Từ khóa: Dântộc; Chính sách dân tộc; Campuchia
Điệu múa truyền thống của dân tộc Kola, Campuchia1. Khái quát về Campuchia và dân tộc ở Campuchia
Thế kỷ I SCN, ở trung lưu sông Mê Kông hình thành các tiểu quốc, trong đó có Chân Lạp (Campuchia ngày nay). Thế kỷ IX, Vua Chân Lạp Jayavarman II (ở ngôi 802-850) lập triều đại Angkor. Sau đó, Chân Lạp trở thành đế chế hùng mạnh, nhất là vào thế kỷ XII, đã khống chế nhiều vùng ở Đông Nam Á. Năm 1859, ở Campuchia, triều đại Norodom bắt đầu được thiết lập. Khi xâm lược Đông Dương, năm 1863, thực dân Pháp lập chế độ bảo hộ ở Campuchia cho đến năm 1953. Sau Hiệp định Genève 1954, thực dân Pháp rút quân khỏi Campuchia. Năm 1970, Campuchia xây dựng thể chế mới với tên gọi là Cộng hòa Campuchia. Năm 1975, chế độ quân sự của Lol Non thất bại, chính quyền thuộc về tay quân Khmer Đỏ do Pol Pot đứng đầu. Khmer Đỏ xây dựng một chế độ xã hội không tưởng - một thứ “chủ nghĩa xã hội trại lính”, mang tính tự cung, tự cấp, và nhất là thực hiện việc diệt chủng, với hơn 1,7 triệu người bị tàn sát.
Năm 1979 chế độ Khmer Đỏ bị tiêu diệt. Sau khi tiêu diệt chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, ông Heng Samrin thành lập chính quyền cách mạng. Từ năm 1993, sau cuộc tổng tuyển cử do Liên Hợp quốc tổ chức, Campuchia xây dựng Nhà nước theo thể chế Quân chủ Nghị viện, sau đó đổi thành chế độ quân chủ Lưỡng viện, gọi là Quân chủ Lập hiến, với tên gọi Vương quốc Campuchia.
Nước Campuchia với diện tích 181.035 km2, có đường biên giới trên bộ với Thái Lan, Lào và Việt Nam (1.137 km). Năm 2025, dân số Campuchia là 18,5 triệu người, trong đó chủ yếu là người Khmer. Về hành chính, Campuchia gồm 21 tỉnh và 03 thành phố trực thuộc trung ương.
Người Khmer chiếm đa số tại Campuchia với khoảng 90% dân số. Người Khmer sống chủ yếu ở vùng hạ lưu sông Mê Kông và vùng đồng bằng trung tâm. Còn lại là gần 30 dân tộc thiểu số, được chia thành hai nhóm chính: dân tộc thiểu số tại chỗ (gọi là Khmer Loeu cư trú ở miền núi), dân tộc thiểu số nhập cư (người Hoa, người Việt, người Chăm, người Thái, người Lào). Sau đây là các nhóm dân tộc thiểu số tại Campuchia:
Dân tộc thiểu số tại chỗ là người Khmer Loeu (Khmer vùng cao) còn gọi là Khmer Thượng gồm các dân tộc thiểu số tại chỗ, như người Jarai, Rade, Tampuan, Mnong, Stieng,… thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo - Malayo Polynesian và Nam Á - Môn Khmer. Cộng đồng Khmer Thượng sinh sống tách biệt tại các tỉnh miền núi ở Đông Bắc Campuchia (Tây Nam dãy Trường Sơn) bao gồm cao nguyên Raytanakiri, Mondulkiri. Nếu xã hội của người Khmer phát triển cao còn xã hội của người Khmer Thượng vẫn còn dấu ấn của thị tộc bộ lạc. Và, nếu người Khmer chủ yếu theo Phật giáo Nam tông còn người Khmer Thượng vẫn giữ tín ngưỡng thờ đa thần truyền thống.
Dân tộc thiểu số nhập cư là những cộng đồng từ nước ngoài đến cư trú tại Campuchia theo thời gian. Dân tộc nhập cư tại Campuchia chủ yếu là người Chăm, người Việt, người Hoa. Trước hết là người Chăm là con cháu của những cư dân từ Vương quốc Champa đến Campuchia qua các cuộc chiến tranh khác nhau của trong lịch sử, nhất là sau biến cố 1471, Vương quốc Champa suy vong. Người Chăm sống xen kẽ với người Khmer ở vùng đồng bằng trung tâm, như Kampong Cham, Phnom Penh và ven sông Mê Kông.
Người Việt sinh sống chủ yếu tại Phnom Penh, các tỉnh giáp biên giới Campuchia - Việt Nam và khu vực Biển Hồ. Người Việt chủ yếu tham gia vào hoạt động nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh Svay Rieng (Svây Riêng), Prey Veng, Kandal và Takeo liền kề với vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.
Đền Angkor WatNgười Campuchia gốc Hoa di cư đến Campuchia từ các vùng Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam,… của Trung Quốc với những thời gian khác nhau. Có hai cộng đồng người Khmer gốc Hoa là người Campuchia gốc Hoa và người Campuchia có Tổ tiên hỗn hợp Hoa - Khmer. Người Hoa chiếm sống tập trung ở các đô thị lớn làm nghề buôn bán.
