Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Truyền thông Chuyển Đổi số

Đưa tiếng chiêng Tây Nguyên lên không gian số

Khánh Chi - Dũng Paul - Quang Thiện - 07:24, 03/09/2026

(DTTG) - Từ không gian thiêng của buôn làng đến không gian mở của Internet, tiếng cồng chiêng Tây Nguyên đang có thêm một hành trình mới. Số hóa di sản văn hoá không chỉ giúp lưu giữ âm thanh, hình ảnh và tri thức của các nghệ nhân, đồng thời còn mở ra cơ hội để thế hệ trẻ tiếp cận, học hỏi và tiếp nối văn hóa của cha ông. Tuy nhiên, giá trị của tiếng chiêng số chỉ thực sự bền vững khi công nghệ góp phần giữ lại linh hồn, chủ thể và không gian sống của di sản văn hoá...

Không giống như một số di sản phi vật thể khác, Cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận do sự kết hợp của không gian và nghệ thuật. Chính vì vậy, việc bảo tồn di sản này cần quan tâm đến cả hai yếu tố nêu trên…
Không giống như một số di sản phi vật thể khác, Cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận do sự kết hợp của không gian và nghệ thuật. Chính vì vậy, việc bảo tồn di sản này cần quan tâm đến cả hai yếu tố nêu trên…

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại năm 2005, sau đó được đưa vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2008. Với các cộng đồng Tây Nguyên, cồng chiêng không đơn giản là nhạc cụ, đặc biệt còn gắn với nghi lễ, lễ hội, tín ngưỡng, đời sống cộng đồng và mối quan hệ giữa con người với thế giới tâm linh. Chính vì vậy, bảo tồn cồng chiêng thực chất là bảo tồn một không gian văn hóa sống.

Trong nhiều năm qua, quá trình hiện đại hóa, thay đổi phương thức sản xuất, đời sống tín ngưỡng và sự thu hẹp không gian buôn làng đã tạo ra những thách thức đối với việc thực hành cồng chiêng. Một số sinh hoạt truyền thống gắn với nông nghiệp, nhà dài, bến nước, nhà mồ và lễ hội cộng đồng suy giảm; lớp trẻ cũng có ít cơ hội tiếp xúc thường xuyên với nghệ nhân và các bài chiêng cổ. Những biến đổi ấy cho thấy, nếu chỉ bảo quản những bộ chiêng mà không duy trì người thực hành và môi trường diễn xướng thì di sản vẫn có nguy cơ mai một.

Trong hoàn cảnh đó, không gian mạng mở ra một hướng bảo tồn mới. Việc đưa cồng chiêng lên không gian mạng trước hết là tạo ra một ký ức số có khả năng lưu giữ lâu dài. Một bài chiêng có thể được ghi âm với chất lượng cao; một nghệ nhân có thể được quay lại quá trình diễn tấu, chỉnh chiêng, truyền dạy; một lễ hội có thể được tư liệu hóa bằng hình ảnh, video, bản đồ số; câu chuyện về nguồn gốc của từng bộ chiêng, từng nghi lễ có thể được xây dựng thành hồ sơ dữ liệu.

Nhưng cần hiểu rằng số hóa di sản văn hoá không đồng nghĩa với việc chỉ quay phim rồi đưa lên mạng… Một kho dữ liệu có giá trị phải cho biết tiếng chiêng ấy thuộc cộng đồng nào, được sử dụng trong hoàn cảnh nào, ai là người thực hành, bài bản ra sao, ý nghĩa nghi lễ thế nào và những quy định nào cần được tôn trọng khi khai thác. Nói cách khác, cần số hóa cả phần hồn phía sau âm thanh.

Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt khi nhìn vào đội ngũ nghệ nhân. Đến nay, công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng của tỉnh đạt nhiều kết quả như: Phục hồi lễ hội truyền thống, duy trì hàng trăm đội chiêng, mở lớp truyền dạy cho thế hệ trẻ, quảng bá di sản ra quốc tế, gắn kết bảo tồn với phát triển du lịch văn hóa. Tính đến năm 2024, toàn tỉnh có 1.603 bộ chiêng, trong đó: 1.178 bộ chiêng Ê-đê; 219 bộ chiêng Mnông; 118 bộ chiêng Gia-rai và 88 bộ chiêng khác. Đặc biệt, có 3.749 nghệ nhân đang nắm giữ các loại hình di sản và có 1.015 nghệ nhân trẻ. Việc trang bị cồng chiêng và trang phục truyền thống cho các câu lạc bộ, đội văn nghệ tại các buôn được quan tâm. Tỉnh đã cấp phát 214 bộ chiêng các loại và 1.140 bộ trang phục thổ cẩm cho các đội chiêng, câu lạc bộ mang lại hiệu quả thiết thực...

