Từ khóa: Tôn giáo; Đạo đức tôn giáo; Văn hóa tôn giáo; Chuẩn mực con người Việt Nam; Nguồn lực tôn giáo; Phát triển bền vững.
Các tôn giáo luôn tích cuwactham gia hoạt động xã hội, từ thiện1. Đặt vấn đề
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội hay nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân, mà còn là thiết chế văn hóa - xã hội lưu giữ, chuyển tải và thực hành nhiều giá trị đạo đức nhân văn. Đối với Việt Nam, tôn giáo luôn đồng hành cùng đời sống cộng đồng, hòa quyện chặt chẽ với văn hóa dân tộc trong tiến trình phát triển đất nước.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, bên cạnh những thành tựu kinh tế - xã hội to lớn, Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức về mặt văn hóa, đạo đức. Mặt trái của cơ chế thị trường cùng sự xâm nhập của các luồng tư tưởng ngoại nhập thiếu kiểm soát đã làm nảy sinh lối sống vị kỷ, thực dụng, sự suy thoái đạo đức và sự phai nhạt các giá trị nhân văn truyền thống.
Trong bối cảnh đó, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Phát huy các nhân tố tích cực, nhân văn trong các tôn giáo, niềm tin; rèn luyện sức khỏe, tri thức, đạo đức, lối sống, thẩm mỹ của con người Việt Nam [Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021]. Việc nghiên cứu, nhận diện và phát huy các giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo nhằm xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam hiện đại không chỉ mang ý nghĩa lý luận cấp thiết mà còn có giá trị thực tiễn đối với sự phát triển bền vững đất nước.
2. Cơ sở lý luận và hàm lượng văn hóa – đạo đức trong các tôn giáo tại Việt Nam
Thứ nhất, cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa tôn giáo, văn hóa và đạo đức
Ở phương diện tôn giáo học, tôn giáo là một thiết chế văn hóa - xã hội đặc thù, bao chứa hệ thống triết lý nhân sinh, chuẩn mực hành vi và các giá trị tinh thần ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống cộng đồng. Bản chất của đạo đức tôn giáo gắn liền với hệ thống niềm tin vào cái Thiêng, cô đọng các quy tắc ứng xử giữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng và thế giới tự nhiên nhằm tiết chế bản năng vị kỷ, định hướng con người đến các giá trị chân - thiện - mỹ.
Mối quan hệ giữa tôn giáo, văn hóa và đạo đức có tính tương hỗ nội tại. Niềm tin thiêng liêng trao cho các chuẩn mực đạo đức một sức mạnh tinh thần đặc biệt, mệnh lệnh của lương tâm và đức tin giúp con người tự giác tuân thủ mà không cần tới sự cưỡng chế thuần túy từ bên ngoài. Ngược lại, khi du nhập hoặc nảy sinh trong một không gian sinh tụ cụ thể, tôn giáo bắt buộc phải thẩm thấu và biến đổi theo mẫu số chung của văn hóa dân tộc để được cộng đồng tiếp nhận.
Ở Việt Nam, một quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo, mối quan hệ này thể hiện rõ qua quá trình tiếp biến văn hóa và Việt hóa. Sự dung hòa văn hóa đã làm cho hệ thống đạo đức của các tôn giáo du nhập như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo cũng như các tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo tìm thấy tiếng nói chung với đạo đức truyền thống của người Việt, tiêu biểu là lòng yêu nước, tinh thần nhân ái, tính cộng đồng và đạo lý uống nước nhớ nguồn.
Thứ hai, hàm lượng văn hóa - đạo đức trong các tôn giáo tại Việt Nam
Phật giáo, với lịch sử hơn 2.000 năm đồng hành cùng dân tộc, tư tưởng từ bi, hỷ xả, vô tha, vị kỷ và giáo lý Nhân quả - Nghiệp báo đã thấm sâu vào nếp nghĩ, lối sống của người Việt. Tinh thần Hộ quốc an dân, Đạo pháp gắn liền với Dân tộc đã biến Phật giáo thành một thành tố không thể tách rời của văn hóa Việt Nam.
Công giáo mang đến tinh thần bác ái, phụng sự, yêu thương đồng loại, tôn trọng sự thật và tính kỷ cương trong đời sống gia đình, xã hội. Phương châm “Sống Phúc âm giữa lòng Dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” (Thư Chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam) là minh chứng cho sự gắn kết giữa đức tin và nghĩa vụ công dân.
