Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Phát huy nghề truyền thống của dân tộc thiểu số trong ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam

ThS. Trần Hồng Quỳnh* - 2 giờ trước

(DTTG) - Tóm tắt: Nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số là bộ phận quan trọng cấu thành bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời là nguồn lực đặc thù cho phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Bài viết tập trung phân tích giá trị, vai trò, tiềm năng của nghề truyền thống trong cộng đồng các dân tộc thiểu số đối với phát triển công nghiệp văn hóa; đồng thời chỉ ra những hạn chế, thách thức đặt ra trong quá trình bảo tồn và phát huy. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số như một nguồn lực quan trọng cho phát triển công nghiệp văn hóa gắn với mục tiêu phát triển bền vững.

Từ khóa: Nghề truyền thống; Dân tộc thiểu số; Công nghiệp văn hóa; Bảo tồn và phát huy; Phát triển bền vững.

Nghề dệt thêu truyền thống được đồng bào các dân tộc thiểu số gìn giữ và phát huy (Ảnh minh họa)
Nghề dệt thêu truyền thống được đồng bào các dân tộc thiểu số gìn giữ và phát huy (Ảnh minh họa)

1. Đặt vấn đề

Phát triển công nghiệp văn hóa là một định hướng chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) ở Việt Nam. Trong các văn kiện của Đảng, văn hóa được xác định là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững đất nước. Trên quan điểm đó, khai thác, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) được xem là hướng đi lâu dài, vừa bảo tồn bản sắc, vừa tạo động lực tăng trưởng mới.

Nghề truyền thống của đồng bào DTTS hình thành và phát triển gắn liền với điều kiện tự nhiên, lịch sử cư trú và đời sống văn hóa, xã hội của từng tộc người. Các nghề: dệt thổ cẩm, đan lát, rèn, làm gốm, mộc, chế tác nhạc cụ, chế biến thực phẩm, dược liệu, nghề thủ công phục vụ sinh hoạt và tín ngưỡng… không chỉ tạo ra sản phẩm vật chất mà còn kết tinh tri thức địa phương, tri thức tộc người, thẩm mỹ dân gian và giá trị tinh thần sâu sắc, có tiềm năng lớn khi gắn với du lịch văn hóa và kinh tế địa phương.

Tuy nhiên, tiếp cận nghề truyền thống của đồng bào DTTS hiện chủ yếu vẫn đặt trong khung bảo tồn di sản hoặc hỗ trợ sinh kế, trong khi cách tiếp cận nghề truyền thống như một cấu phần của công nghiệp văn hóa còn hạn chế. Đây là khoảng trống nghiên cứu cần được tiếp tục làm rõ, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa gắn với bản sắc văn hóa dân tộc.

2. Khái niệm nghề truyền thống

Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn giải thích:“Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền”.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định trên quy định 3 tiêu chí công nhận nghề truyền thống: “a) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm và hiện đang tiếp tục phát triển tính đến thời điểm đề nghị công nhận; b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề”.

Định nghĩa và tiêu chí công nhận nghề truyền thống trên có 03 điểm đáng chú ý:

Thứ nhất, yêu cầu “hình thành từ lâu đời” nhấn mạnh yếu tố thời gian và tính liên tục lịch sử nhằm khẳng định nghề truyền thống là kết quả của quá trình tích lũy tri thức và kinh nghiệm sản xuất qua nhiều thế hệ.

Thứ hai, yêu cầu “sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt” cho thấy nghề truyền thống không chỉ tạo ra giá trị sử dụng mà còn hàm chứa giá trị văn hóa, thẩm mỹ và biểu tượng. Cách tiếp cận này phù hợp với quan niệm hiện đại xem văn hóa như một nguồn lực phát triển, đặc biệt trong bối cảnh thúc đẩy công nghiệp văn hóa, nơi tính khác biệt và bản sắc đóng vai trò quyết định.

