Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Kinh tế xanh và chuyển đổi số ở vùng miền núi Tây Bắc

ThS. Nguyễn Duy Dũng* ThS. Võ Thị Thảo Nguyên* - 09:52, 09/10/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Trong bối cảnh thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Chương trình chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế xanh gắn với chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển bền vững vùng miền núi Tây Bắc. Với lợi thế về tài nguyên rừng, đa dạng sinh học, nông nghiệp đặc sản, năng lượng tái tạo và bản sắc văn hóa dân tộc, Tây Bắc có nhiều tiềm năng để hình thành mô hình tăng trưởng xanh dựa trên đổi mới sáng tạo và công nghệ số. Bài viết phân tích vai trò, thực trạng phát triển kinh tế xanh và chuyển đổi số; đánh giá những cơ hội, thách thức và các yếu tố tác động đến quá trình chuyển đổi mô hình phát triển ở khu vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự kết hợp giữa kinh tế xanh và chuyển đổi số góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, phát triển sinh kế bền vững, gia tăng giá trị sản phẩm địa phương và thu hẹp khoảng cách phát triển. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển xanh và chuyển đổi số toàn diện ở vùng miền núi Tây Bắc.

Kinh tế xanh và chuyển đổi số đang trở thành hai động lực chiến lược thúc đẩy phát triển bền vững vùng miền núi Tây Bắc trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Kinh tế xanh và chuyển đổi số đang trở thành hai động lực chiến lược thúc đẩy phát triển bền vững vùng miền núi Tây Bắc trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Từ khóa: Kinh tế xanh; Chuyển đổi số; Vùng miền núi Tây Bắc; Dân tộc thiểu số; Phát triển bền vững; Kinh tế số.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu đang chuyển mạnh sang mô hình phát triển xanh, kinh tế xanh và chuyển đổi số được xem là hai động lực chiến lược thúc đẩy tăng trưởng bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và thích ứng với những thách thức của biến đổi khí hậu. Tại Việt Nam, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đã xác định rõ yêu cầu kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và ứng dụng khoa học công nghệ nhằm tạo ra động lực phát triển mới cho đất nước.

Vùng miền núi Tây Bắc, bao gồm các tỉnh: Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai,… là khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, xã hội, môi trường và quốc phòng. Đây là vùng có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 60% dân số, sở hữu nguồn tài nguyên rừng phong phú, đa dạng sinh học cao, nhiều sản phẩm nông nghiệp đặc sản và tiềm năng lớn về du lịch sinh thái, năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, Tây Bắc vẫn là một trong những vùng còn nhiều khó khăn, với hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế và khoảng cách phát triển so với các vùng động lực của cả nước còn tương đối lớn.

Kinh tế xanh gắn với chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là giải pháp quan trọng nhằm khai thác hiệu quả các lợi thế so sánh của vùng. Chuyển đổi số góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, phát triển kinh tế số, thương mại điện tử và du lịch thông minh, trong khi kinh tế xanh tạo nền tảng cho việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm địa phương. Vì vậy, nghiên cứu mối quan hệ giữa kinh tế xanh và chuyển đổi số ở vùng miền núi Tây Bắc có ý nghĩa quan trọng về mặt thực tiễn, góp phần đề xuất các giải pháp phát triển nhanh, bền vững và bao trùm trong giai đoạn hiện nay.

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Vai trò của kinh tế xanh và chuyển đổi số đối với phát triển vùng miền núi Tây Bắc

Kinh tế xanh và chuyển đổi số đang là hai động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng tại Tây Bắc giúp khai thác hiệu quả các nguồn lực nội sinh để cho phát triển kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại, bao trùm và bền vững.

Trước hết, kinh tế xanh góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái. Tây Bắc hiện là vùng có diện tích rừng lớn nhất cả nước, giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ nguồn nước, điều hòa khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học. Việc phát triển nông nghiệp hữu cơ, lâm nghiệp bền vững, kinh tế tuần hoàn và năng lượng tái tạo giúp giảm áp lực khai thác tài nguyên, đồng thời tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế địa phương. Đây cũng là giải pháp quan trọng nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu và thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh quốc gia.