Tin Lành nhấn mạnh đạo đức lao động, tinh thần cần kiệm, tính tự lập, sự trung thực và kỷ luật cá nhân. Các nguyên tắc sống theo Kinh Thánh góp phần hình thành lối sống lành mạnh, tôn trọng pháp luật và tinh thần trách nhiệm xã hội.
Hồi giáo (Islam), đối với cộng đồng người Chăm gồm Chăm Islam và Chăm Bàni, tôn giáo vừa là tín ngưỡng vừa là chuẩn mực quản trị cộng đồng. Hồi giáo khuyến khích tính trung thực, sự đoàn kết, tinh thần chia sẻ thông qua các nghĩa vụ từ thiện (Zakat) và lối sống mực thước.
Các tôn giáo nội sinh (Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo) lấy tư tưởng Tứ đại trọng ân (Ân Tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân Tam bảo, Ân đồng bào nhân loại) hoặc tinh thần Quy nguyên tam giáo làm nòng cốt. Các tôn giáo này đặc biệt nhấn mạnh tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và trách nhiệm xã hội của tín đồ.
Nhìn tổng thể, hàm lượng văn hóa và đạo đức tôn giáo tại Việt Nam tạo nên hệ thống vốn xã hội và vốn đạo đức bổ trợ đắc lực cho việc xây dựng chuẩn mực con người hiện đại. Các giá trị này vừa có khả năng đề kháng trước những mặt trái của kinh tế thị trường, vừa cung cấp động lực tinh thần để nuôi dưỡng lòng yêu nước, tính trung thực và lòng nhân ái. Việc gạn đục khơi trong, chuyển hóa nguồn lực đạo đức - văn hóa tôn giáo thành hành vi xã hội tích cực là con đường quan trọng để kiến tạo nhân cách con người Việt Nam phát triển toàn diện trong giai đoạn mới.
3. Phát huy các giá trị tôn giáo trong kiến tạo chuẩn mực con người Việt Nam
Thứ nhất, bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần tự cường và ý thức trách nhiệm xã hội Chuẩn mực hàng đầu của con người Việt Nam trong mọi thời đại là lòng yêu nước và tinh thần tự lực, tự cường. Trong môi trường tôn giáo, lòng yêu nước được thể chế hóa thành giáo lý, giáo luật và trách nhiệm công dân.
Tư tưởng “Tứ đại trọng ân” của Phật giáo Hòa Hảo hay triết lý “Hộ quốc an dân” của Phật giáo đã đặt “Ân Đất nước” vào vị trí thiêng liêng. Đền đáp ơn Đất nước đồng nghĩa với việc chấp hành pháp luật, bảo vệ chủ quyền và đóng góp công sức xây dựng quê hương. Tương tự, đường hướng “Sống Phúc âm giữa lòng Dân tộc” của Công giáo hay tinh thần “Kính Chúa, yêu Nước” đã củng cố niềm tin rằng một tín đồ chân chính trước hết phải là một công dân gương mẫu. Huấn từ của Giáo hoàng Benedict XVI: “Người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt” đã thúc đẩy đông đảo tín đồ tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới và bảo vệ an ninh trật tự tại địa phương.
Nguồn lực tinh thần này giúp tín đồ chủ động tham gia các phong trào thi đua sản xuất, bảo vệ môi trường, hình thành phẩm chất tự cường và trách nhiệm xã hội ở mỗi cá nhân.
Thứ hai, lan tỏa tinh thần nghĩa tình, lòng bác ái và sự sẻ chia cộng đồng
Sự xâm nhập của lối sống thực dụng trong kinh tế thị trường đang làm suy giảm tính kết nối cộng đồng. Trong bối cảnh đó, giá trị đạo đức tôn giáo cung cấp một liều thuốc tinh thần đề kháng hiệu quả, nuôi dưỡng phẩm chất nghĩa tình và bác ái cho con người hiện đại.
Các tôn giáo chân chính tại Việt Nam đều lấy lòng thương người làm nòng cốt: Từ bi của Phật giáo, Bác ái của Công giáo và Tin Lành, nghĩa vụ từ thiện Zakat của Hồi giáo hay tinh thần Bố đức của Cao Đài. Tinh thần này được cụ thể hóa bằng hành động thiết thực. Các tổ chức tôn giáo hiện nay đang vận hành hàng nghìn cơ sở bảo trợ xã hội, trường mầm non, phòng khám từ thiện, bếp ăn tình thương và các hoạt động cứu trợ nhân đạo.
