Từ khóa: Người có uy tín; Dân tộc thiểu số; Chính sách dân tộc; Nghị định 307/2026/NĐ-CP
Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Y Vinh Tơr tặng quà Đoàn đại biểu Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Vĩnh Long nhân dịp Đoàn ra thăm Bộ Dân tộc và Tôn giáo (tháng 7/2026)1. Đặt vấn đề
Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số là lực lượng xã hội có vị trí đặc biệt trong đời sống cộng đồng. Họ có thể là già làng, trưởng dòng họ, trưởng thôn, người từng giữ chức vụ trong hệ thống chính trị, chức sắc, chức việc tôn giáo hoặc những cá nhân tiêu biểu trong lao động sản xuất, giữ gìn văn hóa, bảo vệ an ninh trật tự, có khả năng tập hợp, vận động Nhân dân. Điểm chung của họ là có sự tín nhiệm cao của cộng đồng. Từ sự tín nhiệm đó, họ có điều kiện tham gia tuyên truyền, vận động đồng bào thực hiện hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hòa giải những mâu thuẫn phát sinh ở cơ sở; giữ gìn tình đoàn kết giữa các dân tộc; bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống; vận động Nhân dân phát triển sản xuất và tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở…
Đề cao và nhằm phát huy vai trò này của Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách. Nổi bật là Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg ngày 6/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí lựa chọn, công nhận Người có uy tín và chính sách đối với Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số và Quyết định số 28/2023/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 12/ QĐ-TTg, trong đó có những điều chỉnh liên quan đến tiêu chí, quy trình lựa chọn và công nhận, chế độ thông tin, tập huấn, yêu cầu trang bị kỹ năng khai thác, sử dụng và xử lý thông tin trên Internet, mạng xã hội cho Người có uy tín, phù hợp với sự thay đổi của đời sống kinh tế - xã hội và yêu cầu mới đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số.
Hiện nay, thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn đề mới, đó là: các hình thức giao tiếp và tiếp nhận thông tin ngày càng đa dạng; tác động của mạng xã hội ngày càng lớn; yêu cầu quyết liệt phải phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, giảm nghèo, giữ gìn bản sắc văn hóa gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở… Để thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thời cuộc, đòi hỏi uy tín của một cá nhân trong đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ được hình thành từ các yếu tố truyền thống như tuổi tác, vị thế xã hội hay chức danh truyền thống mà ngày càng phải gắn với năng lực, cách ứng xử, mức độ đóng góp và khả năng giải quyết hiệu quả những vấn đề cụ thể của cộng đồng. Song hành với những yêu cầu về chất lượng là sự cần thiết phải hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ đối với họ.
Đáp ứng những đòi hỏi đó và nhằm phát huy hơn nữa vai trò của Người có uy tín trong tình hình mới, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 307/2026/NĐ-CP ngày 4/8/2026 (Nghị định) quy định về lựa chọn, công nhận, chính sách đối với Người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chính sách thăm hỏi, chúc mừng, tặng quà, động viên, gặp mặt, biểu dương, tôn vinh đối với một số tổ chức, cá nhân người dân tộc thiểu số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 20/9/2026, thay thế Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg và Quyết định số 28/2023/QĐ-TTg.
Nghị định có nhiều điều chỉnh về nguyên tắc và quy trình lựa chọn, công nhận Người có uy tín; trách nhiệm của chính quyền địa phương; chính sách cung cấp thông tin; chính sách thăm hỏi, hỗ trợ; hoạt động gặp mặt, biểu dương, tôn vinh và đặc biệt là việc phân cấp mạnh hơn cho chính quyền cấp xã trong quản lý, rà soát, công nhận Người có uy tín.
Những thay đổi trên cho thấy chính sách đang được điều chỉnh theo hướng gắn chặt hơn với thực tiễn cộng đồng và yêu cầu quản trị ở cơ sở. Người có uy tín không chỉ được nhìn nhận là đối tượng được hưởng một số chế độ hỗ trợ mà được đặt trong mối quan hệ với việc thực hiện chính sách dân tộc, vận động Nhân dân và phát huy nguồn lực xã hội tại địa bàn. Đồng thời, việc mở rộng các nhóm cá nhân tiêu biểu được quan tâm, động viên, biểu dương, tôn vinh cũng cho thấy đang có sự thay đổi trong cách tiếp cận về lực lượng nòng cốt trong cộng đồng dân tộc thiểu số.