Bên cạnh đó, chuyển đổi số đóng vai trò thúc đẩy đổi mới phương thức sản xuất, kinh doanh và quản trị phát triển. Việc ứng dụng công nghệ số trong sản xuất nông nghiệp giúp tối ưu hóa quy trình canh tác, nâng cao chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc hàng hóa. Đối với các sản phẩm đặc sản vùng cao như chè Shan tuyết, cà phê (tỉnh Sơn La), mắc ca (tỉnh Điện Biên) và các sản phẩm OCOP,… chuyển đổi số tạo điều kiện mở rộng thị trường thông qua các sàn thương mại điện tử và nền tảng số, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân.

Ngoài ra, kinh tế xanh kết hợp với chuyển đổi số còn thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và kinh tế văn hóa. Các ứng dụng du lịch thông minh, bản đồ số, quảng bá trực tuyến và thanh toán không dùng tiền mặt đã góp phần nâng cao trải nghiệm của du khách, đồng thời quảng bá hiệu quả hình ảnh vùng đất và con người Tây Bắc đến thị trường trong nước và quốc tế.

Đặc biệt, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chuyển đổi số góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển thông qua nâng cao khả năng tiếp cận thông tin, dịch vụ công trực tuyến, giáo dục số và y tế số. Trong khi đó, kinh tế xanh tạo điều kiện phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tri thức địa phương và nguồn lực tự nhiên theo hướng bền vững.

Như vậy, kinh tế xanh và chuyển đổi số không chỉ là xu hướng phát triển tất yếu mà còn là giải pháp chiến lược nhằm tạo đột phá cho vùng miền núi Tây Bắc. Sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng xanh và chuyển đổi số sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân và thúc đẩy phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

2.2. Thực trạng phát triển kinh tế xanh và chuyển đổi số ở vùng miền núi Tây Bắc

Trong những năm gần đây, dưới tác động của Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Chương trình chuyển đổi số quốc gia và các chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn I (Chương trình 1719), quá trình phát triển kinh tế xanh và chuyển đổi số tại Tây Bắc đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, nhiều địa phương đã từng bước chuyển đổi sang các mô hình sản xuất xanh, hữu cơ và tuần hoàn. Tỉnh Sơn La hiện là một trong những trung tâm sản xuất cây ăn quả lớn của cả nước với nhiều vùng sản xuất ứng dụng tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và nông nghiệp hữu cơ,… Các sản phẩm như chè Shan tuyết, cà phê Arabica (tỉnh Sơn La), mắc ca (tỉnh Điện Biên), quế Văn Yên (tỉnh Lào Cai), dược liệu (tỉnh Lai Châu) và nhiều sản phẩm OCOP đặc trưng,… đã từng bước xây dựng thương hiệu gắn với phát triển xanh và bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã tạo nguồn thu ổn định cho nhiều hộ dân, góp phần nâng tỷ lệ che phủ rừng của nhiều tỉnh Tây Bắc lên mức cao so với bình quân cả nước.

Trong lĩnh vực du lịch, mô hình du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng phát triển khá mạnh tại các địa bàn, như: Sa Pa, Mù Cang Chải (tỉnh Lào Cai), Mai Châu (tỉnh Phú Thọ), Mộc Châu, Tà Xùa (tỉnh Sơn La), Sin Suối Hồ (tỉnh Lai Châu), Mường Phăng (tỉnh Điện Biên) và nhiều địa phương khác. Việc khai thác các giá trị văn hóa dân tộc gắn với bảo vệ cảnh quan tự nhiên đã góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế xanh tại địa phương.

