Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Nghinh Ông Sông Đốc - Lễ hội của niềm tin và khát vọng biển khơi

Phương Thảo - 14:44, 05/09/2026

(DTTG) - Rằm tháng Hai Âm lịch hằng năm, cửa biển Sông Đốc (Cà Mau) lại rực rỡ cờ hoa và những đoàn tàu ra khơi làm lễ Nghinh Ông. Không chỉ là một lễ cầu ngư truyền thống của ngư dân, lễ hội còn lưu giữ lớp trầm tích văn hóa đặc sắc của cư dân miền biển Tây Nam Bộ - nơi con người gửi gắm niềm tin, lòng biết ơn với biển cả và khát vọng về những mùa vươn khơi bình an, may mắn.

Các đoàn tàu ra khơi tham gia lễ Nghinh Ông
Các đoàn tàu ra khơi tham gia lễ Nghinh Ông

Giữa vùng biển Tây mênh mang nơi cực Nam Tổ quốc, từ bao đời nay, ngư dân vẫn xem cá voi, hay còn gọi là “cá Ông” là vị phúc thần. Trong tâm thức của ngư dân, cá Ông là đấng linh thiêng, thường xuất hiện để cứu người gặp nạn giữa sóng dữ.

Người dân nơi đây vẫn truyền nhau huyền thoại mang màu sắc Phật giáo về nguồn gốc cá Ông. Tương truyền, Phật Tổ sai Quan Âm Bồ Tát xé áo cà sa thành trăm mảnh thả xuống biển hóa thành đàn cá Ông để cứu độ con người. Bộ xương voi cũng được hóa phép thành thân hình to lớn của cá Ông với khả năng “thâu đường”, tức rút ngắn khoảng cách để kịp thời cứu thuyền bè gặp nạn ngoài khơi. Từ niềm tin ấy, tín ngưỡng thờ cá Ông hình thành và trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cư dân ven biển Nam Bộ.

Hằng năm, vào ngày 15 và 16 tháng Hai Âm lịch, người dân Sông Đốc tổ chức Lễ hội Nghinh Ông - lễ cầu ngư trên vùng biển Cà Mau. Những ngày này, cửa biển bước vào mùa hội. Hàng trăm tàu thuyền được trang hoàng cờ hoa rực rỡ cùng hội tụ về vàm sông Ông Đốc để tham gia nghi lễ ra khơi nghinh Ông.

Phần đặc sắc nhất của lễ hội diễn ra vào trưa ngày 15 Âm lịch. Từ lăng Ông, đoàn nghinh bắt đầu xuất phát. Đi đầu là đội trống, tiếp theo là múa lân, lính lệ cầm cờ ngũ sắc, các học trò lễ và đoàn người nối dài. Hai bên đường, nhiều gia đình lập hương án thắp hương bái vọng thần Nam Hải khi đoàn đi qua.

Ra đến cảng cá Sông Đốc, Ban Trị sự cùng các đội nghi lễ bước lên chiếc tàu lớn được chọn làm “Nhà thủy lục” - con tàu hành lễ chính trong chuyến ra khơi. Tàu này thường thuộc về gia đình làm ăn phát đạt, có uy tín trong cộng đồng ngư dân. Hai bên là những tàu hộ vệ được trang trí lộng lẫy, phía sau là hàng trăm ghe tàu nối đuôi nhau tiến ra biển khơi tạo nên cảnh tượng vừa linh thiêng vừa hùng tráng giữa biển trời phương Nam. Nhiều tàu đang đánh bắt thuộc các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang… cũng cùng ra khơi tham gia nghinh Ông.

Khi đoàn tàu tiến ra vùng biển nước trong, nghi thức xin keo bắt đầu. Chánh bái thắp hương khấn nguyện, cầu xin cá Ông “thuận” để thỉnh về lăng. Với ngư dân, dấu hiệu thiêng liêng nhất là khi xuất hiện “ông dọi” (ông đồng ý) với hình ảnh cá Ông phun nước giữa mặt biển. Nếu chưa được chấp thuận, đoàn phải tiếp tục ra khơi xa hơn để làm lễ thêm lần nữa, cứ thế cho đến chừng nào “ông thuận” thì mới diễu hành quay về lăng. Người dân tin rằng, năm nào xin keo được ngay thì mùa biển năm ấy sẽ hanh thông, ghe tàu đầy ắp cá, tôm và ngược lại. 

