Nhà nước đã xây dựng và hoàn thiện các chính sách việc làm và đào tạo nghề nhằm nâng cao cơ hội việc làm cho đồng bảo dân tộc thiểu sốTừ khóa: Thị trường lao động; Dịch vụ việc làm; Dân tộc thiểu số; Miền núi.
1. Đặt vấn đề
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) có lực lượng lao động dồi dào, tỷ lệ tham gia lao động ở nhiều nhóm dân tộc đạt trên 70%. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn chiếm trên 80%, lao động tập trung chủ yếu trong khu vực nông, lâm nghiệp (trên 60%). Đáng quan tâm là tình trạng thiếu lao động phù hợp với yêu cầu phát triển; lao động thiếu kỹ năng nghề, tác phong công nghiệp, ngoại ngữ, kỹ năng số, lao động phi chính thức còn lớn... dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực, khả năng tiếp cận thị trường lao động, cơ hội việc làm, khả năng tự tạo việc làm tại chỗ và thu nhập của lao động dân tộc thiểu số (DTTS) vẫn còn hạn chế.
Giai đoạn 2026 - 2035, đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững, bao trùm và tự cường, phấn đấu đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, tạo nền tảng để đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp sẽ làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu việc làm và yêu cầu đối với nguồn nhân lực.
Cùng với đó, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, chuyển đổi xanh và hội nhập kinh tế quốc tế đang làm thay đổi phương thức sản xuất, cơ cấu việc làm và yêu cầu về kỹ năng của người lao động. Nền kinh tế sẽ ngày càng dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo, khu vực kinh tế tư nhân và khả năng tham gia chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu. Trong bối cảnh đó, thị trường lao động Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển theo hướng hiện đại, linh hoạt và hội nhập; nhu cầu đối với lao động có kỹ năng nghề, kỹ năng số và khả năng thích ứng ngày càng tăng. Những xu hướng này vừa mở ra cơ hội, vừa đặt ra thách thức đối với vùng đồng bào DTTS&MN, đòi hỏi phải có những giải pháp phát triển các chủ thể tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường kết nối lao động nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển và bảo đảm phát triển bao trùm.
2. Thực trạng tạo việc làm và kết nối thị trường lao động ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
2.1. Kết quả đạt được
Việc làm là vấn đề thiết yếu của phần đông dân số, không chỉ đem lại thu nhập mà còn nhiều lợi ích khác như giảm nghèo, cân bằng cuộc sống, góp phần tạo dựng những chuyển đổi tích cực trong xã hội. 10 năm trở lại đây, Nhà nước đã xây dựng và hoàn thiện các chính sách việc làm và đào tạo nghề nhằm nâng cao cơ hội việc làm cho đồng bào DTTS. 18 trường chuyên biệt công lập được lựa chọn và được đầu tư 187 tỷ đồng để đào tạo nội trú cho người DTTS, tập trung vào 65 lượt ngành nghề trọng điểm. Các cơ sở dạy nghề chuyển từ đào tạo theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo yêu cầu của doanh nghiệp và nhu cầu của người lao động để gia tăng cơ hội việc làm. Giai đoạn 2016-2025, khoảng 1 triệu lao động nông thôn người DTTS đã được học nghề, trong đó gần 600 nghìn người được hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp. Trên 76% người DTTS học nghề có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ với năng suất và thu nhập cao hơn.
