Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Hợp nhất bốn chương trình mục tiêu quốc gia - Tạo động lực phát triển mới cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Hoàng Thành - 09:02, 13/10/2026

(DTTG) - Việc Quốc hội phê duyệt chủ trương tích hợp bốn Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035 không phải là việc sắp xếp lại tên gọi hay đầu mối quản lý, điều quan trọng hơn là mở ra một cách tiếp cận mới trong tổ chức thực hiện chính sách, như: thay vì để nhiều nguồn lực vận hành song song trên cùng một địa bàn, các chính sách được đặt trong một chỉnh thể phát triển, hướng tới giải quyết đồng thời những vấn đề về sinh kế, hạ tầng, giáo dục, y tế, văn hóa và chất lượng sống. Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đây là cơ hội để những nguồn lực trước đây còn phân tán được kết nối thành một lực đẩy mạnh hơn cho phát triển.

Những năm gần đây, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có bước chuyển mình tích cực trong phát triển kinh tế nhờ khai thác hiệu quả lợi thế đồi núi, rừng và tài nguyên địa phương
Những năm gần đây, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có bước chuyển mình tích cực trong phát triển kinh tế nhờ khai thác hiệu quả lợi thế đồi núi, rừng và tài nguyên địa phương

Từ bốn chương trình đến một chỉnh thể phát triển

Ngày 24/8/2026, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 (Nghị quyết số 46/2026/QH16). Chương trình được hình thành trên cơ sở hợp nhất bốn chương trình MTQG đã được Quốc hội quyết định trước đó: phát triển văn hóa; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.

Đặc biệt là Quốc hội không lựa chọn cách gộp cơ học. Nghị quyết số 46/2026/QH16 yêu cầu việc tích hợp không làm thay đổi, thu hẹp mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng, quyền lợi và mức độ ưu tiên đã được xác lập ở bốn chương trình trước đó, mà bảo đảm tính liên tục của các nhiệm vụ đang triển khai. Như vậy, cái được lớn nhất của việc tích hợp các Chương trình MTQG đó là sự thay đổi về cách tổ chức và phối hợp chính sách, mà không làm cắt giảm những cam kết đã dành cho người dân.

Điều đó mở ra một cách tiếp cận mới trong triển khai thực thi chính sách đó là: địa bàn trở thành một đơn vị tổ chức phát triển quan trọng, thay vì chỉ là nơi tiếp nhận từng dự án. Chẳng hạn, một xã miền núi có tỷ lệ nghèo cao không nhất thiết chỉ cần một dự án giảm nghèo. Nếu điểm nghẽn là giao thông, cần kết nối hạ tầng với vùng sản xuất; nếu thiếu lao động có kỹ năng, phải gắn đào tạo với việc làm; nếu sản phẩm làm ra nhưng khó tiêu thụ, cần kết nối sản xuất với doanh nghiệp và thị trường; nếu trẻ em còn gặp khó khăn trong tiếp cận giáo dục, đầu tư sinh kế phải song hành với đầu tư con người.

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, yêu cầu này càng rõ. Phát triển kinh tế không thể tách khỏi giáo dục, y tế, văn hóa và môi trường. Một mô hình sản xuất chỉ có thể duy trì nếu người dân có sức khỏe, kiến thức và kỹ năng; một vùng nông thôn muốn phát triển du lịch cần đồng thời giữ cảnh quan, văn hóa và nâng chất lượng dịch vụ; giảm nghèo lâu dài cần tạo việc làm và thu nhập chứ không chỉ giải quyết thiếu hụt trước mắt.

Tỉnh Cao Bằng có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch bền vững của núi rừng Đông Bắc
Tỉnh Cao Bằng có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch bền vững của núi rừng Đông Bắc

Bởi vậy, tích hợp không đồng nghĩa với đồng nhất. Một trong những yêu cầu quan trọng của chương trình mới là thống nhất về mục tiêu và quản trị nhưng không đồng nhất một cách máy móc về phương thức thực hiện. Văn hóa có cách đánh giá riêng; giáo dục có chu kỳ và tiêu chí riêng; y tế có yêu cầu chuyên môn riêng; giảm nghèo và phát triển sản xuất lại cần những cơ chế khác. Tích hợp phải tạo ra khả năng phối hợp giữa các lĩnh vực, chứ không biến những lĩnh vực khác nhau thành một công thức giống nhau.

Mục tiêu mà Nghị quyết số 46/2026/QH16 đặt ra đến năm 2030 cho thấy rõ hướng tiếp cận đó: thu nhập bình quân của người dân nông thôn tăng 2,5-3 lần so với năm 2020; thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số đạt một nửa mức bình quân chung của cả nước; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giảm xuống dưới 10%; vùng này cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn. Chương trình đồng thời hướng tới xây dựng nông thôn hiện đại, giàu đẹp, bản sắc, phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, sinh thái và thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, nhóm dân cư.

