các luận điệu lừa đảo bằng các bằng chứng thực tế khám chữa bệnh bằng y khoa, hỗ trợ sinh kế.

Ba là, cơ chế phối hợp

Đối với các nhóm tín ngưỡng lệch chuẩn có yếu tố hình sự, lừa đảo đa cấp hoặc bị lợi dụng phục vụ mưu đồ chính trị phức tạp vượt quá thẩm quyền cấp xã, cấp Trung ương/tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập tức can thiệp. Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương/Trung ương sẽ điều động các lực lượng chuyên trách an ninh tôn giáo, an ninh mạng, chuyên gia văn hóa - dân tộc xuống địa bàn phối hợp cùng cấp cơ sở để đấu tranh, bóc gỡ các cá nhân cầm đầu, xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.

3.3. Nguyên tắc

Việc triển khai công tác phòng ngừa và xử lý các hiện tượng tôn giáo mới và tín ngưỡng lệch chuẩn tại địa bàn cơ sở phải tuân thủ chặt chẽ 4 nguyên tắc cốt lõi:

Một là, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng. Phân định rạch ròi giữa nhu cầu tâm linh hợp pháp của Nhân dân với các hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, trục lợi tài chính hay chống phá Nhà nước. Tuyệt đối không quy chụp, hành chính hóa hoặc cấm đoán thô bạo các hình thức tín ngưỡng truyền thống lành mạnh.

Hai là, chủ động phòng ngừa là chính, xử lý kiên quyết là khâu đột phá. Lấy công tác vận động, tuyên truyền, giáo dục và hỗ trợ sinh kế làm giải pháp căn cơ lâu dài; chỉ áp dụng các biện pháp đấu tranh pháp lý, xử lý hình sự đối với các đối tượng cầm đầu, ngoan cố, cố tình lừa đảo hoặc kích động chia rẽ dân tộc.

Ba là, cơ sở là địa bàn trung tâm, Nhân dân là chủ thể. Mọi mầm mống tà đạo đều phát sinh từ xóm, bản, buôn, làng. Do đó, cấp cơ sở phải là nơi đầu tiên phát hiện, ngăn chặn và xử lý. Sức đề kháng của cộng đồng dân cư và sự đồng lòng của quần chúng Nhân dân chính là lá chắn vững chắc nhất.

Bốn là, kiên trì, linh hoạt và phù hợp với đặc thù văn hóa vùng miền. Mỗi vùng địa lý - văn hóa có tâm lý tộc người và điều kiện kinh tế khác nhau. Phương pháp vận động phải mềm dẻo, tôn trọng luật tục, phát huy vai trò của các thiết chế tự quản truyền thống.

4. Giải pháp

Một là, nâng cao năng lực nắm bắt địa bàn và nhận diện sớm từ không gian mạng Lực lượng công an xã, cán bộ dân vận và trưởng thôn/bản cần chủ động ứng dụng công nghệ số để quản lý biến động nhân hộ khẩu. Cần nhanh chóng nhận diện các tín hiệu bất thường ở cơ sở như: sự xuất hiện của người lạ truyền đạo lén lút, học sinh bỏ học, người dân bỏ bê sản xuất, dỡ bỏ bàn thờ gia tiên, hoặc sự gia tăng đột biến các nhóm chat kín trên Zalo, Telegram. Việc phát hiện sớm ngay từ khi tà đạo mới lôi kéo 1-2 hộ gia đình sẽ giúp dập tắt nguy cơ với chi phí xã hội thấp nhất.

Hai là, đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, giáo dục tri thức

Chuyển từ truyền thông một chiều, khô cứng sang các hình thức trực quan, dễ hiểu, phù hợp với trình độ dân trí vùng sâu, vùng xa. Sản xuất các video ngắn, tiểu phẩm bằng tiếng dân tộc thiểu số phát trên loa truyền thanh xã, nhóm Zalo bản và mạng xã hội. Nội dung tuyên truyền tập trung bóc gỡ trực diện các trò lừa đảo giả khoa học như dùng hóa chất làm hiệu ứng chữa bệnh bằng nước phép, kinh doanh đa cấp tâm linh để người dân tự thấy sự vô lý, đồng thời, phổ biến kiến thức y học, khoa học thường thức để xóa bỏ mê tín dị đoan.

