Tỉnh Lạng Sơn ưu tiên triển khai truy xuất nguồn gốc đối với các sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP, sản phẩm xuất khẩu và các chuỗi sản xuất trọng điểmTỉnh Lạng Sơn, câu chuyện về nông sản sạch đang dần thay đổi. Nếu trước đây người nông dân chủ yếu quan tâm đến năng suất, sản lượng và đầu ra theo mùa vụ, thì nay một yêu cầu mới ngày càng rõ, sản phẩm phải an toàn, có nguồn gốc rõ ràng, có thương hiệu và có khả năng tiếp cận thị trường rộng lớn hơn.
Đó cũng là nơi chuyển đổi số bắt đầu phát huy giá trị.
Lạng Sơn có nhiều sản phẩm nông nghiệp đặc trưng đã tạo được vị thế trên thị trường, như: na Chi Lăng, hồi, thạch đen Tràng Định, quýt Bắc Sơn cùng nhiều sản phẩm OCOP. Theo báo cáo của Sở Công thương tỉnh Lạng Sơn năm 2025, toàn tỉnh có 185 sản phẩm OCOP còn hiệu lực, gồm 10 sản phẩm 4 sao và 175 sản phẩm 3 sao. Nhiều sản phẩm đã ứng dụng công nghệ thông tin trong truy xuất nguồn gốc, quảng bá, giới thiệu và kết nối tiêu thụ.
Nhưng đưa sản phẩm lên mạng mới chỉ là bước đầu.
Điều quan trọng hơn là đưa cả câu chuyện sản xuất lên không gian số. Một người tiêu dùng ở thủ đô Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh,… khi mua một sản phẩm na Chi Lăng có thể quét mã QR để biết sản phẩm đến từ đâu, vùng trồng nào, chủ thể sản xuất là ai, quy trình được thực hiện ra sao. Với doanh nghiệp, những dữ liệu ấy giúp nâng mức độ tin cậy. Với người nông dân, đó là cơ hội chứng minh chất lượng thay vì chỉ nói về chất lượng.
Đây là sự thay đổi căn bản trong quan hệ giữa người sản xuất, sản phẩm, thị trường.
Tỉnh Lạng Sơn đã xây dựng nền tảng phục vụ sản xuất nông nghiệp thông minh và hệ thống truy xuất nguồn gốc, trong đó người tiêu dùng có thể tìm kiếm các sản phẩm OCOP và nông đặc sản theo địa phương, nhóm sản phẩm và loại sản phẩm.
Và đặc biệt, hệ thống quản lý thông tin OCOP và nông đặc sản của tỉnh chính thức vận hành từ tháng 4/2025, từng bước hình thành cơ sở dữ liệu tập trung về chủ thể sản xuất, vùng nguyên liệu, quy trình chế biến, tiêu chuẩn chất lượng, hình ảnh và hồ sơ liên quan của sản phẩm.
Khi nông sản có dữ liệu, thị trường có thêm niềm tin. Và đây chính là giá trị sâu xa của chuyển đổi số trong nông nghiệp. Trước đây, một sản phẩm đặc sản của vùng cao có thể rất ngon nhưng khó tiếp cận người mua ở xa. Người tiêu dùng muốn mua nhưng không biết mua ở đâu; doanh nghiệp muốn tìm vùng nguyên liệu nhưng thiếu thông tin; hợp tác xã có sản phẩm nhưng thiếu kênh quảng bá. Như vậy, nền tảng số có thể giúp kết nối những khoảng trống ấy.
Lạng Sơn là một trong những tỉnh đi đầu trong việc triển khai chuyển đổi số trong nông nghiệp. Với vị trí địa lý đặc biệt và tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực nông nghiệp, Tỉnh Lạng Sơn đã tích cực áp dụng các công nghệ mới và số hóa hoạt động sản xuất nông nghiệp để nâng cao hiệu quả và thu nhập cho người dân. Những năm gần đây, tỉnh đã có những bước tiến lớn trong việc áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông sảnTheo đó, ngày 29/7/2026, UBND tỉnh Lạng Sơn đã ban hành Văn bản số 2020/UBND-KTCN triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản và kết nối, chia sẻ dữ liệu theo chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Theo Văn bản, Sở Nông nghiệp và môi trường là cơ quan đầu mối, chủ trì triển khai hệ thống; phối hợp cung cấp giải pháp truy xuất nguồn gốc, kết nối, tích hợp các hệ thống hiện có theo chuẩn dữ liệu, chuẩn kết nối và giao diện lập trình ứng dụng (API) do Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố, bảo đảm nguyên tắc “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”, chia sẻ dữ liệu và không làm gián đoạn hoạt động của các hệ thống đang vận hành.
