Trong bối cảnh hiện nay, đứng trước sự thay đổi của thời đại và phát triển của công nghệ số, đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp đồng bộ, toàn diện để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu sốTiến sĩ Nông Hồng Hạnh, Phó trưởng ban Ban Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ dân tộc thiểu số và Miền núi, Trường Đại học Thái Nguyên cho rằng: Di sản văn hóa vốn được hình thành trong không gian sống của cộng đồng. Đó là những làn điệu dân ca cất lên giữa núi rừng, những nghi lễ diễn ra nơi sân bản, những nghề thủ công truyền từ bàn tay của thế hệ trước sang thế hệ sau hay những tri thức dân gian được lưu giữ bằng ký ức của các nghệ nhân. Hàng trăm năm qua, chính cộng đồng là nơi gìn giữ những giá trị ấy.
Nhưng bước sang thế kỷ 21, khi công nghệ số làm thay đổi phương thức giao tiếp, học tập và sáng tạo của con người, không gian bảo tồn di sản văn hoá cũng đang được mở rộng. Cùng với không gian cộng đồng truyền thống, không gian số đang trở thành miền di sản mới, nơi văn hóa dân tộc thiểu số có thể được lưu giữ, chia sẻ và tiếp cận rộng rãi hơn bao giờ hết.
Đây không phải là sự thay thế giữa truyền thống và hiện đại.
Mà là sự tiếp nối.
Là cách để di sản văn hoá bước vào đời sống đương đại bằng những phương thức mới.
Văn hoá các dân tộc thiểu số đang đứng trước những biến đổi rất sâu sắc, vì vậy yêu cầu đặt ra là việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp các dân tộc thiểu số ngày càng trở nên cấp bách trong bối cảnh giao lưu và hội nhập quốc tế…Đối với Việt Nam, một quốc gia thống nhất, đa dân tộc, với 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số (khoảng 14,1 triệu người, chiếm khoảng 14,7% dân số của cả nước), với kho tàng di sản văn hóa vô cùng phong phú, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa là yêu cầu của thời đại, đặc biệt còn là giải pháp quan trọng để bảo tồn những giá trị đang đứng trước nguy cơ mai một. Đặc biệt, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nơi nhiều loại hình di sản vẫn chủ yếu được truyền dạy bằng hình thức truyền khẩu, việc số hóa càng có ý nghĩa cấp thiết.
Không ít nghệ nhân đã ngoài bảy mươi, tám mươi tuổi.
Nhiều người là kho tư liệu quan trọng về tiếng nói, chữ viết, sử thi, dân ca, lễ hội và nghề truyền thống.
Nếu không được ghi chép, ghi âm, ghi hình và lưu trữ kịp thời, một phần ký ức văn hóa của cộng đồng có thể mất đi cùng với họ.
Chính vì vậy, số hóa trước hết là một giải pháp bảo tồn.
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu số về di sản văn hóa dân tộc thiểu số đang được nhiều địa phương triển khai. Hàng nghìn hiện vật, tư liệu, hình ảnh, phim tư liệu, bản ghi âm, bản đồ văn hóa và hồ sơ di sản từng bước được số hóa, tạo thành nguồn dữ liệu quý phục vụ nghiên cứu, giáo dục và quảng bá.
Giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số là chất liệu, cảm hứng dồi dào, phong phú để khai thác phát triển công nghiệp văn hóa…Tuy nhiên, giá trị của chuyển đổi số không dừng lại ở việc lưu trữ. Và điều quan trọng hơn là làm cho di sản văn hoá tiếp tục sống. Một làn điệu Then của người Tày, một điệu Xòe của người Thái, một bản sử thi của người Ê Đê hay kỹ thuật dệt thổ cẩm của người Mông, nếu chỉ nằm trong kho tư liệu thì mới hoàn thành một nửa sứ mệnh bảo tồn.
Khi những giá trị ấy được giới thiệu trên các nền tảng số, được xây dựng thành bảo tàng trực tuyến, triển lãm ảo, phim tài liệu, podcast, sách điện tử hay các sản phẩm giáo dục số, di sản sẽ có cơ hội tiếp cận với công chúng rộng lớn hơn, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Xét ở phương diện này, công nghệ không làm thay đổi bản chất của di sản văn hoá. Và công nghệ chỉ thay đổi cách con người tiếp cận di sản văn hoá.
Các giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số cần được chú trọng bảo tồn và phát huy trên không gian số…Theo ông Nông Quốc Thành, nguyên Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hoá, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chia sẻ: Chuyển đổi số đang tạo ra sự dịch chuyển quan trọng từ mô hình bảo tồn tĩnh sang bảo tồn động. Nếu trước đây, di sản văn hoá chủ yếu được lưu giữ trong bảo tàng hoặc cộng đồng thì ngày nay, mỗi thiết bị thông minh đều có thể trở thành cánh cửa để người dân tiếp cận văn hóa truyền thống.
Ông Nông Quốc Thành nhận định: “Không gian số không làm mất đi giá trị nguyên gốc của di sản văn hoá nếu được khai thác đúng cách. Ngược lại, đây là môi trường giúp di sản văn hoá được lưu giữ an toàn hơn, tiếp cận nhiều đối tượng hơn và tạo điều kiện để cộng đồng tham gia vào quá trình bảo tồn. Điều quan trọng là công nghệ phải phục vụ di sản, chứ không làm biến dạng di sản”.
