Công tác chuyển đổi số đang được triển khai trong các cơ sở giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi tỉnh Quảng NgãiTrao đổi với báo chí, ông Xiêng Thanh Phúc, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Quảng Ngãi chia sẻ: Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống, chuyển đổi số không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển của mỗi địa phương. Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 78/KH-UBND triển khai thực hiện Đề án Tăng cường chuyển đổi số lĩnh vực công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2030, nhằm quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện cụ thể và hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại Quyết định số 1087/QĐ-TTg ngày 01/10/2024của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án “Tăng cường chuyển đổi số lĩnh vực công tác dân tộc đến năm 2030” và các nghị quyết, quyết định của Đảng và Chính phủ về chuyển đổi số quốc gia... Đối với tỉnh Quảng Ngãi, nơi vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn chiếm tỷ lệ lớn về diện tích với các địa bàn xã, phường, như: Ba Tơ, Sơn Hà, Sơn Tây, Minh Long, Trà Bồng, Kon Tum, Đắk Cấm, Đắk Bla, Ngọk Bay, Ia Chim và các xã vùng cao, miền núi của tỉnh Quảng Ngãi, việc chuyển đổi số mang ý nghĩa đặc biệt. Đây không chỉ là quá trình ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt còn là hành trình mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, dịch vụ công và thị trường cho người dân, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi và miền xuôi.
Thực tế cho thấy, trong nhiều năm, địa hình chia cắt, hạ tầng còn hạn chế và điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn đã khiến việc tiếp cận thông tin, giáo dục, khoa học - kỹ thuật của người dân vùng cao, miền núi của tỉnh Quảng Ngãi gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Khoảng cách địa lý cũng đồng nghĩa với khoảng cách về cơ hội học tập, tiếp cận dịch vụ và phát triển sinh kế. Chính vì vậy, chuyển đổi số được tỉnh xác định là một trong những giải pháp quan trọng để tạo đột phá trong phát triển, đưa tri thức đến với từng thôn, bản thay vì chỉ tập trung ở khu vực đô thị.
Những năm gần đây, tỉnh Quảng Ngãi đã tập trung đầu tư phát triển hạ tầng số, mở rộng vùng phủ sóng viễn thông, internet băng rộng và từng bước hoàn thiện nền tảng chính quyền số. Song song với đó là việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ của Chương trình chuyển đổi số quốc gia và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đây là nền tảng quan trọng để công nghệ số từng bước đi vào từng lĩnh vực của đời sống, từ giáo dục, y tế, hành chính công đến sản xuất nông nghiệp.
Và một trong những kết quả rõ nét nhất là lĩnh vực giáo dục. Nhiều trường học ở vùng cao, miền núi của tỉnh Quảng Ngãi đã được đầu tư đường truyền internet, thiết bị công nghệ, bảng tương tác và học liệu số. Việc ứng dụng bài giảng điện tử, lớp học trực tuyến, kho học liệu mở và phần mềm quản lý nhà trường giúp học sinh ở vùng sâu, vùng xa,… có thêm cơ hội tiếp cận nguồn tri thức phong phú, giảm dần sự chênh lệch về điều kiện học tập giữa miền núi và đồng bằng. Giáo viên cũng có điều kiện tham gia các lớp bồi dưỡng trực tuyến, cập nhật phương pháp giảng dạy mới mà không phải di chuyển xa như trước.
Đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, chuyển đổi số còn mở ra cơ hội tiếp cận tri thức sản xuất. Thông qua điện thoại thông minh và các nền tảng số, người dân có thể tìm hiểu kỹ thuật trồng rừng, chăm sóc cây quế, keo, cây dược liệu, chăn nuôi gia súc, phòng chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi cũng như cập nhật thông tin thị trường. Những kiến thức vốn trước đây chỉ có thể tiếp cận qua các lớp tập huấn nay đã hiện diện ngay trên màn hình điện thoại, giúp người dân chủ động hơn trong sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Không dừng lại ở lĩnh vực nông nghiệp, chuyển đổi số còn tạo điều kiện để các sản phẩm đặc trưng của vùng cao Quảng Ngãi từng bước tham gia thị trường số. Các sản phẩm như quế Trà Bồng, mật ong rừng, dược liệu địa phương, sản phẩm thủ công truyền thống... được quảng bá thông qua sàn thương mại điện tử, mạng xã hội và các nền tảng xúc tiến thương mại. Nhờ đó, khoảng cách giữa người sản xuất và người tiêu dùng được rút ngắn, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Đặc biệt là quá trình xây dựng chính quyền số. Nhiều thủ tục hành chính đã được cung cấp trực tuyến, giúp người dân vùng cao giảm thời gian và chi phí đi lại. Thay vì phải vượt hàng chục cây số đến trung tâm xã để giải quyết thủ tục, nhiều dịch vụ công nay có thể được thực hiện trên môi trường số hoặc thông qua bộ phận một cửa với sự hỗ trợ của cán bộ cơ sở. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng phục vụ người dân, đồng thời còn tăng tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Vì vậy, việc xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu số đã và đang tạo nền tảng quan trọng cho công tác quản lý vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Dữ liệu về dân cư, giáo dục, y tế, đất đai, an sinh xã hội và các chương trình hỗ trợ được kết nối, giúp việc xây dựng chính sách ngày càng sát thực tiễn, đồng thời nâng cao hiệu quả triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia. Đây cũng là hướng đi phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính và quản trị dựa trên dữ liệu.