Đây là sự thay đổi có ý nghĩa về tư duy quản trị phát triển. Trong thực tế, đời sống của một hộ nghèo không được chia thành một phần giáo dục, một phần y tế, một phần sinh kế và một phần văn hóa. Những vấn đề ấy tác động qua lại. Một hộ thiếu đất sản xuất có thể đồng thời thiếu việc làm và thu nhập; con em hộ nghèo khó tiếp cận giáo dục chất lượng có thể tiếp tục hạn chế cơ hội việc làm; một địa bàn thiếu nước sạch, giao thông và dịch vụ y tế sẽ khó nâng chất lượng sống dù đã có những chương trình hỗ trợ sản xuất.

Nếu mỗi chính sách được triển khai theo một quy trình riêng, cùng một địa bàn có thể phải tiếp nhận nhiều danh mục, nhiều thủ tục, nhiều cơ chế báo cáo trong khi những điểm nghẽn thực tế lại đan xen. Tích hợp vì thế nhằm mục đích đưa chính sách về gần hơn với nhu cầu của người dân, từ đó tạo động lực để tháo gỡ những điểm nghẽn. 

Vẻ đẹp yên bình làng Hoàng Su Phì (tỉnh Tuyên Quang)
Vẻ đẹp yên bình làng Hoàng Su Phì (tỉnh Tuyên Quang)

Nguồn lực lớn, yêu cầu quản trị lớn

Quy mô của Chương trình MTQG cho thấy mức độ lớn của sự thay đổi. Tổng nguồn lực giai đoạn 2026-2030 được xác định là 808.558 tỷ đồng, gồm 345.000 tỷ đồng ngân sách Trung ương, 395.392 tỷ đồng ngân sách địa phương, 23.000 tỷ đồng ngân sách nhà nước cấp thực hiện tín dụng chính sách, 20.429 tỷ đồng vốn đối ứng của các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng và 24.737 tỷ đồng từ các nguồn huy động hợp pháp khác. Trong phần ngân sách Trung ương, vốn đầu tư công là 244.200 tỷ đồng và kinh phí thường xuyên 100.800 tỷ đồng.

Vì vậy, con số hơn 808 nghìn tỷ đồng không chỉ phản ánh quy mô nguồn lực, đặc biệt còn đặt ra một yêu cầu lớn hơn, như: quản trị nguồn lực phải thay đổi tương xứng. Nếu chỉ thay bốn chương trình bằng một chương trình nhưng vẫn giữ cách phân bổ manh mún, các thủ tục riêng biệt và tư duy quản lý theo từng dự án, lợi ích của việc tích hợp sẽ bị hạn chế.

Nghị quyết số 46/2026/QH16 đã đặt khá rõ nguyên tắc này: phân bổ nguồn lực phải có trọng tâm, trọng điểm, tránh manh mún, dàn trải; ưu tiên cao nhất cho xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng an toàn khu, biên giới, hải đảo; khuyến khích lồng ghép những chương trình, dự án có cùng nhiệm vụ trên cùng địa bàn.

Những mục tiêu ấy cho thấy, thước đo cuối cùng không phải là số lượng dự án được triển khai, mà là mức độ cải thiện đời sống và khả năng phát triển của người dân. Một công trình giao thông phải giúp giảm chi phí và mở rộng cơ hội sản xuất; một dự án đào tạo phải tạo ra kỹ năng có thể chuyển thành việc làm; tín dụng phải giúp hộ dân đầu tư và duy trì sinh kế; hỗ trợ giáo dục, y tế phải góp phần nâng chất lượng nguồn nhân lực và sức khỏe cộng đồng.

Tạo bứt phá từ lợi thế địa phương để phát triển du dịch bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi…
Tạo bứt phá từ lợi thế địa phương để phát triển du dịch bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi…

Trao quyền chủ động, gắn với trách nhiệm

Cùng với tập trung nguồn lực, chương trình MTQG giai đoạn 2026-2030 đặt yêu cầu phân cấp mạnh hơn cho địa phương. Địa phương được chủ động lựa chọn danh mục, thứ tự ưu tiên, phân bổ và điều chỉnh trong khuôn khổ mục tiêu chung, nhưng phải bảo đảm hoàn thành các mục tiêu được giao. Đây là bước chuyển từ tư duy Trung ương quyết định chi tiết sang Trung ương xác lập mục tiêu, nguyên tắc và cơ chế; địa phương chịu trách nhiệm lựa chọn cách làm phù hợp thực tiễn.

