Giải quyết rào cản tiếp cận công nghệ của đồng bào DTTS là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chuyển đổi số toàn diệnTừ khóa: Rào cản; Tiếp cận công nghệ; Dân tộc thiểu số; Kế hoạch số 05; Hành động; 100 ngày.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình chuyển đổi số và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, bảo đảm cơ hội tiếp cận công nghệ bình đẳng cho mọi tầng lớp Nhân dân là yêu cầu quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Tuy nhiên, đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở nhiều địa bàn vẫn gặp không ít rào cản trong tiếp cận hạ tầng số, thiết bị công nghệ, dịch vụ số và kỹ năng sử dụng công nghệ, từ đó ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thông tin, giáo dục, y tế, việc làm và các dịch vụ công. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số “là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới” (Ban Chấp hành Trung ương, 2024, tr.1). Trong bối cảnh toàn hệ thống chính trị đang triển khai thực hiện Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW ngày 11/7/2026 về hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, việc nhận diện và tháo gỡ các rào cản công nghệ đối với đồng bào DTTS có ý nghĩa rất thiết thực.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý luận về tiếp cận công nghệ của đồng bào dân tộc thiểu số
Tiếp cận công nghệ của đồng bào DTTS là một nội dung quan trọng trong quá trình thực hiện chuyển đổi số, phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay. Về bản chất, đây là quá trình cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng DTTS có khả năng tiếp cận, sử dụng và khai thác các thiết bị, nền tảng, dịch vụ và nguồn lực công nghệ để phục vụ học tập, lao động, sản xuất, giao tiếp và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tiếp cận công nghệ không chỉ được hiểu đơn thuần là có thiết bị hoặc kết nối Internet, mà còn bao hàm khả năng sử dụng hiệu quả, an toàn và phù hợp với nhu cầu thực tiễn.
Xét về phương diện lý luận, tiếp cận công nghệ của đồng bào DTTS được cấu thành bởi nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trước hết là khả năng tiếp cận hạ tầng công nghệ, bao gồm điện, mạng viễn thông, Internet, thiết bị số và các dịch vụ công nghệ thiết yếu. Đây là điều kiện vật chất nền tảng để đồng bào có thể tham gia vào môi trường số. Tiếp đó là năng lực số, thể hiện ở kiến thức, kỹ năng tìm kiếm, tiếp nhận, đánh giá, sử dụng và tạo lập thông tin trên các nền tảng công nghệ. Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận còn chịu ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế, trình độ học vấn, đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ, địa bàn cư trú và mức độ phù hợp của các sản phẩm công nghệ với nhu cầu của cộng đồng.
Một vấn đề lý luận quan trọng khác là sự bình đẳng trong tiếp cận công nghệ. Khoảng cách số giữa các khu vực, nhóm dân cư và giữa đồng bào DTTS với các nhóm dân cư khác có thể tạo ra sự khác biệt về cơ hội học tập, việc làm, tiếp cận thông tin và hưởng thụ các dịch vụ xã hội. Vì vậy, bảo đảm tiếp cận công nghệ cần gắn với thu hẹp khoảng cách số, nâng cao năng lực số và tạo điều kiện để đồng bào chủ động tham gia quá trình chuyển đổi số.
Từ những vấn đề trên có thể khẳng định, tiếp cận công nghệ của đồng bào DTTS là quá trình tổng hợp, bao gồm cả điều kiện hạ tầng, khả năng sở hữu, năng lực sử dụng và hiệu quả khai thác công nghệ. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để để xây dựng các chính sách, đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số ở vùng DTTS, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
2.2. Thực tiễn triển khai chuyển đổi số và những rào cản trong tiếp cận công nghệ của đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay
Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW đã xác định nhiều nhiệm vụ quan trọng về hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là cơ sở quan trọng để các bộ, ngành, địa phương cụ thể hóa chủ trương chuyển đổi số phù hợp với đặc điểm từng địa bàn, trong đó có vùng DTTS và miền núi. Thực tiễn cho thấy, một số địa phương đã quan tâm đầu tư, mở rộng hạ tầng viễn thông, internet, điểm cung cấp dịch vụ số và các nền tảng phục vụ người dân. Chẳng hạn như “các doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn tỉnh Cao Bằng đã triển khai tuyến đường phố ngầm hóa cáp viễn thông 90,4 km. Số tổ, thôn, xóm được phủ sóng di động đạt 95,28% (tương ứng với 98,28% hộ được phủ sóng di động). Các xã, phường có 288 trạm phát sóng 5G, 5.045 máy vi tính để bàn, 1.179 máy vi tính xách tay... Đến ngày 1/6/2026, tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng và trước hạn của tỉnh Cao Bằng trên Dịch vụ công quốc gia đạt trên 97%; tỷ lệ thanh toán trực tuyến đạt 58%...”(Chu Hiệu, 2026).
