Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ và những điểm dị biệt cốt lõi

Anh Vũ - 16:47, 22/09/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Bài viết dưới góc độ tôn giáo học khách quan tập trung nhận diện, phân tích sâu sắc về nguồn gốc lịch sử, hệ thống giáo lý và đặc biệt là những điểm dị biệt cốt lõi của Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ tên chính thức: World Mission Society Church of God - Hiệp hội Truyền giáo Thế giới Hội thánh Đức Chúa Trời. Bài viết làm rõ ba chiều kích dị biệt lớn: cấu trúc Thượng đế luận - sự xuất hiện của Đức Chúa Trời Mẹ, Ki-tô luận mang tính mạt thế cục bộ - An Sang-hong là Ki-tô tái lâm và các thực hành nghi lễ mang tính biệt phái khắt khe, đồng thời cũng đánh giá hệ lụy xã hội, tâm lý của các biến thể niềm tin này trong bối cảnh toàn cầu hóa và đưa ra góc nhìn khoa học về hiện tượng tôn giáo mới (NRMs) này tại Việt Nam hiện nay.

Hoạt động của Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ mang màu sắc tà đạo đã bị cấm hoạt động tại Việt Nam
Hoạt động của Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ mang màu sắc tà đạo đã bị cấm hoạt động tại Việt Nam

Từ khóa: Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ; An Sang-hong; Đức Chúa Trời Mẹ (Zahng Gil-jah); Dị biệt thần học.

1. Đặt vấn đề

Trong vài thập niên trở lại đây, bản đồ tôn giáo thế giới chứng kiến sự bùng nổ của các Phong trào tôn giáo mới (NRMs) xuất phát từ Ki-tô giáo tại Đông Á. Hàn Quốc nổi lên như một trung tâm sản sinh ra các phong trào này nhờ sự kết hợp giữa thần học phương Tây và văn hóa bản địa. Trong số đó, Hiệp hội Truyền giáo Thế giới Hội thánh Đức Chúa Trời (WMSCOG), thường gọi là Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ, là tổ chức có tốc độ phát triển và gây tranh cãi bậc nhất. Sự xuất hiện của tổ chức này tại Việt Nam tạo ra phản ứng đa chiều từ xã hội, giới quản lý và các giáo hội truyền thống. Đứng dưới góc độ khoa học, bài viết này không phán xét đúng - sai về mặt tâm linh mà tập trung bóc tách cấu trúc tư tưởng, chỉ ra những vết đứt gãy thần học của họ so với dòng chảy Ki-tô giáo chính thống, từ đó giải mã sức hút và các hệ lụy xã hội liên quan.

2. Nguồn gốc lịch sử và sự định hình của WMSCOG

2.1 Vai trò của An Sang-hong

Người đặt nền móng đầu tiên cho phong trào này là An Sang-hong (1918-1985). Sinh ra tại triều đại Joseon nay thuộc Hàn Quốc, trong một gia đình chịu ảnh hưởng của các tư tưởng truyền thống, An Sang-hong sau đó gia nhập Giáo hội Cơ đốc Phục lâm vào năm 1947 và chịu phép Báp-têm vào năm 1948.

Tuy nhiên, do những bất đồng sâu sắc về mặt giải kinh, đặc biệt là quan điểm về thời điểm tận thế và việc giữ các luật lệ bách tính của Cựu ước, An Sang-hong đã bị trục xuất khỏi Giáo hội Cơ đốc Phục lâm vào năm 1962. Năm 1964, ông chính thức thành lập giáo phái riêng mang tên Hội thánh Đức Chúa Trời lễ Vượt qua Giao ước mới.

Trong giai đoạn này, tư tưởng của An Sang-hong tập trung vào việc khôi phục các lễ hội của Giáo hội sơ khai mà ông cho là đã bị Giáo hội Công giáo La Mã làm bị biến chất sau Công đồng Nicaea năm 325 SCN. Ông nhấn mạnh việc giữ ngày Sa-bát vào thứ bảy, cử hành lễ Vượt qua bằng bánh mì và rượu vang và phản đối các biểu tượng như Thập tự giá hay các ngày lễ như Giáng sinh.