Ý nghĩa của phân cấp nằm ở chỗ không một cơ quan ở xa có thể hiểu đầy đủ như cầu thiết yếu của cộng đồng nơi đó. Tuy nhiên, phân cấp chỉ tạo hiệu quả khi đi cùng năng lực thực thi, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Quyền chủ động lớn hơn phải đi cùng trách nhiệm lớn hơn đối với kết quả.

Thực tiễn triển khai ngay trong năm 2026 cho thấy, quá trình chuyển tiếp đang được đặt ra rất cụ thể. Ngày 10/9/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1757/QĐ-TTg về việc giao bổ sung dự toán chi thường xuyên ngân sách trung ương năm 2026 (đợt 4) cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện Chương trình MTQG 417, theo đó Chính phủ đã giao bổ sung 192,251 tỷ đồng dự toán chi thường xuyên ngân sách Trung ương năm 2026 cho 9 bộ, cơ quan Trung ương và 27 địa phương thực hiện chương trình; trong đó 128,241 tỷ đồng được giao cho 27 địa phương. Đồng thời, Quyết định này cũng yêu cầu sử dụng kinh phí đúng mục tiêu, đúng đối tượng, không trùng lặp với chương trình, dự án, nhiệm vụ chi khác và bảo đảm khả năng giải ngân trong năm.

Chi tiết này đáng chú ý bởi nó cho thấy tích hợp không phải một quyết định nằm trên giấy. Ngay trong năm đầu tiên, hệ thống quản lý đã phải giải bài toán chuyển tiếp: vừa bảo đảm các nhiệm vụ không bị gián đoạn, vừa từng bước vận hành theo cơ chế mới. Đây sẽ là phép thử quan trọng đối với năng lực phối hợp giữa các cơ quan Trung ương và địa phương.

Công nghệ mở rộng sinh kế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thái Nguyên
Công nghệ mở rộng sinh kế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thái Nguyên

Đo hiệu quả bằng những thay đổi thực chất

Cùng với đó, yêu cầu đổi mới quản trị ngày càng rõ hơn trong định hướng của Đảng. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để đổi mới mô hình phát triển. Với các chương trình quy mô lớn, chuyển đổi số cần được nhìn trước hết như công cụ giúp phối hợp, theo dõi tiến độ, nhận diện điểm nghẽn và đánh giá kết quả, thay vì chỉ số hóa các thủ tục vốn có.

Từ quan điểm ấy, tích hợp bốn Chương trình MTQG thực chất là một cuộc cải cách về cách Nhà nước tổ chức nguồn lực cho phát triển. Mục tiêu không phải làm cho hệ thống trở nên gọn về hình thức, mà phải làm cho chính sách đến với địa bàn nhanh hơn, nguồn lực được phối hợp tốt hơn và kết quả cuối cùng rõ hơn.

Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, ý nghĩa ấy càng sâu sắc và quan trọng. Đây là nơi khoảng cách phát triển còn lớn, địa hình phức tạp, chi phí đầu tư cao và nhu cầu phát triển có tính liên ngành rất rõ. Nếu nguồn lực cho hạ tầng, sinh kế, giáo dục, y tế, văn hóa và giảm nghèo được nhìn trong cùng một bài toán phát triển, mỗi khoản đầu tư sẽ có khả năng bổ trợ cho khoản đầu tư khác. 

Đó chính là lực đẩy mới mà chương trình tích hợp có thể tạo ra cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: không nhất thiết là nhiều nguồn lực hơn, mà cùng một nguồn lực được tổ chức tốt hơn, phối hợp chặt chẽ hơn và hướng rõ hơn vào những thay đổi thực chất của đời sống. Khi bốn lĩnh vực được kết nối trong một chính thể nhưng vẫn giữ được đặc thù cần thiết, khi địa phương có thẩm quyền chủ động nhưng đồng thời phải chịu trách nhiệm về kết quả, chính sách sẽ có cơ hội chuyển từ những chương trình song hành thành một quá trình phát triển thống nhất.

Và đó mới là ý nghĩa sâu sắc, nhân văn và ưu việt của bước chuyển từ bốn chương trình sang một chương trình, điều đó không phải thu hẹp chính sách, mà là mở rộng khả năng phối hợp, không phải là gom cơ học, mà là tổ chức lại cách sử dụng, không phải thay đổi cam kết với người dân, mà là làm cho những cam kết ấy có điều kiện được thực hiện đồng bộ, đúng địa bàn, đúng nhu cầu và tạo ra kết quả bền vững hơn./.