Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về tôn giáo: Cơ hội và những vấn đề đặt ra

Hoàng Thị Thanh - 17:53, 03/10/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết phân tích tác động của tiến trình chuyển đổi số đối với công tác quản lý nhà nước về tôn giáo tại Việt Nam làm rõ bức tranh chuyển dịch từ mô hình quản trị truyền thống sang mô hình quản trị số thích ứng. Sự phát triển của không gian mạng, trí tuệ nhân tạo (AI) và các nền tảng truyền thông mới đã tái cấu trúc phương thức sinh hoạt tâm linh của tín đồ, đồng thời tạo cơ hội hiện đại hóa bộ máy hành chính công. Tuy nhiên, chuyển đổi số cũng đặt ra những thách thức về an ninh tôn giáo trên không gian mạng, hiện tượng tôn giáo ảo, rủi ro xâm phạm dữ liệu cá nhân của tín đồ và nguy cơ gia tăng khoảng cách số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bài viết đề xuất giải pháp chính sách nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm sự cân bằng hài hòa giữa nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong kỷ nguyên số.

Từ khóa: Chuyển đổi số; Quản lý nhà nước về tôn giáo; An ninh tôn giáo; Tôn giáo số; Khoảng cách số.

Chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về tôn giáo là đòi hỏi cấp bách nhằm xây dựng nền hành chính hiện đại, đáp ứng sự vận động của đời sống tôn giáo trong kỷ nguyên số
Chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về tôn giáo là đòi hỏi cấp bách nhằm xây dựng nền hành chính hiện đại, đáp ứng sự vận động của đời sống tôn giáo trong kỷ nguyên số

1. Đặt vấn đề

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo với hơn 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và khoảng 27,7 triệu tín đồ thuộc 43 tổ chức tôn giáo đã được công nhận. Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo luôn giữ vị trí chiến lược trong việc duy trì ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đảm bảo an ninh quốc gia. Trong bối cảnh Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đang được triển khai mạnh mẽ, việc chuyển đổi mô hình quản trị từ mệnh lệnh hành chính - thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu - thích ứng số là một đòi hỏi tất yếu khách quan.

Sự giao thoa giữa công nghệ số và đời sống tâm linh tạo ra chiều kích đa diện. Một mặt, công nghệ mở ra cơ hội minh bạch hóa thủ tục hành chính, bảo vệ tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng và phát huy các nguồn lực tôn giáo cho phát triển xã hội. Mặt khác, tính chất ẩn danh, phi biên giới và tốc độ lan truyền siêu kết nối của không gian mạng lại trở thành môi trường phát sinh các nguy cơ an ninh phi truyền thống, sự xuất hiện của các hiện tượng tôn giáo lạ, tin giả, thương mại hóa tâm linh và nguy cơ nới rộng khoảng cách bất bình đẳng giữa các vùng miền, đặc biệt là khu vực đồng bào dân tộc thiểu số. Việc Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng năm 2025 (Luật số 116/2025/ QH15) và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 (Luật số 07/2026/QH16) mới được Quốc hội ban hành ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027 đã tạo dựng hành lang pháp lý mới, đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về tôn giáo phải có sự đổi mới căn bản cả về tư duy, công cụ và phương thức vận hành.

2. Bối cảnh thực tiễn của chuyển đổi số trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam

Lý thuyết xã hội học tôn giáo hiện đại, tiêu biểu là các công trình của C. Helland (2000) và H. Campbell (2012), chia sự hiện diện của tôn giáo trên môi trường số thành hai trạng thái: Tôn giáo trực tuyến, sử dụng Internet như một kênh thông tin, tuyên truyền, lưu trữ giáo lý và số hóa tài liệu truyền thống; Tôn giáo trên mạng, không gian mà các hành vi, nghi lễ, tương tác giáo luật và trải ng hiệm tâm linh diễn ra trực tiếp trên không gian ảo.

Tại Việt Nam, ranh giới giữa hai trạng thái này đang mờ nhạt rất nhanh. Không gian mạng không còn dừng lại ở vai trò công cụ truyền thông mà đã trở thành một hệ sinh thái tôn giáo mới. Tín đồ không chỉ tiếp cận giáo lý qua mạng mà còn thực hiện cầu an online, livestream đại lễ, cúng bái ảo và quyên góp công đức qua ví điện tử hay mã QR.

Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển Internet và mạng xã hội nhanh nhất thế giới. Tỷ lệ phủ sóng 4G/5G và tỷ lệ người dân sử dụng điện thoại thông minh đạt mức rất cao. Sự dịch chuyển đời sống xã hội lên không gian mạng diễn ra đồng thời với quá trình chủ động nhập cuộc của các tổ chức tôn giáo lớn. Nhiều tổ chức tôn giáo đã chủ động thích ứng với làn sóng số. Giáo hội Phật giáo Việt Nam đẩy mạnh số hóa tư liệu, tích hợp dữ liệu quản lý tăng ni, phật tử với hệ thống định danh điện tử quốc gia (VNeID) do Bộ Công an vận hành; Giáo hội Công giáo Việt Nam phát triển các kênh truyền thông mục vụ số và quản trị dữ liệu giáo dân tại các giáo phận. Các tôn giáo khác như Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo cũng tích cực tận dụng mạng xã hội để kết nối cộng đồng.

Ở góc độ quản lý nhà nước, việc kiện toàn cơ quan chuyên trách như thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo ngày 01/3/2025 ở Trung ương và Sở Dân tộc và Tôn giáo ở các địa phương, cùng với việc triển khai các quy chế bảo đảm an toàn thông tin mạng, đã đánh dấu bước phát triển quan trọng về thể chế. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ mới, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo - AI và công nghệ giả mạo đang tạo ra những khoảng trống pháp lý và thực tiễn đòi hỏi chính sách phải điều chỉnh kịp thời.

3. Cơ hội đối với công tác quản lý nhà nước về tôn giáo

Chuyển đổi số mang lại những dư địa chiến lược để Nhà nước tái cấu trúc phương thức quản trị, chuyển từ mô hình kiểm soát - mệnh lệnh sang phục vụ - kiến tạo và thích ứng.

Một là, tối ưu hóa hiệu lực, hiệu quả hành chính chuyên trách Trong mô hình quản lý truyền thống, cơ chế báo cáo thủ công phân cấp dễ dẫn đến sự chậm trễ và cắt khúc thông tin giữa Trung ương và địa phương. Việc triển khai dịch vụ công trực tuyến giúp chuẩn hóa các thủ tục: đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, thông báo danh mục hoạt động, bổ nhiệm chức sắc, hay cấp phép xây dựng cơ sở thờ tự. Sự công khai, minh bạch trên môi trường số giúp cắt giảm chi phí tuân thủ, triệt tiêu các hành vi nhũng nhiễu, chuyển hóa mối quan hệ giữa chính quyền và tổ chức tôn giáo thành đối tác đồng hành trong khuôn khổ pháp luật.

Hai là, thiết lập nền quản trị dựa trên dữ liệu tích hợp

Dữ liệu chuẩn xác, theo thời gian thực là nền tảng của quản trị hiện đại. Khi Cơ sở dữ liệu quốc gia về tín ngưỡng, tôn giáo được kết nối liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (VNeID) và Cơ sở dữ liệu đất đai, cơ quan quản lý sẽ nắm bắt được bức tranh toàn cảnh về nhân khẩu học tôn giáo, biến động của chức sắc, nhà tu hành, cũng như trạng thái pháp lý của hàng chục nghìn cơ sở thờ tự trên toàn quốc. Phân tích dữ liệu lớn (Big Data) cho phép dự báo sớm các xu hướng phát triển tôn giáo mới, nhận diện các điểm nhóm sinh hoạt tự phát hoặc các nguy cơ tranh chấp đất đai liên quan đến tôn giáo trước khi phát sinh phức tạp.

Ba là, chủ động truyền thông chính sách và bảo tồn di sản văn hóa

Môi trường số cung cấp công cụ mạnh mẽ để chính quyền công khai, minh bạch các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đến trực tiếp từng tín đồ. Các kênh thông tin chính thống giúp định hướng dư luận, vô hiệu hóa các luận điệu xuyên tạc chính sách tôn giáo từ các lực lượng thù địch. Bên cạnh đó, công nghệ 3D và thực tế ảo (VR) mở ra cơ hội bảo tồn vĩnh cửu các di sản kiến trúc, tài liệu Hán Nôm, mộc bản, kinh sách cổ; tích hợp di sản tôn giáo vào hệ sinh thái du lịch thông minh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

4. Những vấn đề đặt ra

Một là, an ninh tôn giáo trên không gian mạng Sự bùng nổ của các nền tảng xuyên biên giới đã biến không gian mạng thành địa bàn phức tạp. Sự lợi dụng của các thế lực thù địch sử dụng thông tin sai lệch để vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, kích động mâu thuẫn giữa các tôn giáo hoặc chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Không gian mạng cung cấp công cụ ẩn danh cho các hội nhóm tâm linh lệch chuẩn, chưa được công nhận như Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ, Pháp Luân công, các nhóm tâm linh Thời đại mới - New Age. Các nhóm này tận dụng thuật toán đề xuất nội dung để thao túng tâm lý, tuyên truyền dịch vụ trục vong, xem bói online, trục lợi tài chính của người dân.