Từ những vấn đề trên, bài viết tập trung phân tích những nội dung mới chủ yếu của Nghị định trong tương quan với Quyết định số 12/QĐ-TTg và Quyết định số 28/QĐ-TTg, qua đó làm rõ sự vận động trong tư duy xây dựng và thực hiện chính sách đối với Người có uy tín. Trên cơ sở đó, bài viết nhận diện những giá trị mới của chính sách nhằm phát huy thực chất vai trò của Người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số.
2. Những bước tiến quan trọng
Thứ nhất, cần ghi nhận là cộng đồng được đặt ở vị trí trung tâm hơn trong việc lựa chọn Người có uy tín. Theo Quyết định 12/QĐ-TTg, Người có uy tín được lựa chọn từ thôn, bản, tổ dân phố và các đơn vị tương đương. Quy trình này sau đó được điều chỉnh bởi Quyết định số 28/QĐ-TTg. Đến Nghị định tiếp tục bổ sung nội dung nguyên tắc “đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch”, bảo đảm quyền làm chủ của cộng đồng dân cư. Đây là cách tiếp cận phù hợp với bản chất của khái niệm “uy tín”, đó là uy tín phải được hình thành từ sự tin tưởng thực tế của người dân chứ không thể chỉ dựa vào một chức danh hay sự giới thiệu của cơ quan quản lý.
Thứ hai, quan niệm về vai trò của Người có uy tín được mở rộng theo hướng coi trọng năng lực và đóng góp thực tế. Trước đây, trong suy nghĩ phổ biến của mọi người, Người có uy tín thường gắn với già làng, trưởng bản, người cao tuổi, trưởng dòng họ hoặc những người từng giữ chức vụ trong hệ thống chính trị và nghỉ hưu tại địa phương. Tuy nhiên, cùng với những thay đổi trong đời sống kinh tế - xã hội, những người được cộng đồng tín nhiệm ngày càng có xuất thân và vai trò đa dạng hơn. Đó có thể là Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, Trưởng ban công tác mặt trận thôn, nhân sỹ, trí thức, doanh nhân, nghệ nhân, nhà giáo, người hành nghề chữa bệnh, nông dân, công nhân sản xuất giỏi, thanh niên tiêu biểu, chức sắc, chức việc, nhà tu hành trong các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận… Điều đó cho thấy uy tín của một người không chỉ từ tuổi tác, chức vụ hay vị thế truyền thống, mà còn từ năng lực, cách sống và những đóng góp cụ thể của cá nhân đối với cộng đồng. Phù hợp với cách đánh giá mới, Nghị định đã thể hiện cách tiếp cận rộng hơn về Người có uy tín. Họ là những người cư trú tại địa phương thay cho cư trú hợp pháp tại Việt Nam để tập trung vào các đối tượng sinh sống tại địa bàn; Ưu tiên lựa chọn Người có uy tín là người dân tộc thiểu số để thuận tiện trong giao tiếp, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước tới đồng bào; Bổ sung tiêu chí “có khả năng tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước” do đây là một nhiệm vụ rất quan trọng đối với Người có uy tín. Những sự thay đổi này trong Nghị định cho thấy Người có uy tín được nhìn nhận theo hướng đa dạng hơn, phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của đời sống kinh tế - xã hội và đáp ứng nguyện vọng của đồng bào là ngày càng cần những người vừa hiểu phong tục, tiếng nói, tâm lý của cộng đồng, vừa có hiểu biết và biết cách sử dụng kiến thức mới để giải quyết những vấn đề cụ thể đa dạng và phức tạp của cuộc sống.