2.2 Bước ngoặt ly khai và sự xuất hiện của Đức Chúa Trời Mẹ

Năm 1985, An Sang-hong đột ngột qua đời sau một cơn đột quỵ mà không để lại di chúc rõ ràng về người kế vị mang tính thần quyền tuyệt đối, dẫn đến một cuộc ly khai sâu sắc trong lòng giáo phái do ông sáng lập.

Nhánh Thứ nhất, Hội thánh Đức Chúa Trời lễ Vượt qua Giao ước mới chọn đi theo xu hướng giữ nguyên các trước tác ban đầu của An Sang-hong. Họ coi ông là một nhà tiên tri, một mục sư vĩ đại nhưng đã ly trần, và kịch liệt phản đối ý niệm về một Đức Chúa Trời Mẹ.

Nhánh Thứ hai, nhóm do Kim Joo-cheol (Kim Chu Triết) và một người phụ nữ tên là Zahng Giljah (Trương Cát Tử) lãnh đạo đã tiến hành một bước cải cách thần học táo bạo. Họ di chuyển trụ sở về Bundang, thành phố Seongnam và lập nên Hiệp hội Truyền giáo Thế giới Hội thánh Đức Chúa Trời. Nhánh này tôn phong An Sang-hong chính là Đức Chúa Trời ngôi hai (Chúa Giê-su) tái lâm dưới dạng xác thịt, và tôn phong bà Zahng Gil-jah là Đức Chúa Trời Mẹ đang sống tại thế.

Chính nhánh thứ hai này đã tạo nên một mạng lưới truyền giáo toàn cầu thần tốc và đây cũng chính là đối tượng khảo sát chính trong bài viết này dưới danh xưng Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ.

3. Những điểm dị biệt thần học cốt lõi

3.1. Dị biệt trong Thượng đế luận - Sự kiến tạo Đức Chúa Trời Mẹ

Điểm dị biệt mang tính nhận diện và gây chấn động nhất của giáo phái này là việc đưa một bản thể nữ tính vào cấu trúc tối cao của Thượng đế.

Một là, cách thức giải kinh của WMSCOG

Để hợp thức hóa sự hiện diện của Đức Chúa Trời Mẹ, các nhà thần học của tổ chức này dựa vào một số câu Kinh Thánh then chốt, đặc biệt là sách Sáng thế ký 1:26-27: Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta... Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ.

Họ lập luận rằng, từ Chúng ta chứng tỏ Đức Chúa Trời không phải là một bản thể đơn nhất mang đặc tính nam quyền. Vì loài người được tạo ra có cả nam lẫn nữ dựa trên hình ảnh của Đức Chúa Trời, nên suy ra phải tồn tại hai bản thể tương ứng trong thần tính: Đức Chúa Trời mang hình nam (Đức Chúa Trời Cha) và Đức Chúa Trời mang hình nữ (Đức Chúa Trời Mẹ).

Họ tiếp tục viện dẫn sách Ga-la-ti 4:26: Nhưng thành Giê-ru-sa-lem ở trên cao là tự do, ấy là mẹ chúng ta; sách Khải huyền 22:17 về hình ảnh Thần khí và Cô dâu ban nước sự sống để khẳng định rằng, trong thời kỳ cuối cùng, nhân loại muốn có sự sống đời đời thì bắt buộc phải tìm đến và tin nhận Cô dâu, tức là Đức Chúa Trời Mẹ bằng xương bằng thịt tại thế gian.

Hai là, phản bác từ Thần học Ki-tô giáo chính thống

Tất cả các giáo hội Ki-tô giáo lớn như: Công giáo, Chính Thống giáo và đa số các giáo phái Tin Lành đều xem lập luận trên là một sự ngụy biện giải kinh.

Về từ ngữ Elohim và Chúng ta: WMSCOG đã đồng hóa ngôi ba (Thánh linh) và ngôi hai (Chúa Giê-su) vào một người là An Sang-hong, đồng thời tách bản thể Mẹ ra làm một ngôi vị song hành với Đức Chúa Trời Cha. Cách viết hiện tại chưa làm nổi bật được sự gãy đổ logic khi họ vừa thừa nhận Tam vị nhất thể (Cha - Con - Thánh linh) nhưng lại đẻ ra mô hình lưỡng tính (Cha - Mẹ).