Ba là, phát huy vai trò cầu nối của Người có uy tín, già làng, trưởng dòng họ và chức sắc tôn giáo

Trong xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tính cố kết dòng họ và làng bản cực kỳ bền chặt. Chính quyền cơ sở cần chủ động gặp gỡ, tranh thủ uy tín của các trưởng dòng họ, già làng để đưa nội dung không tin, không theo các hiện tượng tôn giáo mới và tín ngưỡng lệch chuẩn vào hương ước, quy ước của thôn bản. Khi chính dòng họ đứng ra răn đe và vận động, hiệu quả cảm hóa sẽ cao hơn nhiều so với mệnh lệnh hành chính. Bên cạnh đó, cần phối hợp với chức sắc, chức việc các tôn giáo hợp pháp như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành… để họ lên tiếng bác bỏ những giáo lý cải biến, giúp tín đồ phân biệt được đâu là niềm tin chân chính, đâu là lệch chuẩn.

Bốn là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết bài toán sinh kế

Hiện tượng tôn giáo mới và tín ngưỡng lệch chuẩn chỉ có thể nảy mầm trên mảnh đất của sự nghèo đói, thiếu thông tin và dịch vụ y tế yếu kém. Do đó, giải pháp căn cơ nhất là lồng ghép hiệu quả các Chương trình Mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chính quyền xã phải trực tiếp hỗ trợ cây giống, con giống, kỹ thuật sản xuất, cấp vốn vay ưu đãi và đảm bảo mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế. Khi đời sống vật chất ấm no, con cái được học hành chu đáo, người dân sẽ tự động quay lưng với các lời hứa hẹn huyễn hoặc của hiện tượng tôn giáo mới và tín ngưỡng lệch chuẩn.

Năm là, kiên quyết xử lý đối tượng cầm đầu và bao dung cảm hóa người lỡ bước Trong quá trình xử lý, cán bộ cơ sở phải quán thấu tinh thần phân hóa đối tượng. Xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật đối với các đối tượng cầm đầu, ngoan cố, nhận tiền từ bên ngoài để trục lợi hoặc kích động ly khai. Ngược lại, đối với quần chúng Nhân dân bị lôi kéo, phỉnh phờ, cần dùng sự chân thành, chính sách hỗ trợ cụ thể để giúp đỡ họ tỉnh ngộ, không kỳ thị, tạo điều kiện thuận lợi để họ tái hòa nhập cuộc sống cộng đồng.

5. Kết luận

Hiện tượng tôn giáo mới và tín ngưỡng lệch chuẩn là những sản phẩm tất yếu mang tính quy luật của một xã hội đang trong quá trình chuyển đổi nhanh chóng. Chúng ta không thể xóa bỏ hoàn toàn sự xuất hiện của các hiện tượng này bằng các mệnh lệnh hành chính đơn thuần, nhưng hoàn toàn có thể kiểm soát, phòng ngừa và triệt tiêu các tác động tiêu cực của chúng bằng một tư duy quản trị hiện đại, khoa học và nhân văn. Việc triển khai mô hình 2 cấp, trong đó cấp Trung ương/tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giữ vai trò định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, ứng dụng công nghệ và cấp cơ sở giữ vai trò thực thi, bám sát địa bàn, giải quyết từ sớm, từ cơ sở chính là lời giải tối ưu cho bài toán an ninh tôn giáo tại Việt Nam hiện nay.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Nội vụ (2021). Tài liệu bồi dưỡng công tác tín ngưỡng, tôn giáo dành cho cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo các cấp. Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.

2. Đỗ Quang Hưng (2018). Hiện tượng tôn giáo mới: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn. Số 11/2018 Tạp chí Lý luận Chính trị.

3. Hồng Dương (2020). Tín ngưỡng dân gian và các hiện tượng tín ngưỡng lệch chuẩn trong xã hội Việt Nam đương đại. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

4. Phạm Tiến Dũng (2022). 11 nội dung quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo và bài học ứng phó từ cơ sở. Báo Thanh tra điện tử, đăng ngày 06/6/2022.

5. Trần Hữu Sơn (2019). Biến đổi tâm linh và hiện tượng tà đạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. Số 4(214) Tạp chí Dân tộc học.

6. Vũ Chiến Thắng (2023). Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới. Số 998 Tạp chí Cộng sản.

7. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2016). Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (Luật số 02/2016/ QH14).

8. Trần Thiện Thanh (2026). Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, đăng ngày 17/4/2026.