Tại một cuộc hội thảo gần đây, đại diện Lãnh đạo Sở Công thương tỉnh Lạng Sơn chia sẻ: Trước đây đã có 250 hợp tác xã triển khai phần mềm quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc; 50 hợp tác xã sử dụng tem truy xuất nguồn gốc; 246 hợp tác xã sử dụng phần mềm nhật ký điện tử. Toàn tỉnh từng ghi nhận hơn 20.984 sản phẩm được đưa lên sàn thương mại điện tử và hơn 227.000 hộ sản xuất nông nghiệp được đào tạo kỹ năng số.
Những con số này cho thấy chuyển đổi số không còn là câu chuyện xa xôi của doanh nghiệp công nghệ… Nó đã bắt đầu đi vào ruộng, vườn và hợp tác xã.
Tuy nhiên, việc đưa nông sản lên sàn thương mại điện tử không đồng nghĩa với việc chắc chắn bán được hàng. Thách thức lớn hơn nằm ở chất lượng, năng lực sản xuất ổn định, logistics, bảo quản, đóng gói và khả năng duy trì thương hiệu. Một sản phẩm được quảng bá rất tốt nhưng chất lượng không ổn định sẽ nhanh chóng đánh mất niềm tin. Một sản phẩm đạt chuẩn nhưng giao hàng chậm, bao bì chưa phù hợp hoặc thiếu thông tin cũng khó cạnh tranh trên thị trường hiện đại.
Vì vậy, chuyển đổi số phải đi cùng chuyển đổi phương thức sản xuất. Người nông dân cần biết ghi chép nhật ký điện tử, tuân thủ quy trình sản xuất an toàn, kiểm soát vật tư đầu vào, bảo đảm thời gian cách ly, phân loại sản phẩm và cập nhật dữ liệu vùng nguyên liệu. Hợp tác xã cần nâng cao năng lực quản trị. Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào khâu chế biến, logistics và xây dựng thị trường.
Nói cách khác, không thể có thương mại điện tử bền vững nếu phía sau nó chưa có một nền sản xuất đủ tốt.
Đây là lý do tỉnh Lạng Sơn đang định hướng phát triển các vùng nguyên liệu tập trung, sản xuất an toàn, liên kết theo chuỗi và ứng dụng công nghệ thông tin trong truy xuất nguồn gốc gắn với sản phẩm OCOP. Tỉnh cũng đặt mục tiêu hỗ trợ 100% sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên tham gia các sàn thương mại điện tử lớn và mở rộng ứng dụng tem truy xuất nguồn gốc thông minh.
Từ đây, có thể nhìn thấy một chuỗi giá trị mới, đó là: Sản xuất sạch → dữ liệu hóa → truy xuất nguồn gốc → xây dựng thương hiệu → thương mại điện tử → mở rộng thị trường.
Mỗi mắt xích đều quan trọng.
Nếu thiếu sản xuất sạch, không có chất lượng để bảo vệ thương hiệu.
Nếu thiếu dữ liệu, người tiêu dùng khó kiểm chứng.
Nếu thiếu thương hiệu, sản phẩm dễ bị hòa lẫn.
Và nếu thiếu thị trường, nông dân vẫn phải phụ thuộc vào những kênh tiêu thụ truyền thống.
Đặc biệt, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói chung và vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn nói riêng, chuyển đổi số còn mang một ý nghĩa xã hội sâu sắc. Nhiều vùng sản xuất nằm xa trung tâm, quy mô hộ nhỏ, khả năng tiếp cận thông tin thị trường còn hạn chế. Khi người dân được trang bị kỹ năng số, chiếc điện thoại thông minh có thể trở thành công cụ tìm kiếm giá cả, quảng bá sản phẩm, kết nối khách hàng và tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ sản xuất.
Tỉnh Lạng Sơn đã hình thành nhiều vùng cây trồng chủ lực như na Chi Lăng, quýt Bắc Sơn, hồng Bảo Lâm…Ông Lâm Văn Viên, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và tôn giáo tỉnh Lạng Sơn cho rằng: Chuyển đổi số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần được nhìn nhận như một phương thức khơi dậy nội lực, chứ không đơn giản là đưa công nghệ về nông thôn. Khi người dân có khả năng tự giới thiệu sản phẩm, kể câu chuyện về vùng đất và kết nối trực tiếp với khách hàng, họ sẽ từng bước chuyển từ vị thế người cung cấp nguyên liệu sang chủ thể của chuỗi giá trị.
Nhận định này đặc biệt có ý nghĩa và cần thiết với tỉnh Lạng Sơn. Bởi phía sau mỗi sản phẩm nông sản là một câu chuyện văn hóa.
Na Chi Lăng gắn với vùng núi đá và kỹ thuật canh tác của người dân địa phương. Hồi Lạng Sơn gắn với những cánh rừng và tri thức sản xuất được trao truyền qua nhiều thế hệ. Quýt Bắc Sơn gắn với thung lũng mùa vàng. Thạch đen Tràng Định gắn với vùng nguyên liệu và đời sống sản xuất của đồng bào.