Ngoài ra, ở Campuchia còn có các nhóm thiểu số khác, như người Thái gồm người Thái cư trú từ lâu đã nhập văn hóa, ngôn ngữ Khmer và người Thái mới đến thời gian sau này; người Lào và người Mông,…
Campuchia là một quốc gia có tỷ lệ dân số theo tôn giáo đặc biệt là Phật giáo Nam tông rất đông ở khu vực Đông Nam Á. Ở Campuchia, ngoài Phật giáo chiếm 95% dân số, ở Campuchia có các tôn giáo khác, như: Hồi giáo gắn với dân tộc Chăm từ cuối thế kỷ XV. Sau này, Công giáo, đạo Tin Lành và một số tôn giáo từ bên ngoài mới truyền đến. Ở Campuchia còn có các loại hình tín ngưỡng của người dân tộc thiểu số bản dịa ở vùng phía Đông Bắc Campuchia.
2. Chính sách dân tộc ở Campuchia
Chính sách dân tộc ở Campuchia được hình thành từ khá sớm và thay đổi theo thời gian. Dưới thời Pháp thuộc, chính sách dân tộc theo cơ chế của Pháp chủ yếu thực hiện quản lý đối với vùng sâu, vùng xa nơi có các dân tộc thiểu số. Sau khi giành được độc lập năm 1953, Nhà nước Campuchia dưới thời Quốc vương Norodom Sihanouk bắt đầu triển khai chính thực hiện sách dân tộc nhưng chưa hình thành quy định pháp luật cụ thể. Sau năm 1975, chế độ Khmer Đỏ thực hiện đồng hóa, xóa bỏ văn hóa và quyền lợi của các dân tộc thiểu số. Sau khi tiêu diệt chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, ngoài những nỗ lực khắc phục hậu quả về xã hội của chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, Chính phủ Campuchia rất quan tâm đến chính sách dân tộc.
Thể hiện nhận thức và ứng xử với dân tộc đã được thể trong Hiến pháp Campuchia được sửa đổi năm 1999, sau này qua nhiều lần sửa đổi, gần nhất là 2014. Điều 31 của Hiến pháp ghi rõ nguyên tắc: Nhà nước công nhận và tôn trọng các quyền con người đã được ghi nhận trong Hiến chương Liên Hợp quốc, Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người, các Công ước quốc tế về quyền con người mà Campuchia là thành viên. Về dân tộc, Hiến pháp Campuchia khẳng định: Người Khmer và mọi công dân khác được hưởng quyền tự do và bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị, nguồn gốc xã hội, tài sản, địa vị xã hội.
Dựa vào những nguyên tắc của Hiến pháp, các luật chuyên ngành, điển hình là Luật Đất đai 2001 và Luật Giáo dục năm 2007 đều cụ thể về quyền lợi của các dân tộc thiểu số. Cụ thể Luật Đất đai ghi nhận quyền sở hữu đối với đất đai, được đăng ký quyền sử dụng đất tập thể, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng truyền thống. Luật Giáo dục thực hiện đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục cho tất cả trẻ em, không phân biệt dân tộc, chấp thuận việc triển khai giáo dục song ngữ tại các vùng có đông dân tộc thiểu số, đồng thời khuyến khích việc bảo tồn và phát triển ngôn ngữ dân tộc.
Cùng với các quy định trong các luật chuyên ngành là những văn bản dưới luật thể hiện cụ thể chính sách dân tộc ở Campuchia. Đó là Nghị định về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng tại vùng dân tộc thiểu số năm 2005, Nghị định công nhận và đăng ký cộng đồng tại chỗ năm 2009. Gần đây, Chiến lược Phát triển Kinh tế - xã hội 2019-2023, Campuchia chú trọng công tác giảm nghèo, phát triển hạ tầng đối với dân tộc thiểu số tại chỗ vùng Đông Bắc,…
Với những quy định pháp luật đã đưa đến những kết quả quan trọng trong việc thực hiện chính sách dân tộc ở Campuchia. Một trong những chính sách được Chính phủ Campuchia quan tâm là đầu tư cơ sở hạ tầng vùng dân tộc thiểu số. Chỉ tính riêng những năm 2014-2019 đã có hơn 1.200km đường nông thôn được xây dụng ở hai tỉnh Ratanakiri và Mondulkiri. Đó là Chương trình xóa đói giảm nghèo, Chương trình bảo vệ tài nguyên môi trường, Chương trình giáo dục song ngữ, Chương trình bảo vệ và lưu giữ văn hóa dân tộc,… được triển khai ở vùng dân tộc thiểu số, nhất là dân tộc thiểu số tại chỗ vùng Đông Bắc.
