Từ những bắp ngô non trên nương, đồng bào Tày, Nùng làm nên món bánh dẻo thơm, đậm vị quê nhàTrên những triền núi Cao Bằng, ngô từ lâu đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Cây ngô theo người dân lên nương, bén rễ trên những sườn núi đá, qua mùa gieo hạt rồi kết thành những bắp ngô chắc mẩy. Khi những bắp ngô nếp vừa độ ngậm sữa, hạt còn mềm, căng mọng và phảng phất vị ngọt tự nhiên, cũng là lúc người dân bắt đầu làm bánh ngô non.
Với đồng bào Tày, Nùng, chế biến ngô thành những món ăn truyền thống không đơn thuần là cách tận dụng nguồn lương thực sẵn có. Đó còn là cách người dân gửi vào món ăn những kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác. Từ bánh đúc ngô, chè ngô đến rượu ngô men lá…, mỗi món ăn đều mang theo một phần hồn vía của núi rừng. Trong dòng chảy ấy, bánh ngô non hiện diện giản dị nhưng có sức gợi nhớ đặc biệt.
Bà Đàm Thị Liệt, xóm Bản Luộc, xã Nguyên Bình, có nhiều năm làm bánh ngô, cho biết mùa bánh thường bắt đầu từ khoảng tháng 7 đến tháng 9. Đây là thời điểm những bắp ngô nếp vừa tới độ, hạt căng đều, mềm và có vị ngọt thanh. Người làm bánh phải lựa từng bắp, ưu tiên những bắp non, đều hạt, sau đó bóc vỏ, tách hạt rồi xay nhuyễn.
Điều làm nên cái ngon của bánh trước hết nằm ở nguyên liệu. Ngô non được xay kỹ, thường không pha thêm nước để giữ nguyên độ ngọt và hương thơm tự nhiên. Tùy khẩu vị, người làm bánh có thể thêm đường hoặc mật mía với lượng vừa phải. Một số gia đình còn kết hợp thêm gạo nếp hoặc ngô vàng để bánh có màu sắc đẹp hơn, tăng độ dẻo và tạo nên hương vị riêng.
Cách gói bánh cũng mang nét khéo léo của người phụ nữ vùng cao. Những bẹ lá ngô được lựa chọn cẩn thận, làm mềm rồi dùng để bao bọc phần bột đã trộn đều. Từng chiếc bánh nhỏ được gói chắc tay, xếp ngay ngắn vào chõ hấp. Sau hơn một giờ trên bếp lửa, bánh chín dần. Hơi nóng làm hương ngô lan tỏa, quyện cùng mùi thơm thanh nhẹ của lá, tạo thành một thứ hương vị rất đỗi thân thuộc.
Bóc lớp lá bên ngoài, những chiếc bánh ngô non hiện lên với sắc vàng óng, dẻo mềm, gợi vị ngọt lành của nương rẫy Cao BằngMở lớp lá ngô, sắc vàng óng của chiếc bánh hiện ra. Bánh mềm, dẻo nhưng không nhão; vị ngọt thanh của ngô non không quá gắt, càng nhai càng cảm nhận rõ vị thơm bùi. Có lẽ bởi nguyên liệu gần gũi và cách chế biến không cầu kỳ nên chiếc bánh mang một vẻ đẹp rất riêng: vẻ đẹp của sự mộc mạc, của những gì được tạo nên từ đất đai, mùa màng và đôi bàn tay con người.
Đằng sau món bánh nhỏ bé ấy còn là cả một miền ký ức. Với nhiều người Tày, Nùng ở Cao Bằng, bánh ngô non gợi nhớ những ngày thơ bé theo mẹ, theo bà lên nương; nhớ căn bếp nhỏ thơm mùi ngô mới; nhớ những buổi chiều mưa, cả nhà quây quần bên nồi bánh nóng. Trong cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, một chiếc bánh làm từ những bắp ngô trên chính nương nhà đôi khi đã là món quà quý. Bánh theo người lớn lên nương, theo trẻ nhỏ đến trường và trở thành một phần ký ức không dễ phai mờ.
Ngày nay, giữa sự phong phú của các loại bánh hiện đại, bánh ngô non vẫn được đồng bào gìn giữ. Ở một số chợ phiên, điểm du lịch cộng đồng, món bánh dân dã ấy đã trở thành thức quà giới thiệu với du khách về văn hóa ẩm thực Cao Bằng. Khi thưởng thức chiếc bánh, người ta không chỉ tìm thấy vị ngọt của ngô mà còn cảm nhận được sự cần mẫn, khéo léo của người làm bánh và mối gắn bó bền chặt giữa con người với nương rẫy.
Một chiếc bánh nhỏ, vài nguyên liệu giản dị, cách làm không cầu kỳ nhưng chứa đựng trong đó cả một mùa ngô và một miền ký ức. Bánh ngô non vì thế không chỉ là món ăn của đồng bào Tày, Nùng ở Cao Bằng mà còn là một lát cắt sinh động của văn hóa vùng cao./.