Và nếu những câu chuyện ấy được kể tốt trên nền tảng số, nông sản không còn chỉ được bán bằng giá, mà có thể được nhận diện bằng giá trị.
Đó là điểm gặp nhau giữa chuyển đổi số và phát triển văn hóa. Một video ngắn về vùng trồng; một mã QR chứa thông tin sản phẩm; một câu chuyện về người nông dân; một phiên livestream giới thiệu mùa thu hoạch… đều có thể trở thành cánh cửa đưa hình ảnh tỉnh Lạng Sơn đến với người tiêu dùng.
Nhưng để làm được điều đó, cần hình thành một lớp nông dân số thực sự. Người nông dân không nhất thiết phải trở thành chuyên gia công nghệ. Họ cần được trang bị những kỹ năng thiết thực, đó là sử dụng nền tảng số, quản lý dữ liệu sản xuất, chụp ảnh và quay video sản phẩm, giao tiếp với khách hàng, nhận diện thông tin sai lệch, bảo vệ tài khoản và thực hiện giao dịch trực tuyến an toàn.
Đây cũng là hướng tỉnh Lạng Sơn xác định cho giai đoạn 2026-2030, đó là tăng cường đào tạo kỹ năng số cho cán bộ, khuyến nông, lãnh đạo hợp tác xã, doanh nghiệp và nông dân tiêu biểu, từng bước hình thành lực lượng nông dân số.
Và một điểm đặc biệt quan tâm nữa là phải kết nối nông sản với du lịch nông thôn, du lịch cộng đồng và văn hóa địa phương. Du khách đến Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) mùa quýt chín có thể mua sản phẩm ngay tại vườn. Du khách trải nghiệm vùng na Chi Lăng có thể tìm hiểu quy trình sản xuất, thưởng thức và đặt hàng trực tuyến sau chuyến đi. Một homestay có thể trở thành điểm giới thiệu sản phẩm OCOP của cả cộng đồng.
Khi đó, một chuyến du lịch không kết thúc khi du khách rời khỏi địa phương.
Nó tiếp tục trên không gian số bằng những đơn hàng, những lượt chia sẻ và những lần quay trở lại.
Đó chính là cách biến trải nghiệm thành thị trường.
Tuy nhiên, để mô hình này phát triển bền vững, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng số ở vùng nông thôn; hỗ trợ đào tạo kỹ năng; kết nối các nền tảng thương mại điện tử; xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất và hỗ trợ hợp tác xã nâng cao năng lực quản trị. Doanh nghiệp công nghệ cần phát triển các giải pháp dễ sử dụng, phù hợp với người dân vùng cao.
Đồng thời, cần tránh tình trạng số hóa hình thức, sản phẩm có mã QR nhưng thông tin nghèo nàn; có gian hàng trực tuyến nhưng không cập nhật; có tài khoản mạng xã hội nhưng không duy trì; hoặc đưa sản phẩm lên sàn nhưng không có năng lực đáp ứng đơn hàng.
Vì vậy, chuyển đổi số phải tạo ra giá trị thực, chứ không chỉ tạo ra dấu vết trên môi trường số.
Nhờ áp dụng kỹ thuật sản xuất tiên tiến, trồng na rải vụ theo tiêu chuẩn an toàn và đưa sản phẩm lên các nền tảng thương mại điện tử, nhiều hộ dân có thu nhập hang tram triệu đồng mỗi nămTỉnh Lạng Sơn đang đứng trước cơ hội lớn để kết nối lợi thế nông nghiệp với thị trường hiện đại. Những con số về sản phẩm OCOP, vùng trồng, hợp tác xã ứng dụng công nghệ và người dân được đào tạo kỹ năng số cho thấy nền tảng ban đầu đã hình thành.
Vấn đề của giai đoạn tới là nâng chất lượng của nền tảng ấy.
Từ đưa nông sản lên mạng phải chuyển sang đưa cả chuỗi giá trị lên môi trường số.
Từ người trồng đến hợp tác xã; từ vùng nguyên liệu đến nhà máy; từ mã truy xuất đến thương hiệu; từ thương mại điện tử đến logistics và tất cả phải được kết nối.
Khi ấy, chiếc điện thoại của người nông dân không chỉ là phương tiện liên lạc.
Nó có thể trở thành một cánh cửa mở ra thị trường.
Và những sản phẩm được làm ra từ những vùng đất miền núi Lạng Sơn sẽ không còn phải chờ thị trường tìm đến.
Chính người nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp Lạng Sơn có thể chủ động đưa sản phẩm của mình đi xa hơn, bằng chất lượng thật, dữ liệu thật và câu chuyện thật của một vùng đất giàu tiềm năng…/.