Đặc biệt trong những thời điểm thiên tai, bão lũ hay dịch bệnh, sự dấn thân của các chức sắc, tín đồ tôn giáo đã làm sáng đẹp truyền thống “lương giáo đoàn kết”, “lá lành đùm lá rách”. Những hành vi vị tha này có sức lan tỏa mạnh mẽ, giáo dục thế hệ trẻ lòng trắc ẩn, sự đồng cảm và tinh thần dấn thân vì cộng đồng.
Thứ ba, định hình tính trung thực, sự kỷ cương và lối sống mực thước
Thách thức lớn đối với công cuộc xây dựng con người hiện đại là sự suy thoái đạo đức, gian dối và vi phạm kỷ cương. Nếu pháp luật điều chỉnh hành vi bằng tính cưỡng chế từ bên ngoài, thì đạo đức tôn giáo lại có khả năng điều chỉnh con người bằng sự tự giác từ bên trong thông qua niềm tin tâm linh.
Hệ thống điều răn và giới luật như Ngũ giới (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu) của Phật giáo hay Mười điều răn của Ki-tô giáo chính là những quy tắc đạo đức tối thiểu để giữ gìn nhân cách. Sự tự rèn luyện này giúp tín đồ hình thành lối sống điều độ, trung thực trong lao động, giữ kỷ cương trong gia đình và xã hội. Khi các chuẩn mực đạo đức tôn giáo được tích hợp vào đời sống thường nhật, nó biến thành thói quen kỷ luật tự giác, góp phần tạo nên những công dân có trách nhiệm và tôn trọng pháp luật.
4. Những thách thức đặt ra trong điều kiện hiện nay
Một là, sự bùng phát của xu hướng thương mại hóa tâm linh và lệch chuẩn đạo đức Mặt trái của cơ chế thị trường đang thẩm thấu vào đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, tạo ra hiện tượng thương mại hóa hay trục lợi tâm linh. Ở một số nơi, sinh hoạt tôn giáo bị biến tướng thành dịch vụ kinh doanh lợi nhuận; các hiện tượng dâng sao giải hạn vô độ, đốt vàng mã tràn lan, cúng khấn thuê hay truyền bá tư tưởng mê tín dị đoan diễn ra công khai.
Một số cá nhân đã lợi dụng tâm lý bất an của người dân để thêu dệt nên những hành vi ệch chuẩn, lừa đảo tài sản, gây hoang mang dư luận. Điều này làm ô nhiễm không gian văn hóa, biến dạng các giá trị cốt lõi của tôn giáo và khiến một bộ phận quần chúng có cái nhìn sai lệch về chuẩn mực đạo đức, làm phai nhạt tinh thần lao động chân chính và tính tự lực tự cường.
Hai là, thách thức từ các hiện tượng tôn giáo mới và sự tác động của không gian mạng
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin và mạng xã hội tạo điều kiện cho các hiện tượng tôn giáo mới, đạo lạ, tà đạo xâm nhập và diễn biến phức tạp. Một số tổ chức mang danh tôn giáo hoạt động cực đoan, truyền bá tư tưởng phản khoa học, xúi giục tín đồ từ bỏ bàn thờ Tổ tiên, đập phá di sản văn hóa, từ bỏ nghĩa vụ gia đình và xã hội.
Trên không gian mạng, các tin giả, video cổ xúy tư tưởng dị đoan hoặc kích động hận thù tôn giáo được lan truyền nhanh chóng. Tác động này ảnh hưởng trực tiếp đến giới trẻ, đối tượng chưa hoàn thiện về bản lĩnh và tri thức, dẫn đến sự hoang mang về hệ giá trị và xói mòn tính kỷ cương xã hội.
Ba là, bất cập trong thể chế, chính sách và năng lực quản lý nhà nước
Mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương cởi mở, hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách vẫn còn những điểm nghẽn. Các quy định cho phép tổ chức tôn giáo tham gia sâu rộng vào các lĩnh vực xã hội hóa (y tế, giáo dục mầm non, bảo trợ xã hội, bảo vệ môi trường) chưa thực sự đồng bộ, thiếu cơ chế khuyến khích cụ thể để khơi thông tối đa các nguồn lực này.
