Hệ thống hạ tầng viễn thông vùng dân tộc thiểu số đã được chú trọng đầu tư trong những năm gần đâyBước chuyển mình từ những “gian hàng ảo”
Những năm gần đây, cùng với quá trình chuyển đổi số quốc gia, kinh tế số đã từng bước lan tỏa tới nhiều bản làng vùng sâu, vùng xa. Hệ thống hạ tầng viễn thông được đầu tư mạnh mẽ; mạng 4G, 5G và internet ngày càng phủ rộng đến các địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Sự phát triển của các nền tảng thương mại điện tử, thanh toán số và mạng xã hội đã mở ra cơ hội mới cho người dân tiếp cận thị trường rộng lớn hơn. Nhiều sản phẩm đặc sản vùng cao, như: chè Shan tuyết, mật ong rừng, thảo dược, dệt thổ cẩm hay các sản phẩm OCOP,… đã được giới thiệu, quảng bá và tiêu thụ thông qua môi trường số. Tại nhiều tỉnh như Lào Cai, Sơn La, Tuyên Quang, Đắk Lắk, Gia Lai, Quảng Ngãi,… không ít hợp tác xã và hộ sản xuất đã sử dụng nền tảng số để kết nối khách hàng, quảng bá du lịch cộng đồng và phát triển thương hiệu địa phương. Thực tế cho thấy, kinh tế số đang giúp người dân vùng cao vượt qua những rào cản về khoảng cách địa lý. Nếu trước đây sản phẩm muốn đến được thị trường phải qua nhiều khâu trung gian thì nay người dân có thể tiếp cận trực tiếp khách hàng thông qua điện thoại thông minh và các nền tảng trực tuyến.
Không chỉ trong lĩnh vực thương mại, kinh tế số còn tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận tri thức, khoa học kỹ thuật và các dịch vụ công trực tuyến. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao năng suất lao động và chất lượng cuộc sống.
Việc chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện về công nghệ mà còn là câu chuyện về con ngườiNhững “điểm nghẽn” cần khơi thông
Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội lớn, quá trình phát triển kinh tế số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn đối mặt với những điểm nghẽn.
Trước hết, là khoảng cách về kỹ năng số và thói quen. Nhiều người dân, đặc biệt là lao động lớn tuổi, còn hạn chế trong việc sử dụng công nghệ, giao dịch trực tuyến hay khai thác các nền tảng số phục vụ sản xuất kinh doanh. Thói quen sản xuất thủ công “chân lấm tay bùn” và giao dịch bằng tiền mặt,... được xem là thách thức lớn nhất trong việc phát triển kinh tế số vùng đồng bào DTTS, miền núi.
Ngoài ra, chất lượng hạ tầng số ở một số vùng sâu, vùng biên giới vẫn chưa đồng đều. Một số khu vực còn gặp khó khăn về sóng viễn thông, điện lưới và thiết bị công nghệ, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ số.
Bên cạnh đó, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết chuỗi giá trị và năng lực quản trị còn hạn chế cũng là những rào cản đối với quá trình chuyển đổi số trong sản xuất và kinh doanh của đồng bào dân tộc thiểu số.
Trao đổi về vấn đề này, TS. Trần Thị Hằng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cho rằng: “Kinh tế số đang tạo ra cơ hội rất lớn để vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi rút ngắn khoảng cách phát triển với các khu vực khác. Việc chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện về công nghệ mà còn là câu chuyện về con người.
Muốn phát triển kinh tế số thành công, điều quan trọng nhất là nâng cao năng lực số cho người dân. Đồng thời, cần tiếp tục đầu tư hạ tầng số, hệ sinh thái số phù hợp, tăng cường đào tạo kỹ năng số cho dân tộc thiểu số, hỗ trợ các hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ tiếp cận các nền tảng thương mại điện tử và thanh toán số.
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh thực hiện các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đứng trước cơ hội lịch sử để bứt phá phát triển. Nếu được đầu tư đồng bộ về hạ tầng, kỹ năng và cơ chế hỗ trợ phù hợp, kinh tế số sẽ trở thành động lực quan trọng giúp nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.
Kinh tế số không chỉ mở ra những thị trường mới mà còn mở ra những chân trời phát triển mới cho đồng bào dân tộc thiểu số. Khi công nghệ đến được với từng bản làng, từng hộ dân, đó cũng là lúc những tiềm năng của vùng cao được đánh thức mạnh mẽ hơn bao giờ hết, góp phần xây dựng một tương lai phát triển bao trùm, bền vững và giàu bản sắc.