Về bản tính vô hình của Thiên Chúa: Kinh Thánh khẳng định Đức Chúa Trời là Thần (Giăng 4:24), Ngài vượt lên trên mọi giới hạn vật lý và sinh học, bao gồm cả giới tính. Việc nhân cách hóa Thượng đế thành một người phụ nữ cụ thể, bà Zahng Gil-jah, bị Ki-tô giáo truyền thống khép vào tội phạm thượng và tà giáo.

Ba là, dị biệt trong Ki-tô luận và Mạt thế luận

Điểm dị biệt cốt lõi thứ hai nằm ở cách định danh về đấng Ki-tô tái lâm. Ki-tô giáo truyền thống tin rằng Chúa Giê-su sẽ trở lại trong vinh hiển vào ngày tận thế, ngự trên đám mây và mọi mắt sẽ trông thấy Ngài. Ngược lại, Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ xây dựng một hệ thống Ki-tô luận mang đậm tính mạt thế cục bộ gắn liền với đất nước Hàn Quốc và cá nhân An Sang-hong.

Bốn là, thuyết Tiên tri về cây vả và Vua Đa-vít

WMSCOG xây dựng một hệ thống tính toán ngày tháng phức tạp dựa trên ẩn dụ về cây vả trong sách Ma-thi-ơ 24:32-33. Họ lập luận rằng “cây vả” là biểu tượng duy nhất của quốc gia Israel. Sự kiện Israel lập quốc vào năm 1948 chính là thời điểm cây vả đâm chồi nảy lộc, báo hiệu đấng Ki-tô tái lâm đã xuất hiện trên thế gian một cách âm thầm dưới dạng xác thịt. Trùng hợp thay, năm 1948 cũng là năm An Sang-hong chịu phép Báp-têm tại Giáo hội Cơ đốc Phục lâm.

Họ cũng sử dụng lời tiên tri về ngôi vua của Đa-vít. Vua Đa-vít làm vua 40 năm. Chúa Giê-su sơ lâm chỉ thực hiện mục vụ trong vòng 3 năm rồi chịu đóng đinh. Vì vậy, Đấng tái lâm bắt buộc phải thực hiện nốt 37 năm mục vụ còn lại để con số 40 năm. Hệ thống thần học của họ tính toán trọn vẹn số năm mục vụ theo cách tính chu kỳ của họ, An Sang-hong bắt đầu truyền giáo từ năm 1948 và qua đời năm 1985 (vừa vặn 37 năm). Đối với tín đồ WMSCOG, đây là một minh chứng toán học thần thánh không thể chối cãi rằng An Sang-hong chính là Đức Chúa Trời Thánh linh hóa thân.

Năm là, thuyết phương Đông

Để giải thích lý do tại sao đấng Ki-tô không tái lâm ở Jerusalem mà lại ở Hàn Quốc, giáo phái này viện dẫn sách Ê-sai 46:11 “Ta gọi một loài chim dữ đến từ phương Đông” và Khải huyền 7:2 về vị thiên sứ mang ấn của Đức Chúa Trời đi lên từ phía mặt trời mọc. Họ diễn giải phương Đông của hòn đảo Patmos, nơi chép sách Khải huyền chính là đất nước Hàn Quốc.

3.3. Dị biệt trong Cứu rỗi luận và thực hành nghi lễ

Trong khi phong trào Tin Lành nhấn mạnh vào nguyên tắc Sola Fide (Chỉ bởi đức tin) và Sola Gratia (Chỉ bởi ân điển), tức là con người được cứu rỗi nhờ tin vào dòng huyết của Chúa Giê-su trên Thập tự giá chứ không phải bằng việc làm, thì Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ lại thiết lập một cơ chế cứu rỗi mang tính điều kiện và hành vi vô cùng nghiêm ngặt.

Một là, lễ Vượt qua - chiếc vé độc quyền vào nước Thiên đàng

WMSCOG tuyên bố rằng tất cả các giáo hội Ki-tô giáo hiện nay đều đang đi xuống hỏa ngục vì đã từ bỏ lễ Vượt qua do Chúa Giê-su thiết lập trong bữa tiệc ly. Họ cho rằng Công đồng Nicaea năm 325 do Hoàng đế Constantine chủ trì đã xóa bỏ lễ Vượt qua và thay thế bằng ngày chủ nhật cũng như lễ Giáng sinh - vốn là những ngày lễ tống giáo, thờ thần mặt trời của La Mã cổ đại.