Bên cạnh đó, năng lực quản lý nhà nước về công tác tôn giáo ở một số địa phương, nhất là cấp cơ sở, còn hạn chế. Một bộ phận cán bộ vẫn duy trì tư duy quản lý hành chính cứng nhắc, e ngại hoặc thiếu linh hoạt trong việc tiếp cận các giá trị tôn giáo; chưa phân biệt rành rọt giữa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo chân chính với hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật.
5. Giải pháp phát huy giá trị đạo đức, văn hóa tôn giáo trong xây dựng con người Việt Nam hiện đại
Một là, nâng cao nhận thức lý luận và đổi mới tư duy về tôn giáo, nguồn lực tôn giáo Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, làm rõ nội hàm nguồn lực tôn giáo (bao gồm nguồn lực đạo đức, văn hóa, nhân lực và vật lực) trong sự nghiệp phát triển đất nước.
Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo; coi đồng bào các tôn giáo là bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo trên các phương tiện truyền thông để tạo sự đồng thuận và nhìn nhận khách quan trong toàn xã hội.
Hai là, hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các tôn giáo đóng góp cho xã hội
Tiếp tục cụ thể hóa Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và các văn bản liên quan; tạo hành lang pháp lý rõ ràng để các tổ chức tôn giáo tham gia hiệu quả vào các lĩnh vực xã hội hóa: giáo dục mầm non, chăm sóc sức khỏe, bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo và bảo vệ môi trường.
Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội với các tổ chức tôn giáo trong việc giáo dục đạo đức, lối sống cho Nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Ba là, phát huy vai trò chủ thể của các tổ chức tôn giáo, chức sắc và nhà tu hành Khuyến khích các tổ chức tôn giáo đổi mới phương thức truyền đạo, lồng ghép nội dung giáo dục chuẩn mực đạo đức con người Việt Nam hiện đại vào các bài giảng đạo và sinh hoạt tâm linh.
Nâng cao bản lĩnh, tri thức và uy tín của đội ngũ chức sắc, chức việc; phát huy vai trò của họ như những tấm gương sáng về đạo đức, lối sống để dẫn dắt, định hướng tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo.
Chủ động đấu tranh, loại bỏ những hủ tục, hành vi mê tín dị đoan, thương mại hóa tâm linh; giữ gìn sự trong sáng của đạo đức tôn giáo.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số và truyền thông văn hóa tôn giáo
Thực hiện chuyển đổi số trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo; xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về tín ngưỡng, tôn giáo để theo dõi, dự báo và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh.
Sử dụng hiệu quả các nền tảng truyền thông số và mạng xã hội để lan tỏa các giá trị nhân văn, các mô hình tốt đời, đẹp đạo, đồng thời chủ động đấu tranh phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc về tình hình tôn giáo tại Việt Nam.
6. Kết luận
Xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam hiện đại là chiến lược trọng yếu, mang tính quyết định đối với sự nghiệp phát triển bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới. Trong tiến trình đó, các giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo không hề đối lập mà luôn song hành, bổ trợ và làm phong phú thêm cho hệ giá trị con người Việt Nam.
Phát huy nguồn lực đạo đức, văn hóa tôn giáo là sự nối dài truyền thống bao dung, hòa hợp của dân tộc; là sự chủ động huy động tiềm năng tinh thần của Nhân dân vào mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Bằng việc tiếp tục hoàn thiện chính sách, tạo môi trường thuận lợi và phát huy vai trò tích cực của các tôn giáo, chúng ta hoàn toàn có thể kiến tạo nên những thế hệ con người Việt Nam vừa giàu bản sắc dân tộc, vừa mang tinh thần hiện đại, sẵn sàng đưa đất nước phát triển bền vững .
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị (1998), Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 02/7/1998 về công tác tôn giáo trong tình hình mới, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Hoàng Thị Lan (2017), Việt Nam phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí Lý luận chính trị Số 9/2016.
4. Nguyễn Tất Đạt (2024), Xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới, Tạp chí Cộng sản số 1035.
5. Nguyễn Thị Song Hà (2024), Trang phục truyền thống và giá trị văn hóa tộc người trong phát triển bền vững, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo Số 1/2026.
6. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2016), Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (Luật số 02/2016/ QH14), Hà Nội.