Và đó là một nguồn dữ liệu sống vô cùng quý giá. Mỗi nghệ nhân là một thư viện sống; mỗi bài chiêng là một đơn vị ký ức; mỗi nghi lễ là một cấu trúc văn hóa; mỗi buôn làng là một không gian diễn xướng. Nếu được tư liệu hóa khoa học, những giá trị ấy có thể trở thành nguồn tư liệu phục vụ giáo dục, nghiên cứu và truyền dạy cho nhiều thế hệ.

Không gian Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu - Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào năm 2005 và đến năm 2008 được tuyển chọn vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Không gian Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu - Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào năm 2005 và đến năm 2008 được tuyển chọn vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Ý nghĩa đặc biệt nữa của việc số hóa là đưa di sản văn hoá đến gần người trẻ. Và thế hệ trẻ hôm nay dành nhiều thời gian trên Internet. Nếu văn hóa truyền thống chỉ xuất hiện trong những cuốn sách dày hoặc những buổi biểu diễn hiếm hoi, khoảng cách giữa di sản và người trẻ sẽ ngày càng lớn. Nhưng một video ngắn về nghệ nhân chỉnh chiêng, một bản ghi âm bài chiêng cổ, một triển lãm trực tuyến hay một mô hình 3D có thể tạo ra điểm khởi đầu cho sự tò mò và khám phá.

Tại tỉnh Đắk Lắk, hướng tiếp cận này đã xuất hiện trong thực tế… Để góp phần bảo tồn giá trị truyền thống, anh Y Thiên Adrơng, buôn Tùng Thăng, xã Ea Drăng, tỉnh Đắk Lắk, gìn giữ văn hóa dân tộc bằng cách đưa tiếng cồng chiêng vượt ra khỏi khuôn khổ buôn làng, vang xa trên không gian mạng. Năm 2017, sau thời gian sinh sống và làm việc tại TP. Hồ Chí Minh, Y Thiên Adrơng quyết định trở về quê hương Đắk Lắk lập nghiệp với công việc văn phòng. Mang theo tình yêu sâu nặng với văn hóa Ê-đê, anh bắt đầu đăng tải các Video, hình ảnh và bài viết về đời sống, lễ hội, âm nhạc truyền thống lên trang Facebook cá nhân. Những câu chuyện mộc mạc, giọng nói chân chất của người con Tây Nguyên nhanh chóng thu hút sự quan tâm, chia sẻ và thảo luận của cộng đồng mạng.

Có thể nói, cách làm ấy gợi mở một phương thức truyền thông di sản rất gần với đời sống hiện đại: không chờ người trẻ tìm đến di sản, mà đưa di sản đến nơi người trẻ đang hiện diện.

Tuy nhiên, giá trị của không gian số không chỉ nằm ở khả năng quảng bá. Nếu được tổ chức bài bản, dữ liệu số có thể trở thành hạ tầng mềm cho bảo tồn. Một cơ sở dữ liệu cồng chiêng có thể kết nối hồ sơ nghệ nhân với các lớp truyền dạy; kết nối bài chiêng với lễ hội; kết nối không gian diễn xướng với bản đồ du lịch; kết nối câu chuyện văn hóa với sản phẩm giáo dục. Khi đó, công nghệ không chỉ lưu giữ, đặc biệt còn giúp hình thành một hệ sinh thái, đó là di sản, giáo dục, truyền thông, du lịch, nghiên cứu, sinh kế cộng đồng.

Không thay thế giá trị nguyên bản, công nghệ trở thành cánh tay nối dài đưa không gian văn hóa cồng chiêng của buôn làng Tây Nguyên - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vượt qua giới hạn thời gian, không gian, lan tỏa mạnh mẽ và bền vững trong đời sống đương đại
Không thay thế giá trị nguyên bản, công nghệ trở thành cánh tay nối dài đưa không gian văn hóa cồng chiêng của buôn làng Tây Nguyên - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vượt qua giới hạn thời gian, không gian, lan tỏa mạnh mẽ và bền vững trong đời sống đương đại

Đây cũng là hướng đang được Đắk Lắk quan tâm. Nghị quyết số 03/2026/NQ-HĐND ngày 25/06/2026 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk về Quy định chính sách hỗ trợ bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa cồng chiêng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2026-2030 đã xác định đẩy mạnh chuyển đổi số để lưu giữ dữ liệu văn hóa, đồng thời gắn bảo tồn với phát triển du lịch cộng đồng. Tỉnh đặt mục tiêu lựa chọn ít nhất một buôn, làng tiêu biểu tại các địa phương đã có quy hoạch để xây dựng không gian trải nghiệm, giới thiệu tiếng chiêng và tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.

Đồng thời, đây cũng là vấn đề đặc biệt quan tâm, đó là số hóa không đứng riêng mà được đặt trong mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển.

Khi một du khách xem video về tiếng chiêng trên mạng và quyết định đến buôn làng; khi người trẻ xem câu chuyện của một nghệ nhân rồi tìm đến học đánh chiêng; khi một trường học sử dụng tư liệu số để dạy học sinh về văn hóa Tây Nguyên; khi một cộng đồng dùng nền tảng số để quảng bá không gian văn hóa của mình, lúc đó công nghệ đã tạo ra giá trị thực tế.