Trong lĩnh vực giáo dục và y tế, chuyển đổi số bước đầu góp phần mở rộng khả năng tiếp cận tri thức và dịch vụ thiết yếu của người dân vùng DTTS. Các nền tảng học tập trực tuyến, kho học liệu số, tư vấn và khám chữa bệnh từ xa có thể hỗ trợ khắc phục một phần hạn chế về khoảng cách địa lý, nhất là tại các xã vùng sâu, vùng xa. Trong quản lý nhà nước, việc xây dựng cơ sở dữ liệu, kết nối thông tin dân cư và triển khai dịch vụ công trực tuyến góp phần nâng cao tính minh bạch, giảm các khâu trung gian và từng bước cải thiện chất lượng phục vụ người dân.
Đặc biệt, Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW ngày 11/7/2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về hành động 100 ngày (từ ngày 10/7/2026 đến ngày 30/11/2026) xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị là cơ sở quan trọng nhằm thúc đẩy chuyển đổi số thực chất, đồng bộ và có trọng tâm. Kế hoạch xác định 10 nhóm vấn đề cần tập trung giải quyết, gồm: thể chế, hạ tầng số, dữ liệu số, nền tảng số, dịch vụ công trực tuyến, kinh tế số, xã hội số, nguồn nhân lực, tài chính và kỷ luật thực thi. Kế hoạch nhấn mạnh nguyên tắc rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ kết quả và sản phẩm cụ thể. Qua đó, góp phần nâng cao tính chủ động, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, bảo đảm nhiệm vụ chuyển đổi số được triển khai quyết liệt, thực chất và hiệu quả.
Tuy nhiên, tại vùng đồng bào DTTS, quá trình tiếp cận, khai thác và sử dụng công nghệ vẫn gặp nhiều rào cản về hạ tầng, kỹ năng số, điều kiện kinh tế và khả năng tiếp cận thông tin. Những hạn chế này làm gia tăng khoảng cách số giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với khu vực đô thị, ảnh hưởng đến cơ hội phát triển.
Thứ nhất, hạn chế về hạ tầng số và điều kiện tiếp cận thiết bị công nghệ. Nhiều địa bàn DTTS có địa hình phức tạp, dân cư phân tán, giao thông khó khăn nên việc đầu tư trạm phát sóng, mạng cáp quang và các điểm truy cập Internet còn gặp nhiều trở ngại. “Tại một số thôn bản, sóng còn yếu, chập chờn; Băng thông thấp, không đáp ứng được các dịch vụ số có dung lượng lớn; Hạ tầng viễn thông, Internet chưa bền vững trước thiên tai” (Trần Hồng Quỳnh, 2026). Bên cạnh đó, nhiều hộ gia đình có thu nhập thấp nên việc mua điện thoại thông minh, máy tính hoặc duy trì dịch vụ Internet cũng là một khoản chi đáng kể. Điều này khiến khả năng tiếp cận công nghệ giữa các hộ dân và giữa các vùng còn chênh lệch.
Thứ hai, hạn chế về kỹ năng số và trình độ sử dụng công nghệ. Một bộ phận người dân, nhất là người cao tuổi, chưa thành thạo các thao tác cơ bản như cài đặt ứng dụng, tạo tài khoản, sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt hoặc bảo vệ thông tin cá nhân trên mạng. Chẳng hạn, khi thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến, người dân có thể gặp khó khăn trong việc đăng nhập tài khoản định danh điện tử, tải hồ sơ hoặc ký xác thực. Nếu không có cán bộ cơ sở hướng dẫn, họ dễ trở lại phương thức giao dịch trực tiếp truyền thống.
Thứ ba, rào cản về ngôn ngữ và khả năng tiếp nhận thông tin số ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng công nghệ. Phần lớn nền tảng số, tài liệu hướng dẫn và nội dung trên Internet được thiết kế chủ yếu bằng tiếng Việt, trong khi một bộ phận đồng bào DTTS còn hạn chế về khả năng đọc hiểu tiếng Việt, đặc biệt là người lớn tuổi. Khi thông tin về chính sách hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe, giáo dục hoặc sản xuất được truyền tải bằng những thuật ngữ kỹ thuật khó hiểu, người dân có thể không khai thác được đầy đủ lợi ích của công nghệ. Vì vậy, cùng với phát triển hạ tầng, cần chú trọng xây dựng nội dung số dễ hiểu, trực quan và phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa từng cộng đồng.