Luật An ninh mạng 2025 (Điều 7) đã quy định cấm việc sử dụng AI và Deepfake để giả mạo hình ảnh, giọng nói nhưng trên thực tế, đối tượng xấu đã bắt đầu giả mạo hình ảnh các chức sắc tôn giáo uy tín để lừa đảo quyên góp từ thiện hoặc phát tán phát ngôn sai lệch.

Hai là, bảo vệ dữ liệu cá nhân nhạy cảm và an toàn thông tin

Theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân và các văn bản pháp luật hiện hành, thông tin về quan điểm tôn giáo và tín ngưỡng được xếp vào nhóm dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Việc số hóa toàn bộ hệ thống dữ liệu tôn giáo nếu thiếu giải pháp bảo mật cấp độ cao sẽ đối mặt với nguy cơ bị tấn công, thất thoát dữ liệu. Lộ rò thông tin nhân thân, lịch sử sinh hoạt tôn giáo có thể dẫn đến sự phân biệt đối xử hoặc bị lợi dụng để đe dọa, tống tiền tín đồ.

Ba là, khoảng trống pháp lý và sự bất cập của mô hình quản lý theo địa giới

Mô hình quản lý nhà nước truyền thống dựa trên nguyên tắc địa giới hành chính, cơ sở tôn giáo ở đâu thì chính quyền địa phương đó quản lý. Tuy nhiên, hoạt động tôn giáo trên mạng có tính chất phi trung tâm. Một cá nhân ở địa phương có thể lập phòng room livestream giảng đạo cho hàng ng hìn tín đồ ở các địa phương hoặc ở nước ngoài. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 mới được Quốc hội ban hành ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027 đã bắt đầu bổ sung khung khổ điều chỉnh các hoạt động tôn giáo trên môi trường số, nhưng việc chi tiết hóa thành các quy trình vận hành chuẩn (SOP) xử lý vi phạm liên tỉnh, xuyên biên giới vẫn đang trong quá trình hoàn thiện.

Bốn là, khoảng cách số và nguy cơ bất bình đẳng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam có sự chênh lệch đáng kể về hạ tầng công nghệ giữa đô thị và vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi tập trung đông đảo tín đồ Tin Lành, Phật giáo Nam tông, Chăm Bà ni. Bất bình đẳng về hạ tầng mạng và kỹ năng số khiến tín đồ và chức sắc cơ sở ở các khu vực này gặp khó khăn khi tiếp cận dịch vụ công trực tuyến. Nếu chính quyền áp dụng số hóa một cách cứng nhắc mà không có lộ trình hỗ trợ phù hợp, người dân vùng dân tộc thiểu số sẽ đối mặt với nguy cơ bị đẩy ra bên lề, ảnh hưởng đến việc hưởng thụ quyền tự do tín ngưỡng chính đáng.

5. Giải pháp chính sách nhằm thúc đẩy chuyển đổi số bền vững trong quản lý nhà nước về tôn giáo

Một là, hoàn thiện hành lang pháp lý và quy chuẩn ứng xử số

Khẩn trương hoàn thiện Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026, trong đó quy định rõ tiêu chí, điều kiện, trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân khi tổ chức các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên môi trường số.

Phối hợp với các tổ chức tôn giáo xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử trên không gian mạng cho chức sắc, tín đồ, hướng dẫn việc thực hành tâm linh văn minh, đúng pháp luật và tích cực đấu tranh chống tin xấu độc trên mạng xã hội.

Cụ thể hóa các hình thức xử phạt đối với hành vi lợi dụng không gian mạng để lừa đảo tâm linh, kinh doanh mê tín dị đoan, hoặc sử dụng công nghệ AI/Deepfake mạo danh chức sắc tôn giáo.

Hai là, đồng bộ hạ tầng dữ liệu và ứng dụng công nghệ giám sát thông minh

Bộ Dân tộc và Tôn giáo đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm dữ liệu đúng - đủ - sạch - sống và kết nối an toàn với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Xây dựng hệ thống công cụ phân tích dữ liệu lớn và AI để rà quét, phát hiện sớm các luồng thông tin độc hại, các biểu hiện biến tướng tà đạo trên mạng xã hội để kịp thời xử lý.