Nhưng cũng chính ở đây xuất hiện một ranh giới cần đặc biệt lưu ý, quan tâm. Không phải mọi thứ thuộc về cồng chiêng đều có thể đưa lên mạng. Bởi cồng chiêng ở nhiều cộng đồng Tây Nguyên mang tính thiêng. Có những nghi lễ chỉ dành cho thành viên cộng đồng; có những không gian không phù hợp với việc quay phim, phát trực tiếp hay thương mại hóa. Nếu số hóa thiếu hiểu biết, công nghệ có thể vô tình làm mất tính thiêng, tách tiếng chiêng khỏi môi trường văn hóa và biến một thực hành cộng đồng thành một “tiết mục biểu diễn”.

Tại một cuộc hội thảo khoa học gần đây, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Minh Đạo, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên chia sẻ: Sự thay đổi về tín ngưỡng, phương thức sản xuất và lối sống đang làm suy giảm chức năng xã hội và tâm linh vốn có của cồng chiêng. Vì vậy, bảo tồn không thể chỉ dừng ở việc lưu giữ âm thanh mà phải bảo vệ tính chính thể của không gian văn hóa.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Minh Đạo, cộng đồng phải là chủ thể của quá trình số hóa. Người dân, nghệ nhân và những người nắm giữ tri thức truyền thống cần được tham gia quyết định tư liệu nào được ghi lại, tư liệu nào được công khai, cách diễn giải ra sao và lợi ích từ việc khai thác dữ liệu được phân bổ thế nào.

Điều này đặc biệt quan trọng khi di sản văn hoá bắt đầu tham gia vào nền kinh tế số.

Nếu hình ảnh nghệ nhân, tiếng chiêng, nghi lễ và câu chuyện văn hóa trở thành nội dung thu hút người xem, thì cộng đồng phải được hưởng lợi tương xứng. Có thể thông qua du lịch cộng đồng, sản phẩm giáo dục, chương trình trải nghiệm, hoạt động biểu diễn phù hợp hoặc các mô hình sinh kế văn hóa. Bảo tồn sẽ bền vững hơn khi người giữ di sản nhìn thấy giá trị của việc tiếp tục giữ gìn di sản.

Theo đó, việc đưa cồng chiêng lên không gian mạng không phải để thay thế không gian buôn làng. Và màn hình không thể thay thế nhà rông, nhà dài; dữ liệu không thể thay thế nghệ nhân; video không thể thay thế một đêm cộng đồng cùng ngồi bên nhau nghe tiếng chiêng.

Giá trị lớn nhất của công nghệ là tạo thêm một con đường để di sản văn hoá được biết đến, được học hỏi, được lưu giữ và được trao truyền.

Vì vậy, cần xây dựng những kho dữ liệu số có chất lượng; chuẩn hóa hồ sơ nghệ nhân; số hóa bài chiêng, lễ hội và tri thức chỉnh chiêng; xây dựng bản đồ số về không gian văn hóa; phát triển bảo tàng và triển lãm trực tuyến; đưa tư liệu vào trường học; đồng thời đào tạo thế hệ trẻ vừa hiểu văn hóa dân tộc vừa có kỹ năng công nghệ.

Cồng chiêng được đồng bào các dân tộc Tây Nguyên xem như là báu vật, là biểu tượng cho quyền lực linh thiêng
Cồng chiêng được đồng bào các dân tộc Tây Nguyên xem như là báu vật, là biểu tượng cho quyền lực linh thiêng

Định hướng này càng có cơ sở khi Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt năm 2026 (theo Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 04/04/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án “chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, đặt mục tiêu đến năm 2030 ít nhất 80% di sản văn hóa phi vật thể của vùng đồng bào dân tộc thiểu số được số hóa và lưu trữ trong các hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành về văn hóa.

Đây là cơ hội lớn đối với cồng chiêng Tây Nguyên.

Nhưng cơ hội chỉ trở thành giá trị khi công nghệ đi cùng cộng đồng.

Vì vậy, việc đưa tiếng chiêng lên không gian mạng không chỉ để tiếng chiêng là một âm thanh đẹp trên Internet. Đồng thời, còn là cách mở thêm một không gian để ký ức được lưu giữ, tri thức được trao truyền, thế hệ trẻ tìm thấy cội nguồn và văn hóa của buôn làng có thể bước vào đời sống đương đại với một diện mạo mới.

Và cuối cùng, nơi tiếng chiêng cần vang lên lâu bền nhất vẫn là buôn làng Tây Nguyên. Không gian mạng có thể giúp tiếng chiêng đi xa hơn; nhưng chính cộng đồng mới là nơi giữ cho tiếng chiêng còn linh hồn, còn ý nghĩa và còn sức sống./.