Những hiện vật cổ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số được lưu giữ trong Bảo tàng tỉnh Lâm ĐồngTại nhiều địa phương, số hóa di sản đang được triển khai từ việc xây dựng cơ sở dữ liệu, số hóa hiện vật, tư liệu đến sử dụng mã QR, bảo tàng ảo, hiện vật 3D hay hệ thống thuyết minh tự động. Những công cụ này giúp lưu giữ thông tin một cách có hệ thống, đồng thời tạo thêm phương thức để người dân, du khách có thể tìm hiểu di sản dù ở bất kỳ nơi nào.
Từ năm 2020, Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng đã triển khai ứng dụng công nghệ 4.0 trong quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc. Theo ông Phan Nhàn, Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng, đơn vị tập trung vào ba nội dung chính gồm xây dựng phần mềm quản lý hiện vật, xây dựng bảo tàng ảo trên không gian mạng và giới thiệu hiện vật 3D, hiện vật tiêu biểu trên bảo tàng ảo.
Đến nay, khoảng 6.000 hiện vật đã được nhập vào hệ thống; hơn 500 mã QR được sử dụng để giới thiệu thông tin về hiện vật. Hệ thống thuyết minh tự động bằng tiếng Việt và tiếng Anh cũng được đưa vào hoạt động. Ông Nhàn cho biết đề tài ứng dụng công nghệ 4.0 đã được hoàn thành, nghiệm thu vào năm 2025 và được đánh giá cao.
Ở không gian trưng bày tại bảo tàng trung tâm, khoảng 400 hiện vật tiêu biểu đã được số hóa và giới thiệu bằng mã QR. Chỉ với điện thoại hoặc máy tính bảng, khách tham quan có thể quét mã để xem thông tin, hình ảnh về hiện vật. Bảo tàng cũng xây dựng không gian tham quan 3D trên website, trong đó khoảng 200 hiện vật tiêu biểu được số hóa 3D, cho phép người xem thay đổi góc nhìn, phóng to, thu nhỏ và tìm hiểu thông tin chi tiết.
Những thay đổi ấy có thể cảm nhận khá rõ từ chính người đến tham quan. Bạn Nghiêm Gia Bảo, một du học sinh Phần Lan đi du lịch cùng gia đình tại tỉnh Lâm Đồng đến thăm Bảo tàng, em cho biết trước đây em từng nghĩ bảo tàng khá buồn tẻ, nhưng sau khi trực tiếp trải nghiệm các không gian số tại đây, cách nhìn ấy đã thay đổi. Bảo cũng chia sẻ thêm khi trở lại Phần Lan học tập, em chỉ cần quét mã QR có thể tìm hiểu được lịch sử, văn hóa Việt Nam. Chị Nguyễn Diệu Hằng, mẹ của Bảo cũng đánh giá việc sử dụng mã QR giúp chị dễ dàng tìm hiểu, thu thập và lưu trữ thông tin về những hiện vật phục vụ nhu cầu và công việc của chị hơn.
Số hóa di sản hát Then - đàn tính nhằm lưu giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống.Câu chuyện số hóa cũng đang được triển khai ở tỉnh Cao Bằng, nơi có 271 di tích lịch sử, văn hóa cùng hàng trăm lễ hội của các dân tộc. Thông qua Dự án 6 thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều di tích, lễ hội từng bước được xây dựng dữ liệu trên nền tảng số. Một số thông tin được tích hợp mã QR, xây dựng trang thông tin riêng và cập nhật trên mạng xã hội để thuận tiện cho việc tra cứu, giới thiệu và quảng bá.
Điểm đặc biệt là dữ liệu số ở đây phục vụ nhiều mục đích cùng lúc. Người dân và du khách có thể quét mã để tìm hiểu lịch sử, nguồn gốc lễ hội, những nét đặc trưng của địa phương; cơ quan quản lý có thêm công cụ tra cứu tư liệu; thông tin được cập nhật thường xuyên trên các nền tảng trực tuyến cũng giúp di sản tiếp cận nhóm công chúng trẻ. Theo tư liệu, việc xây dựng dữ liệu còn góp phần hỗ trợ quản lý, hạn chế thực hành sai lệch di sản.
Với anh Nguyễn Hùng Cường, một du khách đến từ tỉnh Phú Thọ, cách làm này đem lại trải nghiệm rất thú vị. Anh cho biết thông qua việc quét mã QR, tôi có thể dễ dàng tìm hiểu về lịch sử, văn hóa, lễ hội và những nét đặc trưng của nơi mình đến; nhờ vậy chuyến tham quan có thêm thông tin để hiểu về rõ hơn những điểm mình muốn đến, lựa chọn được địa điểm thăm quan nhanh và chính xác hơn.
Từ bảo tàng đến di tích, lễ hội, có thể thấy công nghệ số đang tham gia vào nhiều khâu của công tác bảo tồn văn hóa. Giá trị của nó trước hết nằm ở khả năng tạo lập và lưu giữ dữ liệu, sau đó mở rộng cách thức tiếp cận di sản. Tuy nhiên, một hiện vật được quét 3D hay một lễ hội được đưa lên mạng vẫn không thể thay thế việc bảo vệ di sản trong đời sống thực. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi dữ liệu được xây dựng chính xác, có sự tham gia của những người am hiểu di sản và được cập nhật lâu dài.
Vì vậy, đưa di sản lên không gian số có lẽ nên được nhìn như một phương thức bổ sung cho công tác bảo tồn, giúp những giá trị vốn gắn với một địa điểm hoặc một cộng đồng có thêm cơ hội được biết đến, nghiên cứu và tiếp cận. Khi một bạn trẻ có thể tìm hiểu một hiện vật bằng điện thoại, một du khách quét mã QR để biết câu chuyện phía sau một di tích, hay một người ở xa có thể tham quan bảo tàng ảo, di sản đã có thêm một con đường để đến với đời sống hôm nay./.