Thứ tư, điều kiện kinh tế và chi phí sử dụng công nghệ. Thu nhập của một bộ phận hộ dân ở vùng DTTS còn phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, chăn nuôi hoặc lao động thời vụ. Khi phải lựa chọn giữa những nhu cầu thiết yếu và đầu tư thiết bị số, nhiều gia đình khó ưu tiên công nghệ. Một học sinh vùng cao có thể phải dùng chung điện thoại với cha mẹ để học trực tuyến; một hộ sản xuất nhỏ cũng khó đầu tư máy tính, phần mềm hoặc thiết bị phục vụ bán hàng trên nền tảng số. Theo thống kê vào thời điểm 7/2024, “tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số ở nông thôn có máy vi tính để bàn, hoặc laptop rất kh iêm tốn, chỉ trên 10%. Nhiều hộ dùng chung một thiết bị cho cả gia đình. Thiết bị chủ yếu ở phân khúc giá rẻ, cấu hình thấp, nhanh xuống cấp, hạn chế khả năng cài đặt và sử dụng các ứng dụng phục vụ chuyển đổi số. Đây là rào cản lớn trong việc phổ cập và triển khai các nền tảng số phức tạp đến đồng bào” (Trần Hồng Quỳnh, 2026).
2.3. Một số giải pháp giải quyết rào cản tiếp cận công nghệ của đồng bào dân tộc thiểu số
2.3.1. Ưu tiên xử lý điểm nghẽn về hạ tầng số và thiết bị công nghệ tại vùng dân tộc thiểu số
Hạ tầng viễn thông, internet và thiết bị đầu cuối là điều kiện nền tảng quyết định khả năng tham gia vào môi trường số. Do đó, cần rà soát, xác định cụ thể những thôn, bản, xã còn thiếu hoặc yếu về kết nối internet, vùng lõm sóng di động, khu vực có chất lượng đường truyền thấp để xây dựng phương án xử lý theo thứ tự ưu tiên. Việc đầu tư cần hướng vào những địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, nơi thị trường chưa đủ sức hấp dẫn doanh nghiệp nhưng nhu cầu tiếp cận thông tin và dịch vụ số của người dân rất lớn.
2.3.2. Nâng cao kỹ năng số và khả năng sử dụng công nghệ cho đồng bào dân tộc thiểu số
Cần triển khai các chương trình phổ cập kỹ năng số theo hướng đơn giản, trực quan, thiết thực và phù hợp với từng nhóm đối tượng. Nội dung tập huấn không nên nặng về lý thuyết mà tập trung vào những kỹ năng người dân sử dụng thường xuyên như tìm kiếm thông tin, sử dụng điện thoại thông minh, đăng ký và sử dụng tài khoản số, thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, mua bán hàng hóa trên môi trường số, bảo vệ thông tin cá nhân và nhận diện các hành vi lừa đảo trực tuyến.
2.3.3. Phát triển các nền tảng và dịch vụ số phù hợp với đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ và nhu cầu sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số
Một trong những rào cản quan trọng hiện nay là nhiều dịch vụ số được thiết kế theo nhu cầu của người dùng phổ thông, chưa thật sự chú ý đến điều kiện tiếp cận của các nhóm dân cư đặc thù. Vì vậy, cần nghiên cứu cải thiện giao diện, cách thức hướng dẫn và nội dung của các nền tảng số theo hướng đơn giản, dễ hiểu, dễ thao tác trên điện thoại thông minh. Đối với địa bàn có nhiều đồng bào DTTS, cần tăng cường nội dung thông tin thiết yếu bằng ngôn ngữ phù hợp, kết hợp tiếng Việt với các hình thức truyền tải trực quan như hình ảnh, âm thanh, video ngắn.
2.3.4. Tăng cường hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ công trực tuyến và bảo đảm an toàn trong môi trường số
Chuyển đổi số trong hệ thống chính trị chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân, nhất là người dân ở vùng khó khăn, có thể sử dụng thuận lợi các dịch vụ công. Các cơ quan nhà nước cần tiếp tục đơn giản hóa quy trình, giảm số bước thao tác, chuẩn hóa dữ liệu và nâng cao khả năng liên thông giữa các hệ thống. Đồng thời, tại cấp xã cần bố trí lực lượng hỗ trợ thường xuyên để hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục trực tuyến, đặc biệt đối với những thủ tục liên quan trực tiếp đến đời sống như cư trú, đất đai, bảo hiểm, y tế, giáo dục và chính sách an sinh xã hội. Cần tránh tình trạng chuyển thủ tục từ môi trường giấy sang môi trường điện tử nhưng người dân vẫn phải thực hiện nhiều bước phức tạp.