Đối với chính sách hỗ trợ việc làm, Nhà nước đã triển khai các chương trình, đề án hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động DTTS, lao động ở vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Giai đoạn 2021-2025, Tiểu dự án 3 thuộc Dự án 5 trong Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN đã hỗ trợ 1.901 mô hình đào tạo nghề với 115.575 người lao động tham gia; 5.385 người lao động được hỗ trợ tham gia khóa đào tạo bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ và các thủ tục đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; 37.718 người lao động được hỗ trợ giới thiệu, tư vấn về đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Các bộ, ngành, địa phương đã chủ động theo dõi nhu cầu tuyển dụng, tổ chức giao dịch việc làm trực tuyến và cung ứng lao động phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp, ưu tiên nhóm lao động người DTTS và người lao động ở vùng sâu, vùng xa. Riêng đề án xuất khẩu lao động đã hỗ trợ đưa trên 10.000 lao động tại các huyện nghèo đi làm việc ở nước ngoài, trong đó 90% là lao động hộ nghèo DTTS. Quỹ quốc gia về việc làm và nguồn tín dụng ưu đãi đã hỗ trợ tạo, duy trì, mở rộng việc làm cho hơn 621 nghìn lao động, trong đó có 65.168 lao động DTTS
2.2. Một số tồn tại
(i) Khả năng tạo việc làm tại chỗ còn hạn chế. Kết quả điều tra 53 DTTS năm 2024 cho thấy tỷ lệ lao động có việc làm trên tổng số người DTTS từ 15 tuổi trở lên đạt 68,7%, tương đương 7,2 triệu người. Phần lớn lao động DTTS có việc làm ở nhóm tuổi từ 15-54 (86,6%) và chủ yếu cư trú ở nông thôn (87,1%). Tỷ trọng người DTTS có việc làm trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 63,5%, chiếm tỷ trọng cao nhất so với khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ; đồng thời cao hơn nhiều so với tỷ trọng này của lao động có việc làm cả nước.
Những con số này cho thấy việc làm của lao động DTTS vẫn phụ thuộc rất lớn vào khu vực nông nghiệp và sinh kế nông thôn, trong khi đây thường là khu vực có năng suất, thu nhập và khả năng tạo việc làm ổn định đang còn nhiều hạn chế nhất. Nguồn lao động trẻ DTTS vẫn dồi dào nhưng chưa được chuyển dịch mạnh sang các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Điều này còn được minh chứng bằng tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực nông thôn cao hơn gần gấp hai lần so với khu vực đô thị (5% và 2,8%). Sự khác biệt cơ hội tiếp cận thông tin về việc làm, trình độ chuyên môn kỹ thuật, khả năng lựa chọn công việc linh hoạt của người lao động có thể là nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch này. Đây chính là một trong những điểm nghẽn của quá trình tạo việc làm bền vững ở vùng đồng bào DTTS&MN.
(ii) Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chưa phát huy hết vai trò động lực tạo việc làm mới Tính đến 01/7/2024, có 41.651 doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản có trụ sở, chi nhánh hoặc cơ sở sản xuất đang hoạt động và đóng tại địa bàn xã vùng đồng bào DTTS&MN, chỉ tương đương với 0,7% số doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở chế biến đang hoạt động trên phạm vi cả nước. Con số này cũng cho thấy khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ ở vùng đồng bào DTTS&MN phát triển chậm so với tiềm năng. Thương mại, logistics, du lịch, dịch vụ phục vụ sản xuất, dịch vụ số, tài chính và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã còn nhỏ lẻ, thiếu liên kết với sản xuất và chuỗi giá trị.
Trong khi đó, khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ có khả năng mở ra không gian việc làm rộng hơn, với nhiều vị trí việc làm khác nhau, từ sản xuất, thương mại, vận tải, lưu trú, ăn uống, hướng dẫn du lịch, marketing, thiết kế, thương mại điện tử đến các dịch vụ hỗ trợ sản xuất và kinh doanh… Mặt khác, vùng đồng bào DTTS&MN có lợi thế về cảnh quan, văn hóa, tri thức tộc người và đa dạng sản phẩm đặc trưng của các DTTS là những thế mạnh để phát triển dịch vụ. Khi dịch vụ phát triển, nhiều công đoạn mới trong chuỗi giá trị sẽ xuất hiện. Đây chính là dư địa để tạo thêm việc làm phi nông nghiệp và đa dạng hóa sinh kế cho lao động vùng đồng bào DTTS&MN.
(iii) Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động mới. Hiện nay, tỷ lệ lao động người DTTS qua đào tạo từ sơ cấp trở lên ở nước ta chỉ chiếm 14,6%. Đây là hạn chế lớn nhất đối với lao động DTTS trong việc tiếp cận thị trường lao động và nâng cao năng suất lao động, tạo thu nhập.
Các giai đoạn trước, một lao động có thể tìm được việc làm dựa chủ yếu vào sức lao động và kinh nghiệm. Nhưng thị trường lao động hiện đại đang thay đổi. Doanh nghiệp ngày càng quan tâm tới năng suất, kỹ năng nghề, kỹ năng số, khả năng sử dụng công nghệ và khả năng thích ứng. Vì vậy, khoảng cách về kỹ năng có thể trở thành một dạng “khoảng cách phát triển” mới.