Lăng Ông Nam Hải được trang trí rực rỡ và tráng lệ vào những ngày tổ chức lễ hội
Lăng Ông Nam Hải được trang trí rực rỡ và tráng lệ vào những ngày tổ chức lễ hội

Sau nghi thức xin keo, các thành viên Ban Trị sự múc nước biển cho vào bình mang về thờ tại lăng Ông. Nghi thức đó phản chiếu mối quan hệ sâu nặng giữa cư dân miền biển với đại dương - nơi vừa là nguồn sống, vừa là không gian tâm linh gắn bó với con người qua nhiều thế hệ. Lấy nước xong, tàu lễ và toàn bộ tàu ra khơi trở về bờ. Vào đến bờ, đoàn xếp theo thứ tự như lúc đi nghinh và quay trở về lăng. Về đến lăng, mọi người làm lễ thỉnh Ông vào chính điện. Nghi thức nghinh Ông lúc nào mới kết thúc.

Tối ngày 15, Ban Trị sự tổ chức nghi thức tế tiền hiền tại bàn thờ thần Nam Hải giữa chính điện.

Đêm ngày 15, Ban Trị sự tiếp tục tổ chức nghi lễ chánh tế, tương tự như tế tiền hiền. Các thành viên trong Ban Trị sự quỳ trước bàn thờ Nam Hải, một vị đại diện sẽ đọc bài văn chánh tế, trong văn tế có nhắc đến tên của nhiều vị thần linh ở vùng sông, biển.

Kết thúc nghi lễ chánh tế là nghi thức tống ôn - tiễn đưa chư thần và các vị âm linh về lại biển khơi, sau khi đã dự lễ với người dân. Ngư dân chuẩn bị một chiếc tàu dài khoảng 1m, kiểu dáng như tàu đánh bắt ngoài khơi, bên trong tàu bày lễ vật cúng, gồm: gà luộc, vịt luộc, gạo, muối, vàng mã,… Đến khuya, đoàn tham gia nghi thức gồm 5 người đưa chiếc tàu ra bến sông và có thêm một người đánh trống đi trước. Một chiếc xuồng đã chuẩn bị sẵn để đưa tàu tống ôn ra ngoài cửa sông Ông Đốc tại bến tàu gần đó. Chiếc xuồng chạy đến cửa sông Ông Đốc, mọi người cùng thắp hương khấn nguyện và thả tàu tống ôn xuống nước. Ông chánh chủ lăng Ông Sông Đốc cùng các vị đi cùng giơ tay chào mong tàu đưa chư vị thần linh cùng âm hồn đi ra với biển thuận lợi, bình an.

Những ngày diễn ra lễ Nghinh Ông là dịp để cộng đồng làng biển gặp gỡ sau những chuyến hải trình dài ngày. Ban Trị sự và cộng đồng tổ chức hát bội, trình diễn các tuồng tích cổ và nhiều trò chơi dân gian. Không gian lễ hội vì thế vừa mang vẻ linh thiêng, vừa đậm sắc màu sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Điều khiến Lễ hội Nghinh Ông Sông Đốc tồn tại bền bỉ qua thời gian không chỉ nằm ở yếu tố tín ngưỡng. Sâu xa hơn, đó là nhu cầu tinh thần của cư dân miền biển trước đại dương rộng lớn và nhiều bất trắc. Giữa biển khơi, con người càng thấm thía sự nhỏ bé của mình nên càng cần một điểm tựa niềm tin để vượt qua sóng gió.

Giữa nhịp sống hiện đại, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, Lễ hội Nghinh Ông Sông Đốc vẫn giữ được sức sống riêng, bởi đây là cơ hội tưởng nhớ các vị Thành hoàng, tiền hiền có công mở cõi, về hành trình mưu sinh nhiều hiểm nguy mà cũng đầy khí phách của người Việt ở phương Nam; giúp gắn kết cộng đồng, thắt chặt tình đoàn kết, tương thân tương ái giữa ngư dânsau những đợt lao động mưu sinh vất vả, hiểm nguy trên biển. Lễ hội còn là nguồn sử liệu phong phú và xác thực về những bằng chứng liên quan đến chủ quyền biển, đảo, về kinh nghiệm ứng xử với biển của các thế hệ người Cà Mau nói riêng và người Việt Nam nói chung.