Áp dụng nghiêm ngặt quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân nhạy cảm theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật An ninh mạng 2025.

Ba là, tăng cường phối hợp liên ngành và trách nhiệm của các nền tảng xuyên biên giới

Thiết lập cơ chế phối hợp liên thông giữa Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Công an, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các cơ quan báo chí để xử lý khủng hoảng truyền thông hoặc các sự vụ tôn giáo phức tạp trên mạng.

Yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ xuyên biên giới (Facebook, Google, YouTube, TikTok) tuân thủ pháp luật Việt Nam, chủ động ngăn chặn, gỡ bỏ các tài khoản, nội dung mạo danh tôn giáo, truyền bá mê tín dị đoan hoặc kích động thù hận khi có yêu cầu từ cơ quan chức năng.

Bốn là, đảm bảo tính bao trùm ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Triển khai các lớp bồi dưỡng bình dân học vụ số dành riêng cho chức sắc, chức việc, Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, giúp họ trở thành hạt nhân tuyên truyền pháp luật và hướng dẫn tín đồ ứng dụng công nghệ an toàn.

Duy trì cơ chế tiếp nhận hồ sơ song song, trực tuyến và trực tiếp, tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tránh hành chính hóa gây phiền hà cho người dân. Lồng ghép nhiệm vụ phủ sóng viễn thông và internet băng rộng vào Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

6. Kết luận

Chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về tôn giáo là đòi hỏi cấp bách nhằm xây dựng nền hành chính hiện đại, đáp ứng sự vận động của đời sống tôn giáo trong kỷ nguyên số. Sự tích hợp giữa công nghệ số và công tác tôn giáo mang lại cơ hội lớn để tối ưu hóa bộ máy, minh bạch hóa thủ tục, bảo tồn giá trị văn hóa và bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng của Nhân dân. Để biến các thách thức thành cơ hội, chính sách tôn giáo số của Việt Nam phải được định hình dựa trên ba trụ cột cốt lõi: Thể chế pháp lý hiện đại - Hạ tầng dữ liệu an toàn - Cán bộ quản trị thích ứng. Việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa quản lý và phục vụ, giữa bảo đảm an ninh quốc gia và tôn trọng tự do niềm tin sẽ là chìa khóa để xây dựng một đời sống tôn giáo lành mạnh, đồng hành cùng dân tộc trong thời kỳ mới .

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025). Quyết định số 745/QĐ BDTTG phê duyệt Chiến lược Chuyển đổi số và Quyết định số 746/QĐ-BDTTG phê duyệt Chiến lược dữ liệu của Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Hà Nội.

2. Báo Bắc Ninh (2026). Việt Nam bảo đảm quyền tự do tôn giáo trong kỷ nguyên số, xuất bản ngày 15/7/2026.

3. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2023). Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Hà Nội.

4. Đột phá phát triển (2026). Thích ứng quản trị tín ngưỡng, tôn giáo trong kỷ nguyên số. Báo Điện tử Dân tộc và Phát triển, xuất bản ngày 02/4/2026.

5. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2026). Chuyển đổi số trong hoạt động của Giáo hội. Ủy ban Truyền thông Xã hội.

6. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2026). Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (Luật số 07/2026/QH16). Hà Nội.

7. Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Sơn La (2026). Sở Dân tộc và Tôn giáo đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả công tác dân tộc, tôn giáo trong thời kỳ mới. Cổng thông tin điện tử Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Sơn La. https:// sodantoctongiao.sonla.gov.vn/chuyen-doi-so/so-dan-toc va-ton-giao-day-manh-chuyen-doi-so-nang-cao-hieu-qua cong-tac-dan-toc-trong-thoi-ky-m-997458

8. Sở Dân tộc và Tôn giáo Thành phố Hà Nội (2026). Đồng bào các dân tộc, chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo chung tay bảo vệ an ninh mạng và xây dựng văn hóa ứng xử trên môi trường số. Cổng thông tin điện tử Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội. https://sodantoctongiao.hanoi.gov. vn/tuyen-truyen-phap-luat/dong-bao-cac-dan-toc-chuc sac-chuc-viec-tin-do-ton-giao-chung-tay-bao-ve-an-ninh mang-va-xay-dung-van-hoa-ung-xu-tren-moi-truong so-2857260714213944848.htm