2.3.5. Xây dựng cơ chế phối hợp, giám sát và đánh giá kết quả theo hướng rõ người, rõ việc, rõ thời gian và rõ kết quả
Giải quyết rào cản tiếp cận công nghệ là nhiệm vụ liên ngành, đòi hỏi sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, doanh nghiệp viễn thông, cơ sở giáo dục, tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư. Trước hết, cần rà soát và lập danh mục cụ thể các điểm nghẽn về hạ tầng, thiết bị, kỹ năng, dịch vụ và dữ liệu tại từng địa bàn. Trên cơ sở đó, xác định cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp, nguồn lực, thời hạn xử lý và chỉ số đánh giá kết quả. Tinh thần của Kế hoạch số 05-KH/ BCĐTW ngày 11/7/2026 về hành động 100 ngày cần được vận dụng theo hướng hành động nhanh, xử lý đúng điểm nghẽn và lấy kết quả phục vụ người dân làm thước đo. Không nên chỉ đánh giá bằng số lượng lớp tập huấn, số thiết bị được cung cấp hay số điểm kết nối được xây dựng, mà cần quan tâm đến tỷ lệ người dân thực sự sử dụng dịch vụ số, mức độ hài lòng, khả năng thực hiện thủ tục trực tuyến và những lợi ích kinh tế - xã hội mà công nghệ đem lại. Sau giai đoạn 100 ngày, cần tổng kết những mô hình hiệu quả, xác định những vấn đề chưa được giải quyết và xây dựng cơ chế duy trì lâu dài. Đồng thời, cần khu yến khích doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp viễn thông tham gia đầu tư và cung cấp giải pháp phù hợp cho vùng khó khăn; huy động nguồn lực xã hội để hỗ trợ thiết bị, đào tạo kỹ năng và xây dựng các mô hình điểm.
3. Kết luận
Giải quyết rào cản tiếp cận công nghệ của đồng bào DTTS là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chuyển đổi số toàn diện, góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW. Thực tiễn cho thấy, các rào cản về hạ tầng số, thiết bị, kỹ năng, điều kiện kinh tế, ngôn ngữ và khả năng tiếp cận dịch vụ số cần được giải quyết đồng bộ. Triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW về hành động 100 ngày cần tập trung vào những nhiệm vụ có trọng tâm, trọng điểm, xác định rõ trách nhiệm, tiến độ và kết quả đầu ra; đồng thời ưu tiên các địa bàn còn khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Cùng với đầu tư hạ tầng và thiết bị, cần chú trọng đào tạo kỹ năng số, xây dựng nội dung phù hợp, phát huy vai trò của chính quyền cơ sở, doanh nghiệp và cộng đồng. Qua đó, tạo điều kiện để đồng bào DTTS chủ động tiếp cận, sử dụng và hưởng lợi từ công nghệ, thu hẹp khoảng cách số, nâng cao chất lượng cuộc sống và góp phần phát triển bền vững vùng DTTS trong kỷ nguyên số .
*Học viện Hậu cần, Bộ Quốc phòng
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương (2024), Nghị quyết số 57- NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, Hà Nội.
2. Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (2026), Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW ngày 11/07/2026 về hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị, Hà Nội. 3. Chính phủ (2025), Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/1/2025 “Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, Hà Nội.
4. Nguyễn Thị Thanh Bình (2025), Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của đồng bào dân tộc thiểu số trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam. Tạp chí điện tử Pháp luật về quyền con người, ngày 09/10/2025, https://tapchiquyenconnguoi.hcma.vn/ Content/bao-dam-quyen-tiep-can-thong-tin-cua-dong bao-dan-toc-thieu-so-trong-boi-canh-thuc-hien-chinh quyen-dia-phuong-hai-cap-o-viet-nam-243710
5. Chu Hiệu (2026), Những cách làm hay trong chuyển đổi số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Báo điện tử Tin tức và Dân tộc, ngày 25/06/2026, https://dantocmiennui. baotintuc.vn/nhung-cach-lam-hay-trong-chuyen-doi-so o-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-post365656.html
6. Trần Hồng Quỳnh (2026), Một số giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Tạp chí điện tử Dân tộc và Tôn giáo, ngày 28/03/2026, https://dantoctongiao.vn/mot-so-giai-phap-thuc-day chuyen-doi-so-o-vung-dan-toc-thieu-so-va-mien nui-1774619499132.htm