Thứ ba, chính sách hỗ trợ về thông tin có nhiều thay đổi. Quyết định 12/QĐ-TTg và Quyết định 28/QĐ-TTg quy định Người có uy tín được cấp một ấn phẩm báo của cơ quan ngôn luận thuộc cơ quan quản lý nhà nước hoạt động trong lĩnh vực dân tộc và công tác dân tộc, với yêu cầu về tôn chỉ, mục đích, năng lực và kinh nghiệm xuất bản, phát hành báo. Sang Nghị định 307 đã điều chỉnh thành Người có uy tín được cấp không thu tiền một ấn phẩm báo chí của cơ quan báo chí cấp trung ương có tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền chuyên sâu về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo và một tờ báo của địa phương hoặc loại hình cung cấp thông tin khác do tỉnh quyết định. Quy định mới tạo ra hai tầng thông tin. Một tầng là thông tin chuyên sâu ở tầm quốc gia, được chuyển tải thông qua một cơ quan báo chí cấp trung ương có chức năng phù hợp. Tầng thứ hai là thông tin của địa phương, gắn với những vấn đề cụ thể diễn ra trên địa bàn Người có uy tín sinh sống. Nói cách khác, tiêu chí lựa chọn ấn phẩm đã chuyển sang nhấn mạnh năng lực cung cấp thông tin chuyên sâu về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. Người có uy tín muốn làm tốt vai trò của mình họ phải có thông tin chính xác, chính thống và đủ chiều sâu. Cung cấp ẩn phẩm báo chí cho Người có uy tín thực chất là một cách tăng cường năng lực thông tin cho lực lượng có vai trò truyền dẫn thông tin ở cơ sở. Cách thiết kế này hợp lý hơn khi Nhà nước đang nhìn nhận thông tin như một nguồn lực để Người có uy tín thực hiện tốt hơn vai trò của mình. Ngoài ra, Nghị định cho phép “Căn cứ vào điều kiện của địa phương, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh nghiên cứu, trình Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh ban hành các chính sách hỗ trợ về thông tin với số lượng, tần suất cao hơn; thông tin trên môi trường số hoặc các hình thức khác phù hợp”. Sở dĩ vậy là do Người có uy tín ngày nay phải làm việc trong môi trường Internet và mạng xã hội bùng nổ, khác hẳn phương thức thông tin truyền thống. Một thông tin sai có thể đến với người dân một cách nhanh chóng qua chiếc điện thoại, qua mạng xã hội trước khi cán bộ kịp tổ chức cuộc họp cung cấp thông tin chính thống. Một tin đồn thất thiệt liên quan đến chính sách đất đai, dân tộc, tôn giáo… nếu không được cơ quan chức năng giải thích sớm có thể tạo ra tâm lý hoài nghi, thậm chí gây mất đoàn kết… Vì vậy, trong tình hình mới, không thể cung cấp thông tin cho họ bằng cách đơn thuần là gửi tài liệu để tự nghiên cứu, hoặc tổ chức một cuộc họp để tuyên truyền một chiều mà phải giúp họ biết cách nhận diện thông tin sai, cách kiểm chứng nguồn tin, cách giải thích vấn đề cho cộng đồng bằng ngôn ngữ dễ hiểu. Đây là một yêu cầu mới nhưng rất thực tế đối với công tác dân vận ở cơ sở.
Thứ tư, chính sách hỗ trợ vật chất (thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ khi Người có uy tín hoặc gia đình gặp khó khăn do ốm đau, thiên tai, hỏa hoạn; đồng thời quy định việc gặp mặt, biểu dương, tôn vinh…) đối với Người có uy tín được điều chỉnh cao hơn. Mức quà Tết hoặc lễ hội truyền thống được nâng lên tối đa 1 triệu đồng/người/ lần, không quá 3 lần trong năm; các mức hỗ trợ khi ốm đau được quy định theo cấp điều trị… cho thấy Nhà nước rất quan tâm để Người có uy tín yên tâm thực hiện vai trò của mình.
Cuối cùng, là việc phân cấp thẩm quyền công nhận Người có uy tín. Trước đây, quy trình lựa chọn, công nhận phải trải qua nhiều cấp, Nghị định đã đưa thẩm quyền công nhận, phê duyệt danh sách Người có uy tín, đưa ra khỏi danh sách và thay thế, bổ sung Người có uy tín về Chủ tịch UBND cấp xã để phù hợp với yêu cầu phân cấp, phân quyền và mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Mặt khác, cấp xã cũng là cấp chính quyền sát dân nhất nên việc đánh giá sẽ đúng với thực tế hơn. Đây là điểm mới có ý nghĩa thực tiễn. Uy tín của một người không thể đánh giá một lần rồi giữ nguyên trong nhiều năm. Một người có thể từng rất được tin tưởng nhưng khi tuổi cao, sức khỏe giảm hoặc không còn khả năng tham gia công việc cộng đồng thì cần có người kế cận. Ngược lại, một người trẻ có năng lực, sống gương mẫu và được dân tin tưởng cần có cơ hội được ghi nhận.
