Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Phát triển kinh tế lâm nghiệp từ nguồn lực Chương trình mục tiêu quốc gia

Trần Quỳnh - 16:26, 15/10/2026

(DTTG) - Phát triển kinh tế lâm nghiệp không chỉ tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi mà còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Những kết quả từ Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 (Chương trình MTQG 1719) đang tạo nền tảng quan trọng để các địa phương tiếp tục phát huy tiềm năng kinh tế rừng trong giai đoạn 2026-2030 gắn với việc triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình MTQG 417).

Không gian sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn gắn chặt với rừng
Không gian sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn gắn liền với rừng

Giai đoạn 2021-2025, Chương trình Mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững và Tiểu dự án 1 - Phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân thuộc Dự án 3 Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình MTQG 1719) đã được triển khai đồng bộ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.

Thông qua các chính sách hỗ trợ, người dân tại các xã khu vực II, khu vực III của tỉnh đã từng bước được thụ hưởng những lợi ích thiết thực từ phát triển kinh tế lâm nghiệp. Quan trọng hơn, nhận thức về nghề rừng đối với cộng đồng đã có những chuyển biến tích cực; giá trị kinh tế của rừng đã tạo điều kiện để người dân gắn bó lâu dài với rừng.

Theo báo cáo của UBND tỉnh Lạng Sơn, trong giai đoạn 2021-2025, giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân hằng năm đạt trên 4.000 tỷ đồng; sản lượng lâm sản ngoài gỗ đạt những kết quả đáng ghi nhận với 208.336 tấn nhựa thông, 59.987 tấn hoa hồi, 5.396 tấn vỏ quế và 23.616 tấn hạt sở. Giá trị thu được từ các sản phẩm này khoảng 8,627 tỷ đồng, trong đó nhựa thông đạt 6,25 tỷ đồng, hoa hồi 1,8 tỷ đồng, vỏ quế 270 triệu đồng và hạt sở 307 triệu đồng.

Cùng với lâm sản ngoài gỗ, hoạt động khai thác và sản xuất giống cây lâm nghiệp tiếp tục đóng góp quan trọng vào kinh tế địa phương. Tổng sản lượng gỗ rừng trồng khai thác trong giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 2.110.731 m³, tương đương giá trị khoảng 2.532,877 tỷ đồng. Sản xuất giống cây lâm nghiệp đạt khoảng 1.657 triệu cây, với giá trị thu được khoảng 1.326,128 tỷ đồng.

Hoa hồi là lâm sản ngoài gỗ có giá trị đối với nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn
Hoa hồi là lâm sản ngoài gỗ có giá trị đối với nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn

Những kết quả trên cho thấy khi chính sách hỗ trợ được triển khai phù hợp với điều kiện thực tiễn, kinh tế lâm nghiệp có thể trở thành động lực quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng hàng hóa tập trung, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và giảm nghèo cho người dân. Đáng chú ý, quá trình phát triển kinh tế rừng tại Lạng Sơn còn gắn với việc duy trì, mở rộng diện tích rừng, đưa tỷ lệ che phủ rừng từ 63,4% năm 2021 lên 64,1% năm 2024.

Thực tiễn ở Lạng Sơn là một minh chứng cho hiệu quả của Tiểu dự án 1, Dự án 3 thuộc Chương trình MTQG 1719 trên phạm vi cả nước. Theo báo cáo của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Tiểu dự án đã hỗ trợ khoán bảo vệ rừng trên 3,7 triệu ha, với hơn 226 nghìn hộ được hưởng lợi, thu nhập bình quân khoảng 1,5 triệu đồng/hộ; hỗ trợ bảo vệ rừng trên 2,7 triệu ha cho hơn 79 nghìn hộ, với thu nhập bình quân khoảng 2,6 triệu đồng/hộ.

Nguồn lực từ Tiểu dự án còn hỗ trợ khoanh nuôi tái sinh 4.178 ha rừng, trồng 1.095 ha rừng phòng hộ và 26.654 ha rừng sản xuất; đồng thời hỗ trợ 12.757 tấn gạo cho các hộ tham gia bảo vệ và phát triển rừng. Những kết quả này phản ánh tác động trực tiếp của chính sách đối với sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời góp phần quan trọng duy trì ổn định tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc ở mức khoảng 42,02% trong giai đoạn 2021-2025.

Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nước ta hiện có trên 14,4 triệu ha rừng- vùng giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với môi trường sinh thái và phát triển kinh tế - xã hội. Đây là những vùng đầu nguồn sinh thủy, gắn với nhiều công trình thủy điện lớn của quốc gia như Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Tuyên Quang, Trung Sơn (Thanh Hóa), Hàm Thuận - Đa Mi (Lâm Đồng), Yaly (Gia Lai), Ba Hạ (Đắk Lắk)… Không chỉ góp phần bảo đảm nguồn cung điện, những cánh rừng đầu nguồn còn giữ vai trò điều tiết, cung cấp nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt của các vùng hạ du, đồng bằng.

Mặt khác, sinh kế của phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hiện vẫn gắn chặt với sản xuất nông, lâm nghiệp. Kết quả điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2024 cho thấy, tỷ trọng lao động người dân tộc thiểu số có việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 63,5%, cao hơn các khu vực công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ và cao hơn đáng kể so với tỷ trọng tương ứng trong cơ cấu lao động có việc làm của cả nước.

Tuy nhiên, một nghịch lý là trong khi sinh kế phụ thuộc chủ yếu vào nông, lâm nghiệp nhưng tình trạng thiếu đất hoặc không có đất sản xuất vẫn diễn ra phổ biến tại nhiều địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nếu không có những cơ chế, chính sách hỗ trợ kịp thời để chuyển đổi cơ cấu lao động, đa dạng hóa sinh kế và khai thác hiệu quả tiềm năng tài nguyên rừng, việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững tại khu vực này sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn.

Chính vì vậy, phát triển kinh tế lâm nghiệp cần được nhìn nhận không chỉ từ yêu cầu bảo vệ tài nguyên rừng mà còn từ nhiệm vụ tạo việc làm, nâng cao thu nhập và bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân. Đặc biệt, phát triển kinh tế dưới tán rừng gắn với bảo vệ rừng bền vững là hướng đi có nhiều tiềm năng, vừa khai thác hợp lý lợi thế tự nhiên, vừa góp phần duy trì tỷ lệ che phủ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.

Trên tinh thần đó, Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình MTQG 417) đã kế thừa những kết quả đạt được của Tiểu dự án 1, Dự án 3 của Chương trình MTQG 1719. Từ đó, tiếp tục triển khai nội dung phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân trong giai đoạn 2026-2030.

Theo Thông tư số 23/2026/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nguồn ngân sách nhà nước thuộc Chương trình MTQG 417 được sử dụng để hỗ trợ khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung; trồng rừng sản xuất và phát triển lâm sản ngoài gỗ; trồng rừng phòng hộ; trợ cấp gạo bảo vệ và phát triển rừng; xây dựng các mô hình phát triển kinh tế lâm nghiệp ở cộng đồng và hộ gia đình.

Những chính sách này tiếp tục tạo điều kiện để người dân sống gần rừng có thêm nguồn lực phát triển sản xuất, cải thiện sinh kế và tham gia tích cực hơn vào công tác bảo vệ, phát triển rừng. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu bảo vệ tài nguyên rừng với nhu cầu phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân.

Hàng trăm lao động ở xã miền núi Quang Đồng, tỉnh Nghệ An có việc làm ổn định nhờ kinh tế rừng
Hàng trăm lao động ở xã miền núi Quang Đồng, tỉnh Nghệ An có việc làm ổn định nhờ kinh tế rừng

Ưu tiên phát triển kinh tế lâm nghiệp tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là lựa chọn có cơ sở thực tiễn, bởi phần lớn diện tích rừng của Việt Nam tập trung tại khu vực này. Trong thời gian tới, sản xuất lâm nghiệp vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu sinh kế của người dân. Vì vậy, tạo điều kiện để người dân có thu nhập ổn định từ bảo vệ, khai thác hợp lý và phát triển rừng cần tiếp tục được xác định là một nhiệm vụ trọng yếu trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Có thể khẳng định, nguồn lực từ Chương trình MTQG 1719 giai đoạn 2021-2025 và Chương trình MTQG 417 giai đoạn 2026-2030 có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời tạo nền tảng để phát triển ngành lâm nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững. Đây cũng là một trong những điều kiện góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất, chế biến và thương mại lâm sản hàng đầu thế giới và đóng góp ngày càng lớn cho nền kinh tế đất nước.

Phát triển kinh tế lâm nghiệp cũng sẽ góp phần xây dựng nông thôn mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng giàu đẹp, văn minh; thúc đẩy kinh tế xanh dựa trên lợi thế tài nguyên rừng; bảo tồn không gian sinh tồn, gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số và củng cố quốc phòng, an ninh trong giai đoạn mới.