Trong việc thực hiện chính sách dân tộc, Cam puchia rất chú trọng sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế với các chương trình, kinh tế, văn hóa, xã hội cụ thể. Đó là Ngân hàng Phát triển châu Á - ADB hỗ trợ việc xây dựng mạng lưới điện và nước sạch; Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp quốc - FAO hỗ trợ phát triển nông nghiệp sinh thái và môi trường; Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc - UNICEF và Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp quốc - UNESCO hỗ trợ trong giáo dục, giáo dục song ngữ, bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số; Cơ quan Hợp tác phát triển Đức - GIZ; Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản - JICA hỗ trợ việc bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững,…
Campuchia một quốc gia có rất nhiều người theo tôn giáo đã tạo ra nhận thức và ứng xử phù hợp đối với tôn giáo không chỉ trong hệ thống chính trị mà còn là hiểu biết của xã hội. Do đó, việc một bộ phận cộng đồng dân tộc thiểu số theo tôn giáo khác ngoài Phật giáo được Chính phủ quan tâm nên mọi việc diễn ra bình thường và được giải quyết phù hợp.
Bên cạnh những thành tự đạt được, vì nhiều lý do, cả chủ quan và khách quan, việc thực hiện chính sách dân tộc ở Campuchia còn những tồn tại cần quan tâm. Đó là mất bình đẳng và phân biết đối xử với dân tộc thiểu số vẫn còn ở một số nơi tạo sự phản ứng cục bộ của một số dân tộc thiểu số; các thủ tục hành chính liên quan đến kinh tế, văn hóa, xã hội còn rườm rà; sự phối hợp của các ngành, các địa phương trong công tác dân tộc chưa chặt chẽ,… do đó hiệu quả của chính sách chưa đạt được như mong muốn.
Ở Campuchia, nếu vấn đề tôn giáo có Bộ Lễ nghi và Tôn giáo với chức năng giúp Quốc vương và Chính phủ về mọi công việc liên quan đến tôn giáo theo hướng hướng dẫn và giúp đỡ tất cả các tổ chức tôn giáo, trong đó đặc biệt là Phật giáo về các hoạt động tôn giáo; theo dõi và hướng dẫn các cơ sở tôn giáo, tổ chức tôn giáo thực hiện giáo lý các tôn giáo và pháp luật của Nhà nước,… Riêng với vấn đề dân tộc, ở Campuchia không có cơ quan chuyên trách mà được đưa về các bộ ngành có liên quan, cụ thể Bộ Nội vụ quản lý hành chính trong đó có việc công nhận các cộng đồng dân tộc thiểu số. Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản quản lý về tài nguyên, đất rừng của cộng đồng dân tộc thiểu số. Bộ Phát triển Nông thôn phụ trách các dự án hạ tầng, như đường, cầu, cấp thoát nước vùng dân tộc thiểu số. Bộ Giáo dục, Thanh niên và Thể thao thực hiện các Chương trình Giáo dục song ngữ, đào tạo giáo viên cho vùng dân tộc thiểu số,... Đặc biệt, ở Campuchia có Ủy ban Quốc gia về nhân quyền trong đó có chức năng giám sát thực hiện các công ước quốc tế liên quan đến quyền của các dân tộc thiểu số.
3. Kết luận
Vương quốc Campuchia là quốc gia Đông Nam Á có lịch sử lâu đời. Mặc dù là một quốc gia vấn đề dân tộc không lớn và phức tạp nhưng rất được Chính phủ hiện nay quan tâm. Chính sách dân tộc chú trọng nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc; chú trọng phát triển kinh tế, xã hội nâng câo đời sống dân sinh, trình độ dân trí và bảo tồn và lưu giữ văn hóa các dân tộc; chú trọng vấn đề đất đai và tài nguyên rừng của vùng dân tộc thiểu số. Thực hiện chính sách dân tộc, ngoài chính sách của Chính phủ, Campuchia chú trọng sự tương thích với luật pháp quốc tế, đồng thời tiếp nhận sự hỗ trợ, giúp đỡ của các tổ chức quốc tế. Bên cạnh những thành tựu đạt được, chính sách dân tộc ở Campuchia còn những vấn đề cần quan tâm trong thời gian tới đây .
Tài liệu tham khảo
1. Ban Tôn giáo Chính phủ, Tôn giáo ở Campuchia, Hà Nội, 2008.
2. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chính sách, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về dân tộc và quan hệ dân tộc, Hà Nội, 2025.
3. Nguyễn Văn Luận, Người Chàm Hồi giáo ở miền Tây Nam phần Việt Nam, Tủ sách biên khảo, Sài Gòn, 1974.
4. Quốc hội Hoàng gia, Hiến pháp Quốc vương Campuchia (1993, sửa đổi 2014), Phnom Penh 2014.
5. Mai Lý Quảng (Chủ biên), 252 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2010.
6. Trần Quang Thuận, Phật giáo Nam tông tại Đông Nam Á, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2008.
7. Phạm Việt Trung, Lịch sử Campuchia, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 1982.
8. Nguyễn Sỹ Tuấn (Chủ biên), Từ điển lịch sử và văn hóa Campuchia, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2013. 9. Nguyễn Thanh Xuân - Nguyễn Quỳnh Trâm, Tôn giáo và chính sách tôn giáo một số nước trên thế giới, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội. 2023.