3. Kết luận
Nhìn lại quá trình phát triển từ Quyết định số 12/QĐ-TTg, Quyết định số 28/QĐ-TTg đến Nghị định số 307/NĐ-CP có thể thấy chính sách đối với Người có uy tín đã từng bước được hoàn thiện cả về phạm vi, nội dung và phương thức thực hiện. Nếu Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg chủ yếu đặt nền tảng cho việc xác định tiêu chí, lựa chọn, công nhận và thực hiện các chế độ đối với Người có uy tín, thì Quyết định số 28/2023/ QĐ-TTg đã có những điều chỉnh phù hợp hơn với yêu cầu tiếp nhận và xử lý thông tin trong điều kiện mới. Nghị định số 307/2026/NĐ-CP tiếp tục phát triển chính sách theo hướng mở rộng hơn về nội dung, tăng cường phân cấp và gắn Người có uy tín chặt hơn với đời sống cộng đồng.
Sự thay đổi này cho thấy nhận thức về vai trò của Người có uy tín đã có sự chuyển biến, phát triển theo thời gian. Họ không chỉ được nhìn nhận là đối tượng thụ hưởng một số chế độ hỗ trợ mà ngày càng được coi là một lực lượng xã hội có khả năng tham gia vào công tác vận động Nhân dân, truyền tải chính sách, củng cố đoàn kết và giải quyết những vấn đề phát sinh từ cơ sở. Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với chính sách không chỉ là bảo đảm Người có uy tín được hưởng những chế độ gì, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để họ có đủ thông tin, kiến thức, kỹ năng và điều kiện cần thiết để thực hiện tốt vai trò của mình.
Từ góc độ này, việc cung cấp thông tin, tập huấn, bồi dưỡng, hỗ trợ vật chất, thăm hỏi, động viên và biểu dương, tôn vinh cần được xem là những nội dung có quan hệ với nhau trong cùng một chính sách. Cung cấp thông tin giúp Người có uy tín hiểu đúng chủ trương, chính sách và có cơ sở để giải thích cho cộng đồng; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng giúp họ sử dụng thông tin hiệu quả hơn; các chế độ hỗ trợ vật chất thể hiện sự quan tâm và tạo thêm điều kiện để họ tham gia công việc chung; còn biểu dương, tôn vinh là sự ghi nhận đối với những đóng góp thực tế. Nếu chỉ chú trọng một khâu mà xem nhẹ các khâu còn lại, hiệu quả của chính sách sẽ khó đạt được như mong muốn.
Nghị định số 307/2026/NĐ-CP có thể được xem là một bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện chính sách đối với Người có uy tín. Việc phân cấp mạnh hơn cho chính quyền cấp xã trong lựa chọn, công nhận, rà soát và quản lý Người có uy tín đặt trách nhiệm lớn hơn lên chính quyền cơ sở. Đây cũng là cấp gần nhất với cộng đồng, có điều kiện nhận biết tương đối đầy đủ những người thực sự được Nhân dân tín nhiệm, những đóng góp cụ thể của họ và những vấn đề đang đặt ra trong đời sống bản làng.
Tài liệu tham khảo
1. Chính phủ (2026), Nghị định số 307/NĐ-CP ngày 4/8/2026 quy định về lựa chọn, công nhận, chính sách đối với Người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chính sách thăm hỏi, chúc mừng, tặng quà, động viên, gặp mặt, biểu dương, tôn vinh đối với một số tổ chức, cá nhân người dân tộc thiểu số.
2. Thủ tướng Chính phủ (2018), Quyết định số 12/QĐ-TTg ngày 6/3/2018 về tiêu chí lựa chọn, công nhận Người có uy tín và chính sách đối với Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số.
3. Thủ tướng Chính phủ (2023), Quyết định số 28/QĐ-TTg ngày 23/11/2023 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 12/QĐ-TTg ngày 6/3/2018 về tiêu chí lựa chọn, công nhận Người có uy tín và chính sách đối với Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số.