Thứ ba, thừa nhận nghề truyền thống “được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền” phản ánh tư duy nhìn nhận nghề truyền thống không phải là một thực thể bất biến mà luôn vận động trong mối quan hệ với bối cảnh KT-XH. Điều này mở ra không gian chính sách cho cả bảo tồn và phát huy nghề truyền thống trong điều kiện mới.

Từ định nghĩa chung, có thể thấy, nghề truyền thốngcủa đồng bào DTTS là một bộ phận đặc thù, mang đầy đủ các đặc điểm cốt lõi của nghề truyền thống, đồng thời có những sắc thái riêng. Nghề truyền thống trong cộng đồng các DTTS thường gắn chặt với không gian cư trú, môi trường sinh thái và cấu trúc xã hội của tộc người; phản ánh trực tiếp tri thức địa phương, thế giới quan và quan niệm thẩm mỹ mang tính tộc người rõ nét. Quá trình truyền nghề không chỉ là sự chuyển giao kỹ thuật mà còn là sự trao truyền giá trị văn hóa, chuẩn mực xã hội và bản sắc cộng đồng. Trong nhiều trường hợp, nghề truyền thống của đồng bào DTTS tồn tại song hành với đời sống tín ngưỡng, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng, ranh giới giữa hoạt động sản xuất và thực hành văn hóa đan xen, khó tách rời. Đặc điểm này khiến nghề truyền thống của đồng bào DTTS không chỉ là đối tượng bảo tồn nghề nghiệp, mà còn là một dạng di sản văn hóa “sống”, có ý nghĩa quan trọng trong duy trì bản sắc văn hóa của tộc người và sự đa dạng của văn hóa quốc gia.

3. Giá trị của nghề truyền thống trong cộng đồng dân tộc thiểu số

Thứ nhất, nghề truyền thống mang giá trị văn hóa, lịch sử sâu sắc. Mỗi nghề truyền thống đều gắn với lịch sử hình thành tộc người, là kết quả tích lũy lâu dài tri thức địa phương, kinh nghiệm ứng xử với môi trường tự nhiên, các giá trị xã hội và thẩm mỹ được chắt lọc qua nhiều thế hệ. Vì vậy, nghề truyền thống có thể được xem như một “bảo tàng sống”, nơi lịch sử cộng đồng không chỉ được ghi lại bằng ký ức hay văn bản mà còn hiện diện cụ thể trong kỹ thuật chế tác, quy trình lao động và sản phẩm văn hóa.

Về phương diện lịch sử, nghề truyền thống phản ánh trình độ phát triển KT-XH và tổ chức đời sống của cộng đồng trong từng giai đoạn. Sự lựa chọn nguyên liệu, công cụ sản xuất, phương thức truyền nghề và phân công lao động đều mang dấu ấn của bối cảnh lịch sử cụ thể. Đối với nhiều cộng đồng DTTS, nghề truyền thống còn gắn với quá trình di cư, định cư và thích ứng với không gian sinh thái đặc thù, qua đó trở thành “dấu chỉ lịch sử” của tộc người trong tiến trình hình thành và phát triển của quốc gia - dân tộc.

Xét về giá trị văn hóa, nghề truyền thống hội tụ tri thức dân gian, quan niệm thẩm mỹ và hệ giá trị tinh thần của cộng đồng. Hoa văn, họa tiết, màu sắc, hình khối trên các sản phẩm thủ công không chỉ để trang trí mà còn hàm chứa ý nghĩa biểu tượng, phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và quan niệm về trật tự xã hội, vũ trụ của từng tộc người. Thông qua nghề truyền thống, các giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức và lối sống được trao truyền tự nhiên, bền bỉ, góp phần duy trì bản sắc tộc người trong bối cảnh giao lưu và biến đổi văn hóa mạnh mẽ.