Đối với họ, việc ăn bánh và uống rượu vang trong ngày lễ Vượt qua được tính theo lịch Do Thái là con đường duy nhất để nhận được dấu ấn bảo hải khỏi tai nạn và tai ương trong thời kỳ mạt thế, đồng thời là điều kiện tiên quyết để có sự sống đời đời.

Hai là, bài trừ Thập tự giá

Nếu Thập tự giá là biểu tượng thiêng liêng tuyệt đối của tình yêu và sự hy sinh của đấng Ki-tô đối với Ki-tô giáo toàn cầu, thì đối với Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ, Thập tự giá bị xem là một dạng thần tượng gớm ghiếc. Họ lập luận rằng Thập tự giá ban đầu là một công cụ hành hình của đế quốc La Mã, sau đó được đưa vào nhà thờ như một biểu tượng ngoại giáo. Việc treo hay tôn kính thập tự giá bị đánh đồng với tội thờ lạy thần tượng, vi phạm nghiêm trọng Điều răn thứ hai trong Thập điều.

4. Dưới góc nhìn xã hội học và tâm lý học tôn giáo

Một câu hỏi lớn đặt ra cho các nhà nghiên cứu: Tại sao một giáo phái có hệ thống giáo lý rời rạc, có phần khiên cưỡng và đi ngược lại truyền thống hàng nghìn năm của Ki-tô giáo như vậy lại có thể thu hút hàng triệu tín đồ tại hơn 175 quốc gia (theo số liệu tự công bố của họ). Để trả lời, cần phân tích cấu trúc vận hành và các liệu pháp tâm lý mà tổ chức này áp dụng.

Thứ nhất, tâm lý mạt thế và nỗi sợ hãi thời đại

WMSCOG vận hành dựa trên một nền tảng mạt thế luận vô cùng đậm đặc. Họ liên tục cập nhật các thông tin về thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, biến đổi khí hậu để minh chứng rằng ngày tận thế đã cận kề.

Nỗi sợ hãi cái chết và sự trừng phạt của thần linh là một trong những động lực tâm lý mạnh mẽ nhất của con người. Bằng cách cung cấp một giải pháp cụ thể - Dấu ấn lễ Vượt qua - giáo phái này tạo ra một chiếc phao cứu sinh tâm lý tức thời, giúp giải tỏa nỗi lo âu hiện sinh của các cá nhân trong một xã hội hiện đại đầy bất ổn.

Thứ hai, cấu trúc gia đình tâm linh thay thế

Tên gọi Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ tự bản thân nó mang một sức hút tâm lý rất lớn. Trong tâm thức của nhiều người, hình ảnh người Cha thường gắn liền với luật lệ, sự phán xét và kỷ luật; trong khi hình ảnh người Mẹ đại diện cho sự bao dung, nuôi dưỡng, yêu thương vô điều kiện. Việc nhấn mạnh đến một vị thần mẫu tính đánh trúng vào khoảng trống tâm lý của những cá nhân bị tổn thương, cô đơn hoặc thiếu vắng điểm tựa tình cảm trong gia đình thực tại.

Tổ chức này xây dựng các nhóm nhỏ truyền giáo theo mô hình gia đình tâm linh rất chặt chẽ. Khi một thành viên mới gia nhập, họ nhận được sự quan tâm, chăm sóc vô cùng nồng nhiệt, hiện tượng mà xã hội học tôn giáo gọi là dội bom tình yêu. Điều này tạo ra một cảm giác thuộc về mạnh mẽ, khiến tín đồ dần dịch chuyển trung tâm lòng trung thành từ gia đình huyết thống sang gia đình giáo hội.

Thứ ba, phương thức truyền giáo chủ động và áp lực nhóm

Không giống như các giáo hội truyền thống thường mang tính thụ động chờ tín đồ đến nhà thờ, tín đồ WMSCOG thực hiện phương thức tiếp cận chủ động theo từng cặp, thường nhắm vào các đối tượng là thanh niên, sinh viên đại học, hoặc những người phụ nữ ở nhà làm nội trợ - những nhóm đối tượng dễ tổn thương. Đối với sinh viên bị áp lực khủng hoảng tâm lý tuổi trưởng thành, còn đối với phụ nữ nội trợ bị sự cô lập xã hội, trầm cảm sau sinh/thiếu thốn sự chia sẻ. Họ sử dụng các thiết bị điện tử thông minh, trình chiếu các đoạn video ngắn được biên tập công phu về các thảm họa và các câu Kinh Thánh được cắt xén khéo léo để nhanh chóng khuất phục khả năng phản biện của đối phương.