Song song với đó, chuyển đổi số đang từng bước được triển khai trên nhiều lĩnh vực. Hệ thống hạ tầng viễn thông, internet băng rộng và mạng di động 4G, 5G tiếp tục được mở rộng đến nhiều xã vùng sâu, vùng xa. Các địa phương đã đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng cơ sở dữ liệu số trong quản lý dân cư, đất đai và phát triển kinh tế - xã hội. Trong lĩnh vực thương mại, nhiều sản phẩm OCOP, nông sản đặc sản vùng cao đã được đưa lên các sàn thương mại điện tử, giúp mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao giá trị sản phẩm. Tuy nhiên, thực trạng phát triển kinh tế xanh và chuyển đổi số ở vùng miền núi Tây Bắc vẫn còn hạn chế, như: (i) Hạ tầng số giữa các địa phương phát triển chưa đồng đều; chất lượng nguồn nhân lực số còn thấp; tỷ lệ lao động qua đào tạo ở nhiều khu vực vùng sâu, vùng xa còn hạn chế. (ii) Quy mô sản xuất nông nghiệp xanh chủ yếu vẫn nhỏ lẻ, khả năng liên kết chuỗi giá trị chưa cao. (iii) Nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất chưa đủ năng lực tiếp cận các công nghệ số tiên tiến hoặc các tiêu chuẩn sản xuất xanh quốc tế. (iv) Nhận thức về kinh tế xanh và chuyển đổi số của một bộ phận người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, còn chưa đồng đều. Việc ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, quản trị và tiêu thụ sản phẩm ở nhiều nơi vẫn mang tính thử nghiệm, chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về năng suất và hiệu quả kinh tế.

Nhìn chung, vùng miền núi Tây Bắc đã đạt được những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế xanh và chuyển đổi số, từng bước hình thành các mô hình phát triển mới phù hợp với xu thế của thời đại. Tuy nhiên, để biến các tiềm năng thành động lực tăng trưởng thực sự, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa sự kết hợp giữa kinh tế xanh với chuyển đổi số trong phát triển vùng giai đoạn tới.

2.3. Định hướng và giải pháp

Trong bối cảnh thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh quốc gia và chuyển đổi số toàn diện, vùng miền núi Tây Bắc cần xác định phát triển kinh tế xanh gắn với chuyển đổi số là định hướng, giải pháp quan trọng, chiến lược nhằm tạo động lực tăng trưởng mới, nâng cao chất lượng phát triển và thu hẹp khoảng cách với các vùng kinh tế phát triển trong cả nước.

Thứ nhất, cần hoàn thiện cơ chế, lồng ghép các mục tiêu tăng trưởng xanh và số hóa vào quy hoạch ngành, chương trình phát triển kinh tế - xã hội đồng bộ.

Thứ hai, Ưu tiến đầu tư hạ tầng số kết hợp hạ tầng xanh (mạng viễn thông, trung tâm dữ liệu, năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn) phục vụ sản xuất nông nghiệp xanh. Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực số và nhân lực xanh, đặc biệt trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Cần tăng cường đào tạo kỹ năng số, kỹ năng quản trị, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ trong sản xuất, kinh doanh cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp địa phương.

Thứ tư, thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh gắn với chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trong quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và xây dựng thương hiệu nông sản đặc sản. Đây là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của các sản phẩm địa phương.

Thứ năm, phát triển du lịch xanh, du lịch thông minh và kinh tế văn hóa số, khai thác hiệu quả các giá trị tài nguyên thiên nhiên, văn hóa dân tộc và cảnh quan sinh thái của Tây Bắc thông qua các nền tảng công nghệ số.

Thứ sáu, cần tăng cường liên kết vùng, liên kết công - tư và thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội cho phát triển kinh tế xanh và chuyển đổi số. Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định nhằm tạo đột phá phát triển bền vững, nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số và xây dựng vùng Tây Bắc trở thành không gian phát triển xanh, hiện đại trong giai đoạn mới.

3. Thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy kinh tế xanh và chuyển đổi số không phải là hai quá trình tách biệt mà có mối quan hệ tương hỗ, bổ sung cho nhau trong thúc đẩy phát triển bền vững vùng miền núi Tây Bắc. Trong điều kiện khu vực có lợi thế về tài nguyên rừng, đa dạng sinh học, nông nghiệp đặc sản và văn hóa các dân tộc thiểu số, việc kết hợp tăng trưởng xanh với ứng dụng công nghệ số mở ra cơ hội hình thành mô hình phát triển mới dựa trên đổi mới sáng tạo và khai thác hiệu quả các nguồn lực nội sinh.

Thực tiễn cho thấy, các mô hình nông nghiệp hữu cơ, sản phẩm OCOP gắn với truy xuất nguồn gốc điện tử, thương mại điện tử và du lịch cộng đồng số hóa đã góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ. Điều này khẳng định chuyển đổi số không chỉ là công cụ kỹ thuật mà còn là động lực tạo ra giá trị gia tăng cho các ngành kinh tế xanh. Đồng thời, kinh tế xanh tạo nền tảng để các ứng dụng công nghệ số được triển khai theo hướng phát triển bền vững, giảm tác động tiêu cực đến môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy một số thách thức cần tiếp tục quan tâm nghiên cứu, như: (i) Khoảng cách số giữa các địa phương, hạn chế về nguồn nhân lực chất lượng cao, năng lực đổi mới sáng tạo còn thấp và thiếu các mô hình liên kết vùng đang làm giảm hiệu quả của quá trình chuyển đổi. (ii) Nhiều chính sách hiện nay vẫn tiếp cận riêng lẻ đối với kinh tế xanh hoặc chuyển đổi số mà chưa hình thành được cơ chế tích hợp đồng bộ.

Với góc nhìn khoa học phát triển lâu dài, Tây Bắc cần chuyển từ mô hình khai thác tài nguyên truyền thống sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và giá trị xanh. Trong tiến trình đó, cộng đồng dân tộc thiểu số cần được xác định là chủ thể của quá trình phát triển. Việc kết hợp hài hòa giữa tri thức địa phương, khoa học công nghệ hiện đại, kinh tế xanh và chuyển đổi số sẽ tạo ra nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bao trùm cho vùng miền núi Tây Bắc trong giai đoạn mới.

4. Kết luận

Kinh tế xanh và chuyển đổi số đang trở thành hai động lực chiến lược thúc đẩy phát triển bền vững vùng miền núi Tây Bắc trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu cho thấy, việc kết hợp giữa phát triển xanh và ứng dụng công nghệ số đã góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, gia tăng giá trị các sản phẩm nông nghiệp, du lịch và sản phẩm đặc trưng địa phương, đồng thời mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường cho đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức về hạ tầng số, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo và liên kết vùng. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, phát triển kinh tế xanh dựa trên lợi thế địa phương và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân tộc thiểu số, qua đó tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững và bao trùm của vùng Tây Bắc trong giai đoạn mới .

*Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo

**Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.

2. Lê Minh Nhật (2019). Nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu, https://nhandan.vn/chuyen-de-cuoi-tuan/ nong-nghiep-thich-ung-voi-bien-doi-khi-hau-346771/.

3. Nguyễn Duy Dũng (2025), Nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo, số 3 (Tháng 11/2025).

4. Võ Hữu Phước (2022), Phát triển nông nghiệp bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, https://kinhtevadubao.vn/ phat-trien-nong-nghiep-ben-vung-thich-ung-voi-bien-doi khi-hau-23316.html.

5. Quốc hội (2019), Nghị quyết số 88/2019/QH14 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Hà Nội.

6. Quốc hội (2020), Nghị quyết số 120/2020/QH14 về chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, Hà Nội.

7. Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ TTg ngày 03/06/2020 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, Hà Nội.

8. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1719/ QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025, Hà Nội.

9. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1658/QĐ TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 2030, tầm nhìn 2050, Hà Nội.

10. Hoàng Đức Thành (2025), Gắn phát triển du lịch với bảo tồn phát huy giá trị văn hoá truyền thống ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo, số 1 (Tháng 9/2025).