Thứ hai, nghề truyền thống mang giá trị xã hội rõ nét, thể hiện trong việc tổ chức đời sống cộng đồng, củng cố các mối quan hệ xã hội và duy trì sự ổn định của cấu trúc xã hội truyền thống. Nghề truyền thống thường gắn với gia đình, dòng họ, làng bản và cộng đồng tộc người. Quá trình sản xuất, truyền nghề và tiêu thụ sản phẩm diễn ra trong không gian xã hội quen thuộc, qua đó hình thành và duy trì các mối liên kết bền chặt giữa các thành viên trong cộng đồng.

Về phương diện xã hội học, nghề truyền thống góp phần định hình vai trò, vị thế và phân công lao động trong cộng đồng. Ở nhiều cộng đồng DTTS, nghề truyền thốnggắn với các nhóm tuổi, giới tính hoặc dòng họ nhất định, phản ánh cách thức tổ chức xã hội đặc thù của từng tộc người. Thông quanghề truyền thống, tri thức, kỹ năng và chuẩn mực xã hội được truyền dạy giữa các thế hệ, tạo nên tính kế tục và ổn định xã hội trong bối cảnh biến đổi. Nghề truyền thống còn góp phần khẳng định vai trò và vị thế xã hội của nghệ nhân. Họ có tay nghề cao, có tri thức, uy tín và tiếng nói trong cộng đồng. Trong nhiều trường hợp, họ tham gia vào các hoạt động cố kết cộng đồng, giáo dục thế hệ trẻ và bảo tồn giá trị văn hóa. Tôn vinh nghệ nhân phản ánh sự ghi nhận của Nhà nước đối với giá trị xã hội của nghề truyền thống.

Ở góc độ phát triển, nghề truyền thống tạo ra sinh kế tại chỗ, góp phần hạn chế di cư lao động tự phát và giảm áp lực xã hội ở các đô thị, nhất là với lao động nữ và người cao tuổi, giúp họ duy trì vai trò trong gia đình và cộng đồng. Đối với DTTS, nghề truyền thống như một “điểm tựa xã hội”, giúp cộng đồng duy trì sự gắn bó với không gian cư trú và bảo vệ cấu trúc xã hội truyền thống. Điều này phù hợp với các chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển KT-XH gắn với ổn định và bảo đảm an sinh xã hội ở vùng đồng bào DTTS và miền núi (DTTS&MN).

Trong các văn kiện của Đảng về công tác dân tộc và phát triển văn hóa đều yêu cầu phát huy vai trò của cộng đồng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghề truyền thống với tư cách là một thực hành văn hóa - xã hội gắn chặt với cộng đồng, góp phần hiện thực hóa yêu cầu này trên thực tế. Thông qua việc duy trì và phát triển nghề truyền thống, cộng đồng DTTS không chỉ bảo tồn bản sắc mà còn củng cố gắn kết xã hội, nâng cao năng lực tự tổ chức và tham gia chủ động vào quá trình phát triển.

Thứ ba, về kinh tế, nghề truyền thống là nguồn sinh kế quan trọng với cộng đồng DTTS sinh sống ở vùng có điều kiện sản xuất còn nhiều hạn chế. Trong bối cảnh quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp, điều kiện canh tác khó khăn và cơ hội việc làm phi nông nghiệp còn hạn chế, nghề truyền thống tạo ra nguồn thu nhập tại chỗ, góp phần cải thiện đời sống và bảo đảm an sinh cho người dân. Giá trị kinh tế của nghề truyền thống vì vậy không chỉ được đo bằng thu nhập trực tiếp, mà còn thể hiện ở khả năng duy trì sinh kế ổn định và bền vững cho cộng đồng.

Một đặc điểm nổi bật của nghề truyền thống là khả năng tận dụng nguồn lực sẵn có tại địa phương, từ nguyên liệu tự nhiên đến lao động gia đình, giúp giảm chi phí sản xuất, phù hợp với điều kiện của hộ và cộng đồng quy mô nhỏ. Đối với đồng bào DTTS, nghề truyền thống thường được kết hợp linh hoạt với sản xuất nông nghiệp, tạo thành mô hình sinh kế đa dạng, giúp phân tán rủi ro và tăng khả năng thích ứng trước biến động kinh tế - xã hội.

Trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN, phát triển nghề truyền thống được xác định là một trong những giải pháp quan trọng để tạo sinh kế, tăng thu nhập và nâng cao năng lực tự chủ kinh tế của người dân. Khi được hỗ trợ tổ chức sản xuất, đào tạo nghề, tiếp cận thị trường và xây dựng thương hiệu, nghề truyền thống có thể vượt ra khỏi khuôn khổ sinh kế bổ trợ, trở thành nguồn thu nhập chính, đóng góp tích cực vào kinh tế hộ gia đình và kinh tế địa phương. Từ góc nhìn đó, nghề truyền thống không chỉ là phương thức mưu sinh truyền thống, mà còn là nguồn lực kinh tế quan trọng nếu được tổ chức, đầu tư và phát huy đúng hướng.

4. Vai trò của nghề truyền thống trong phát triển công nghiệp văn hóa

Nhìn nhận đầy đủ các giá trị của nghề truyền thống là cơ sở cần thiết để xây dựng các chính sách phát triển công nghiệp văn hóa gắn với xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững ở vùng đồng bào DTTS&MN.

Trong công nghiệp văn hóa, giá trị kinh tế của nghề truyền thống không dừng lại ở sản phẩm thủ công đơn lẻ mà còn được mở rộng thông qua việc tham gia vào chuỗi giá trị văn hóa với tư cách là nguồn tài nguyên quan trọng cho phát triển du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng. Kết hợp nghề truyền thống với du lịch văn hóa, thiết kế sáng tạo và các ngành dịch vụ liên quan sẽ tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, góp phần nâng cao thu nhập cho người làm nghề và tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

Trong phát triển công nghiệp văn hóa, nghề truyền thống của đồng bào DTTS như một nguồn “nguyên liệu văn hóa” đặc thù. Các giá trị thẩm mỹ, tri thức địa phương và câu chuyện văn hóa gắn với nghề truyền thống là nền tảng để sáng tạo các sản phẩm văn hóa có chiều sâu, khác biệt và mang dấu ấn bản sắc Việt Nam. Nghề truyền thống góp phần hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa có khả năng cạnh tranh trong bối cảnh thị trường ngày càng coi trọng yếu tố văn hóa, thủ công và tính độc bản. Từ các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, thời trang, quà lưu niệm đến các trải nghiệm văn hóa, nghề truyền thống đều có thể tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa. Nghề truyền thống còn đóng vai trò cầu nối giữa bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế. Thông qua công nghiệp văn hóa, các giá trị truyền thống không chỉ được “giữ gìn” mà còn được “kích hoạt”, “tái sinh” trong đời sống đương đại, tạo ra giá trị gia tăng và nguồn lực tái đầu tư cho bảo tồn.

Ở góc độ xã hội, phát triển nghề truyền thống trong công nghiệp văn hóa góp phần nâng cao vị thế chủ thể của đồng bào DTTS trong tiến trình phát triển. Khi tham gia vào chuỗi giá trị văn hóa, cộng đồng không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà trở thành người sáng tạo, người làm chủ sản phẩm văn hóa của mình.

Việt Nam là quốc gia có 53 DTTS nên rất phong phú về loại hình nghề truyền thống trong các tộc người. Đây là lợi thế lớn để phát triển các sản phẩm CNVH đa dạng, giàu bản sắc. Nhiều nghề truyền thống vẫn còn được lưu giữ tương đối nguyên vẹn trong cộng đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phục dựng, bảo tồn và phát huy. Nguồn lực con người, đặc biệt là đội ngũ nghệ nhân, là một tiềm năng quan trọng. Họ không chỉ nắm giữ kỹ thuật mà còn là “kho tri thức sống” về văn hóa dân tộc. Nếu được hỗ trợ, tôn vinh và kết nối với các lực lượng sáng tạo đương đại, nghệ nhân có thể trở thành hạt nhân trong phát triển nghề truyền thống gắn với công nghiệp văn hóa.

