Dân gian còn lưu truyền bún Song Thằn từng là đặc sản tiến vua Bún Song Thằn gắn với người làng An Thái đã hơn hai trăm năm và được nhắc đến trong câu ca quen thuộc của xứ Nẫu: “Nón ngựa Gò Găng/Bún Song Thằn An Thái”. “Song” có nghĩa là hai, còn “thằn” có nghĩa là dây nên mới có tên gọi là Song Thằn gắn với cách người thợ tạo hình sợi bún. Dân gian còn lưu truyền đây từng là đặc sản tiến vua, bởi bún làm rất công phu, sản lượng ít và giá trị dinh dưỡng cao.
Nguồn gốc bún Song Thằn được cho là do người Hoa di cư đến Bình Định mang theo nghề làm bột đậu xanh và nghề làm bún. Từ đó, công thức bún đậu xanh ra đời. Sợi bún khô có màu trắng đục, thoáng nhìn tưởng sợi miến nhưng sáng hơn và khi nấu chín có độ dai và trong hơn.
Nguyên liệu làm bún được người thợ chọn mua từ vùng đất An Khê hoặc Vĩnh Thạnh, vì chỉ những nơi này mới trồng được những hạt đậu xanh tốt nhất. Đậu đem ngâm đủ 24h và đến 2h sáng, người thợ bắt đầu dậy để xay. Quy trình xay bắt buộc phải thực hiện vào ban đêm, vì nếu xay vào ban ngày trong tiết trời nắng nóng, bột sẽ bị hỏng. Bột khi xay xong phải trải qua hàng chục lần gạn lọc để chắt lấy lớp tinh bột trắng muốt, tinh túy nhất ở dưới đáy. Tinh bột phơi nắng cho thật khô, đem nhào kỹ, rồi cho vào chiếc ống có đục lỗ, ép xuống nồi nước đang sôi. Sợi bún đi qua các lỗ nhỏ, gặp nước nóng và định hình.
Khi bún chín, người thợ vớt ra, làm nguội bằng nước lạnh. Theo bí quyết truyền thống, nước dùng để làm bún Song Thằn phải được lấy từ mạch nước của dòng sông Kôn thì mới ngon. Sợi bún sau đó được sắp thành hình vuông trên những tấm phên lớn và đem phơi khô dưới nắng. Một tư liệu về làng nghề từng ghi nhận thời tiết lý tưởng để phơi bún Song Thằn là những tháng có nắng, gió thuận; sân phơi truyền thống nằm ngay trên bãi bồi ven sông Kôn. Chính nắng và gió nơi đây góp phần tạo nên chất lượng riêng của sản phẩm.
Cứ khoảng 5kg đậu xanh hạt mới chắt ra được 1kg bún khô thành phẩm. Do hao nguyên liệu và có giá trị dinh dưỡng cao nên giá thành bún Song Thằn đắt hơn bún gạo hay miến thường cũng là vì thế. Bún Song Thằn có thể xào với tôm, mực, thịt bò, lòng gà, cũng có thể nấu cùng thịt, cá, tôm trong các món nước, dù đun nước sôi bao lâu sợi bún vẫn dai. Cái thú vị của món ăn này là càng ăn càng thấy nó khác bún gạo. Sợi bún không mềm theo kiểu thông thường mà có độ “sật”, trong và dai, giữ được hình dạng tốt sau khi chế biến.
Bún Song Thằn khi nấu lên có độ trong, dai, giòn, được người tiêu dùng rất ưa chuộngGần đây, số cơ sở chuyên duy trì dòng bún đậu xanh gia truyền đã giảm xuống còn rất ít. Cả làng mấy chục hộ nhưng nay chỉ còn vài ba nhà trụ lại với nghề. Một nghề thủ công càng cầu kỳ, càng phụ thuộc vào thời tiết thì càng khó thu hút người lao động. Mặt khác, làm bún đòi hỏi phải dậy sớm, qua nhiều công đoạn, thành ra chính những điều khiến bún Song Thằn trở nên đặc biệt lại cũng đang khiến nghề khó tồn tại.
Từ 1/7/2025, làng An Thái thuộc phường Bình Định, tỉnh Gia Lai. Sự thay đổi đơn vị hành chính mở ra một không gian phát triển mới. Năm nay, tỉnh Gia Lai đăng cai Năm Du lịch quốc gia với chủ đề “Gia Lai - Đại ngàn chạm biển xanh”. Trong bức tranh du lịch trải dài từ vùng rừng núi đến biển cả bao la, những đặc sản như bún Song Thằn hoàn toàn có thể trở thành một mảnh ghép đặc sắc mà Gia Lai muốn quảng bá tới du khách trong và ngoài nước đến với địa phương trong Năm Du lịch quốc gia.
Du khách tới Gia Lai không nhất thiết chỉ tìm những thắng cảnh nổi tiếng. Họ muốn biết người địa phương ăn gì, làm gì, sống như thế nào; muốn nhìn tận mắt một sản phẩm được làm ra sao và mang về một món quà có câu chuyện đặc sắc phía sau. Bún Song Thằn hội đủ những yếu tố đó. Nó có lịch sử, có làng nghề, có chất lượng đẳng cấp, có câu chuyện về những người giữ nghề, có nắng gió bên dòng sông Kôn… Một tour trải nghiệm có thể bắt đầu từ lúc sáng sớm, khi làng bún vừa thức dậy. Du khách theo chân người thợ xem đậu được xay, bột được lọc, bún được ép qua khuôn, rồi kết thúc bằng một đĩa bún Song Thằn xào nóng hổi. Đó sẽ là cách để một sản phẩm làng nghề bước vào du lịch một cách thú vị và khó quên.