Tuy nhiên, chuyển đổi số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở Quảng Ngãi vẫn còn nhiều thách thức. Hạ tầng viễn thông ở một số khu vực còn chưa đồng bộ; tỷ lệ người dân có kỹ năng số chưa cao; khả năng sử dụng dịch vụ số của một bộ phận đồng bào, nhất là người cao tuổi, còn hạn chế. Bên cạnh đó, việc phát triển nội dung số bằng ngôn ngữ và hình thức phù hợp với đặc điểm văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn cần tiếp tục được quan tâm.
Vùng dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi đã có bước phát triển tích cực về đời sống kinh tế , văn hóa, xã hộiPhó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Sửu, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: Để chuyển đổi số thực sự trở thành động lực phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cần đặt người dân vào vị trí trung tâm. Công nghệ chỉ phát huy giá trị khi người dân biết sử dụng, có khả năng khai thác và nhìn thấy lợi ích thiết thực trong đời sống hằng ngày. Vì vậy, cùng với đầu tư hạ tầng, tỉnh Quảng Ngãi cần tiếp tục đẩy mạnh phổ cập kỹ năng số, phát triển các tổ công nghệ số cộng đồng, xây dựng học liệu số dễ tiếp cận và tăng cường hướng dẫn người dân sử dụng các nền tảng số phục vụ học tập, sản xuất và giao dịch hành chính.
Một giải pháp khác không kém phần quan trọng là gắn chuyển đổi số với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc gồm: Hrê, Cor, Ca Dong, Bana, Gia-rai, Gié Triêng, Xơ Đăng, Brâu, Rơ-măm,... Việc số hóa di sản văn hóa, tiếng nói, chữ viết, lễ hội, làn điệu dân ca, nghề thủ công truyền thống và tri thức địa phương không chỉ góp phần lưu giữ các giá trị văn hóa, đồng thời còn tạo nguồn dữ liệu quý phục vụ nghiên cứu, giáo dục và phát triển du lịch văn hóa. Khi văn hóa được đưa lên không gian số, giá trị của di sản sẽ được lan tỏa rộng hơn, đồng thời tạo thêm sinh kế cho cộng đồng địa phương.
Trong xu thế phát triển hiện nay, khoảng cách giữa các vùng miền không còn được đo bằng số kilômét đường núi mà bằng khả năng tiếp cận tri thức và công nghệ. Chính vì vậy, mỗi lớp học có internet, mỗi hộ dân biết sử dụng điện thoại thông minh để học kỹ thuật sản xuất, mỗi sản phẩm OCOP được đưa lên sàn thương mại điện tử hay mỗi thủ tục hành chính được giải quyết trực tuyến đều là những bước tiến cụ thể trên hành trình phát triển của vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Vì vậy, hành trình chuyển đổi số ở tỉnh Quảng Ngãi vẫn còn nhiều việc phải làm, nhưng những kết quả bước đầu cho thấy hướng đi đúng đắn của địa phương trong việc lấy công nghệ làm động lực, lấy tri thức làm nền tảng và lấy người dân làm trung tâm. Khi công nghệ số đến được với từng bản làng, từng trường học và từng hộ gia đình, chuyển đổi số sẽ không chỉ là câu chuyện của kỹ thuật mà sẽ trở thành chìa khóa mở ra cơ hội học tập, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đó cũng là con đường để tỉnh Quảng Ngãi thu hẹp khoảng cách phát triển, phát huy nguồn lực con người và xây dựng một vùng cao, miền núi phát triển bao trùm, bền vững trong kỷ nguyên số./.