Người Khơ-mú đặt ban thờ này ở phía ngoài gian nhà với ý nghĩa như một hàng rào linh thiêng bảo vệ toàn bộ ngôi nhàCũng như nhiều dân tộc khác, việc thờ cúng Tổ tiên của người Khơ-mú là phong tục không thể thiếu và cũng khó mai một nhất đối với mỗi dòng họ, mỗi gia đình. Nghi lễ là minh chứng phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan, cho chúng ta hiểu thêm về những câu chuyện liên quan đến nguồn gốc của một dân tộc.
Mỗi dòng họ của người Khơ-mú đều mang tên một loài vật, đồ vật hoặc cỏ cây, chính vì vậy cả dòng họ phải kiêng ăn và tôn kính vật tổ mang tên dòng họ. Họ Rvai kiêng ăn thịt con hổ, trong đó có các nhánh của họ Rvai là Rvai vênh ung (hổ vằn), Rvai tlắp (con báo), Rvai đerr (hổ xám); họ Tmoong kiêng ăn thịt con chồn, cáo; họ Rích thì kiêng ăn thịt con chim; họ Tvạ kiêng thu hái cây dương xỉ, cây duối làm thức ăn; họ Mar kiêng ăn thịt rắn; họ Hấp kiêng không để các đồ vật rọ nhốt lợn, rọ nhốt gà, cái bế để ngựa thồ ở chỗ bẩn… Hiện nay, người Khơ-mú vẫn lưu gìn giữ việc nhớ đến dòng họ của mình và nhận nhau là họ hàng khi cùng Tổ tiên, nhưng trong giấy tờ nhân thân, thì tên họ đã chuyển sang tên họ của người Thái như họ Mè, Hoàng, Lò, Lường, Vi, Quàng…
Nhờ những nghi lễ cúng Tổ tiên mà con cháu người Khơ-mú đời sau đều nhớ về nguồn gốc Tổ tiên của mình. Nghi lễ còn tồn tại đồng nghĩa với việc những tri thức này sẽ còn truyền lại cho nhiều thế hệ con cháu mai sau. Việc thờ cúng của người Khơ-mú nhằm cầu mong mọi điều lành, nhưng theo quan niệm tín ngưỡng của đồng bào đôi khi các ma, các thần giận giữ cũng có thể gây tai họa, vì vậy, người Khơ-mú tổ chức lễ cúng còn để bày tỏ sự tôn kính và thể hiện mong ước của mình gửi đến ông bà, Tổ tiên.
Ông Quàng Văn Lường, bản Huổi Khoang, xã Huổi Một (tỉnh Sơn La) cho biết: Việc thờ cúng để cầu cho con cháu, gia đình khỏe mạnh không gặp hoạn nạn, rủi ro. Nghi lễ thờ cúng Tổ tiên từ lâu đã trở thành sợi dây vô hình gắn kết dòng họ. Chúng tôi chủ yếu làm nương rẫy, có thời điểm ở trên nương ít về nhà nên gặp nhau cũng khó. Vì vậy, khi có cơ hội gặp gỡ, giao lưu, trò chuyện thì việc nhớ đến nguồn cội, totem (vật tổ) của dòng họ giúp chúng tôi nhận ra thân tộc để hiểu nhau, hợp tác với nhau thuận tình, gắn bó với nhau hơn.
Bàn thờ đặt trên góc của gian bếp chính là bàn thờ Tổ tiên với ý nghĩa bảo vệ những người phụ nữ và phù hộ họ sinh con đàn cháu đốngCũng theo ông Lò Văn Vi, bản Tà Roòng, xã Mường Típ (tỉnh Nghệ An) cho biết: Khi mình sinh ra, bố mẹ dặn phải làm lễ cúng thì đừng có bỏ phong tục này, phải làm theo, nếu không làm theo thì bố mẹ phạt, trời phạt… Phong tục này có từ lâu đời rồi, cứ một năm làm một lần làm lễ cúng vào dịp cuối năm. Làm lễ cúng này để bỏ năm cũ đón năm mới.
Trong truyền thống, nghi lễ thờ cúng Tổ tiên còn có ý nghĩa trong cuộc sống như khi một gia đình có công việc thì trước tiên đó là việc chung của cả dòng họ, thân tộc trước, sau mới đến nhờ vả cộng đồng làng, bản. Nhờ vậy mà mối quan hệ giữa các thành viên họ hàng, thân tộc ngày càng được gắn kết.
Qua nghi lễ cúng Tổ tiên đã thể hiện được bản sắc văn hóa đặc trưng của ngườ Khơ-mú, giúp cho họ nhớ về nguồn cội dân tộc, có ý thức giữ gìn văn hóa dân tộc mình. Trong bối cảnh hiện nay, những tác động từ thị trường, từ kinh tế đến thông tin, cách thức sống thì nhiều nét văn hóa của đồng bào đã bị mai một. Tuy nhiên, trong nghi lễ thờ cúng Tổ tiên điều tiên quyết là phải làm theo nghi lễ truyền thống, bài khấn là phải khấn tiếng Khơ-mú (mặc dù đây là dân tộc không có chữ viết và ngôn ngữ giao tiếp hiện nay đa phần họ nói tiếng Thái), trang phục là trang phục truyền thống của người Khơ-mú thì Tổ tiên mới nhận ra, đây là nguyên tắc nhưng cũng là một khía cạnh để thấy văn hóa Khơ-mú có đặc sắc riêng, quan điểm nhân sinh riêng của dân tộc còn gìn giữ được.
Có thể thấy, các nghi lễ chính là môi trường để lưu giữ những nét văn hóa độc đáo của các dân tộc, trong đó nghi lễ cúng Tổ tiên của người Khơ-mú, giúp chúng ta nhận diện được đặc trưng văn hóa người Khơ-mú. Các nghi lễ còn, văn hóa người Khơ-mú vẫn được lưu giữ.