5. Bối cảnh và thực trạng tại Việt Nam

Khi du nhập vào Việt Nam thường thông qua con đường người lao động, du học sinh từ Hàn Quốc trở về hoặc các chuyên gia nước ngoài, tổ chức này đã có những biến tướng và va chạm sâu sắc với nền tảng văn hóa bản địa và khung pháp lý hiện hành.

Thứ nhất, xung đột văn hóa sâu sắc

Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo và tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên. Đạo hiếu, việc phụng dưỡng cha mẹ và tưởng nhớ Tổ tiên là những giá trị đạo đức cốt lõi cấu thành nên sự ổn định xã hội.

Khi tham gia vào Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ, do đức tin tuyệt đối vào ngày tận thế và việc coi cha mẹ trần gian chỉ là phần xác tạm bợ, nhiều tín đồ đã có các hành vi cực đoan như: từ bỏ bàn thờ Tổ tiên, đập phá bát hương, không tham gia các ngày giỗ chạp, thậm chí đoạn tuyệt quan hệ với cha mẹ ruột. Điều này gây nên những cú sốc tâm lý lớn cho các gia đình, làm rạn nứt cấu trúc tế bào xã hội và bị cộng đồng phản ứng dữ dội.

Thứ hai, góc nhìn quản lý nhà nước và luật pháp

Dưới góc độ pháp luật Việt Nam, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo khẳng định Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Tuy nhiên, luật cũng nghiêm cấm các hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo để trục lợi, gây mất trật tự an toàn xã hội, xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, và đặc biệt là hành vi chia rẽ gia đình, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc.

Do tổ chức này chưa được cấp phép hoạt động chính thức tại Việt Nam, lại có nhiều phương thức thao túng tâm lý và áp lực tôn giáo, tuyên truyền rằng nếu không dâng hiến thì sẽ bị rủa sả, không được cứu rỗi, phạm tội với Đức Chúa Trời, tín đồ dâng hiến một cách tự nguyện trong nỗi sợ hãi, các cơ quan chức năng đã liên tục đưa ra các cảnh báo và tiến hành các biện pháp xử lý hành chính đối với các tụ điểm sinh hoạt trái phép.

6. Kết luận

Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ là hiện tượng điển hình của Phong trào tôn giáo mới trong thời kỳ toàn cầu hóa. Bằng cách biến đổi Thượng đế luận sang mô hình lưỡng tính, địa phương hóa đấng Ki-tô và tuyệt đối hóa luật lệ Cựu ước làm công cụ kiểm soát tâm lý, giáo phái này đã tự tách mình khỏi dòng chảy Ki-tô giáo chính thống. Sự phát triển của họ là lời nhắc nhở các giáo hội truyền thống về phương thức mục vụ, đồng thời đòi hỏi các cơ quan quản lý phải nhận diện rõ bản chất thần học để có giải pháp kiên quyết, nhân văn nhằm bảo vệ giá trị gia đình và văn hóa truyền thống của dân tộc.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam, Cẩm nang nhận diện các tổ chức tôn giáo lạ và các hiện tượng tôn giáo mới tại Việt Nam hiện nay, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2023.

2. Ban Tôn giáo Chính phủ, Công tác đối với hiện tượng tôn giáo mới đối tượng Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ - Thực trạng và giải pháp, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2021.

3. Đinh Quang Tiến, Nhận diện các hiện tượng tôn giáo mới tại Việt Nam hiện nay và một số vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý nhà nước, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 08/2019.

4. Lê Tâm Đắc, Phong trào tôn giáo mới: Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2020.

5. Nguyễn Thanh Xuân, Một số hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam hiện nay - Đặc điểm, tác động và xu hướng phát triển, Tạp chí Công tác Tôn giáo, số 11/2017.

6. Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Biến động tôn giáo và những thách thức đối với an ninh văn hóa tại Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, 2022.

7. Vũ Thành Nam, Xung đột giá trị giữa giáo lý của “Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ” với truyền thống hiếu đạo của người Việt, Tạp chí Tâm lý học và Xã hội học đương đại, số 04/2023.