Ngoài ra, nghề truyền thống gắn chặt với không gian văn hóa, lễ hội và du lịch. Sự kết hợp giữa sản xuất thủ công, trình diễn nghề, trải nghiệm văn hóa và du lịch cộng đồng mở ra nhiều mô hình phát triển mới, phù hợp với xu hướng thụ hưởng văn hóa hiện nay. Về thị trường, nhu cầu đối với sản phẩm thủ công, sản phẩm văn hóa địa phương ngày càng tăng, cả trong nước và quốc tế. Đây là dư địa lớn để nghề truyền thống của đồng bào DTTS tham gia sâu hơn vào thị trường công nghiệp văn hóa, nếu được tổ chức và định hướng đúng.

5. Phát huy nghề truyền thống trong phát triển công nghiệp văn hóa

Để phát huy hiệu quả nghề truyền thống của đồng bào DTTS trong phát triển công nghiệp văn hóa.

Thứ nhất, cần hoàn thiện thể chế, chính sách theo hướng đồng bộ, dài hạn. Các chính sách cần coi nghề truyền thống không chỉ là đối tượng bảo tồn mà là nguồn lực phát triển, gắn với chiến lược công nghiệp văn hóa quốc gia.

Thứ hai, cần đặt cộng đồng DTTS vào vị trí chủ thể sáng tạo. Mọi mô hình phát triển nghề truyền thống phải bảo đảm quyền tham gia, quyền quyết định và quyền hưởng lợi của cộng đồng; Tôn trọng tri thức địa phương và vai trò của nghệ nhân.

Thứ ba, cần kết hợp hài hòa giữa bảo tồn giá trị truyền thống và đổi mới sáng tạo. Ứng dụng thiết kế, công nghệ mới phải dựa trên nền tảng giá trị văn hóa cốt lõi, tránh làm biến dạng hoặc giản lược bản sắc.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực là yếu tố then chốt. Cần có chính sách đào tạo, truyền nghề, tôn vinh nghệ nhân và xây dựng đội ngũ trung gian chuyên nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa.

Cuối cùng, gắn phát triển nghề truyền thống với du lịch văn hóa và phát triển bền vững. Các mô hình phát triển phải bảo đảm hài hòa giữa lợi ích kinh tế, bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường sinh thái.

6. Kết luận

Nghề truyền thống của đồng bào DTTS là nguồn lực văn hóa đặc sắc, có giá trị nhiều mặt đối với phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Phát huy nghề truyền thống góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và mở ra hướng phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với điều kiện và lợi thế của đồng bào DTTS.

Trong bối cảnh hiện nay, cần tiếp cận nghề truyền thống là một cấu phần quan trọng của CNVH, gắn với thị trường nhưng không tách rời giá trị văn hóa cốt lõi. Điều này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của Nhà nước, cộng đồng, doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo. Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách và nhân rộng các mô hình phát triển hiệu quả sẽ góp phần phát huy nghề truyền thống của đồng bào DTTS như một nguồn lực nội sinh quan trọng, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển bền vững đất nước./.

* Viện Sáng tạo và Chuyển đổi số

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2014), Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

2. Bộ Chính trị (2019). Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24 NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới. 3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2025), Quyết định số 3399/QĐ-BVHTTDL ngày 23/9/2025 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035, giai đoạn I từ năm 2025 đến năm 2030.

4. Chính phủ (2018), Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 về phát triển ngành nghề nông thôn.

5. Thủ tướng Chính phủ (2016), Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/9/2016 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

6. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: 2021 - 2025.