Đó cũng là nguyên tắc cốt lõi của bảo tồn di sản văn hoá trong thời đại số.
Không gian số không thay thế lễ hội truyền thống.
Không thay thế nghệ nhân.
Và không thay thế cộng đồng.
Vì vậy, nó chỉ mở rộng không gian sống của di sản văn hoá.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các dân tộc thiểu số. Nhiều ngôn ngữ đang có nguy cơ mai một có thể được xây dựng thành từ điển điện tử và kho dữ liệu âm thanh. Những nghề thủ công truyền thống có thể được số hóa thành video hướng dẫn hoặc mô hình ba chiều. Các lễ hội có thể được ghi hình với chất lượng cao để phục vụ nghiên cứu, giáo dục và quảng bá.
Không gian số cũng đang mở ra cơ hội mới cho phát triển kinh tế văn hóa. Các sản phẩm thủ công truyền thống, nhạc cụ dân tộc, thổ cẩm, dược liệu, ẩm thực hay du lịch cộng đồng có thể tiếp cận thị trường rộng lớn thông qua các nền tảng số. Văn hóa từ đó sẽ được bảo tồn, đặc biệt còn trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững.
Tuy nhiên, cùng với cơ hội là không ít thách thức. Một số sản phẩm số hóa còn thiếu tính hệ thống. Việc chuẩn hóa dữ liệu chưa đồng bộ. Và không ít di sản được giới thiệu trên mạng xã hội theo hướng giải trí hóa, cắt rời khỏi bối cảnh văn hóa nguyên gốc… Đây là nguy cơ có thể dẫn đến hiểu sai hoặc thương mại hóa quá mức các giá trị truyền thống.
Việc khai thác hiệu quả các chất liệu đa dạng của văn hóa truyền thống, kế thừa và sử dụng sáng tạo giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số trên không gian số là cách thức bảo tồn di sản và cũng là một hướng đi mới mẻ, nhiều triển vọng cho các ngành công nghiệp văn hóa, đặc biệt là các ngành điện ảnh, âm nhạc, thời trang, du lịch văn hóa…Bởi vậy, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Sửu, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, quá trình số hóa cần đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm. Nghệ nhân, già làng, người am hiểu văn hóa phải là chủ thể tham gia xây dựng dữ liệu, kiểm chứng nội dung và truyền dạy giá trị. Chỉ khi cộng đồng trở thành chủ thể của chuyển đổi số, di sản văn hoá mới giữ được tính xác thực và sức sống lâu dài.
Và đặc biệt là đào tạo nguồn nhân lực số trong lĩnh vực văn hóa. Cán bộ quản lý, bảo tàng, thư viện, trung tâm văn hóa và chính các nghệ nhân cũng cần được hỗ trợ kỹ năng sử dụng công nghệ để chủ động tham gia vào quá trình bảo tồn và quảng bá di sản.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, nhiều công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, thực tế ảo, thực tế tăng cường hay mô hình số 3D đang mở ra những phương thức bảo tồn hiện đại hơn. Một ngôi nhà trình tường của người Mông, người Lô Lô, một ngôi nhà sàn của người Thái hay một bộ cồng chiêng có thể được số hóa với độ chính xác cao, tạo điều kiện cho nghiên cứu, giáo dục và trải nghiệm từ xa.
Nhưng dù công nghệ phát triển đến đâu, giá trị cốt lõi của di sản văn hoá vẫn nằm ở con người.
Không gian số có thể lưu giữ hình ảnh.
Có thể lưu giữ âm thanh.
Có thể lưu giữ dữ liệu.
Nhưng chỉ cộng đồng mới lưu giữ được linh hồn của di sản văn hoá.
Bởi vậy, bảo tồn trên không gian số không thể tách rời bảo tồn trong đời sống thực. Chẳng hạn, trong một bản làng vùng cao, tiếng Then vẫn ngân lên bên bếp lửa. Xa hàng trăm cây số, một người trẻ có thể nghe chính làn điệu ấy qua nền tảng số trên điện thoại. Hai không gian khác nhau, nhưng cùng chung một giá trị văn hóa…
Đó chính là ý nghĩa sâu sắc nhất của chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản văn hoá.
Không phải đưa văn hóa rời khỏi cộng đồng. Mà đưa cộng đồng đến gần hơn với thế giới.
Không phải thay thế truyền thống bằng công nghệ. Mà để công nghệ trở thành cây cầu nối quá khứ với hiện tại, kết nối ký ức với tương lai.
Với 54 dân tộc anh em, trong đó có 53 dân tộc thiểu số đang sinh sống trên dải đất hình chữ S, mỗi dân tộc đều có một bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự thống nhất trong đa dạng văn hóa Việt NamVì vậy, việc đưa văn hóa dân tộc thiểu số lên không gian số là một nhiệm vụ kỹ thuật cần thiết, đồng thời đó là một chiến lược văn hóa dài hạn, góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc, phát huy giá trị di sản và khẳng định vị thế của văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên số. Khi mỗi làn điệu dân ca, mỗi nghề thủ công, mỗi lễ hội và mỗi tri thức dân gian đều có một địa chỉ trên không gian số, cũng là lúc di sản văn hoá cần được bảo tồn, đặc biệt còn tiếp tục sống, lan tỏa và truyền cảm hứng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.../.