Thị trường lao động hiện đại không vận hành theo mô hình “học một lần, làm một nghề suốt đời”. Chuyển đổi số, tự động hóa và chuyển đổi xanh diễn ra mạnh mẽ khiến người lao động phải liên tục cập nhật hoặc chuyển đổi kỹ năng. Nhu cầu về lao động có kỹ năng nghề, kỹ năng số và khả năng thích ứng ngày càng tăng trong khi lao động DTTS vẫn chưa kịp thích ứng.
(iv) Hệ thống thông tin và dịch vụ việc làm còn yếu. Một thị trường lao động vận hành hiệu quả không thể thiếu thông tin. Người lao động cần biết nơi nào đang tuyển dụng, tuyển vị trí gì, yêu cầu kỹ năng nào, thu nhập và điều kiện làm việc ra sao. Doanh nghiệp cần biết ở đâu có nguồn lao động phù hợp với nhu cầu tuyển dụng. Tuy nhiên, hệ thống thông tin thị trường lao động ở vùng DTTS&MN hiện còn hạn chế. Việc thu thập, cập nhật và chia sẻ dữ liệu về cung - cầu lao động và nhu cầu kỹ năng giữa các địa phương chưa đồng bộ; dữ liệu chưa đầy đủ, chưa được chuẩn hóa và chưa đáp ứng tốt yêu cầu dự báo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Khi thiếu dữ liệu, cơ sở đào tạo khó xác định nên đào tạo nghề gì; chính quyền khó hoạch định chính sách việc làm; doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn nhân lực; người lao động thiếu thông tin để lựa chọn nghề nghiệp. Nói cách khác, sự thiếu hụt thông tin có thể làm cho cung - cầu lao động cùng tồn tại nhưng không gặp được nhau.
3. Những cơ hội mới đối với việc làm vùng DTTS&MN giai đoạn 2026-2035
Bên cạnh những khó khăn, bối cảnh phát triển mới cũng mở ra những cơ hội chưa từng có đối với vùng DTTS&MN.
Trước hết, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ tạo ra nhu cầu mới về lao động. Điều đó tạo cơ hội để lao động vùng DTTS&MN tham gia vào những công việc có năng suất và thu nhập cao hơn nếu được trang bị kỹ năng phù hợp.
Thứ hai, chuyển đổi số đang mở rộng không gian việc làm. Một bộ phận hoạt động kinh tế không còn bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý như trước. Dịch vụ số, thương mại điện tử, truyền thông số và các hình thức kinh doanh dựa trên nền tảng số có thể giúp sản phẩm và dịch vụ của vùng đồng bào DTTS&MN tiếp cận thị trường rộng hơn. Tuy nhiên, cơ hội này chỉ trở thành hiện thực khi người lao động được trang bị kỹ năng số tối thiểu và có khả năng sử dụng công nghệ trong công việc.
Thứ ba, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững đang tạo ra nhu cầu mới đối với nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và du lịch bền vững. Đây là những lĩnh vực có khả năng tương thích với lợi thế tự nhiên, văn hóa và phương thức sản xuất đặc thù của nhiều địa phương vùng đồng bào DTTS&MN. Nếu được tổ chức theo chuỗi giá trị, những lĩnh vực này có thể vừa tạo việc làm, vừa bảo tồn tài nguyên và văn hóa địa phương.
Thứ tư, sự thiếu hụt lao động có kỹ năng tại nhiều doanh nghiệp trong nước và quốc tế cũng mở ra cơ hội cho lao động vùng đồng bào DTTS&MN. Trong khi một bộ phận lao động trẻ rời quê hương đi nơi khác tìm việc thì doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh tại chỗ lại thiếu lao động có kỹ năng. Đây chính là khoảng trống mà chính sách kết nối lao động cần tập trung giải quyết.
4. Một số giải pháp tạo việc làm và kết nối lao động bền vững
Một là, chính sách việc làm ở vùng đồng bào DTTS&MN cần chuyển từ cách tiếp cận thiên về hỗ trợ trực tiếp người lao động sang đồng thời phát triển các chủ thể có khả năng tạo việc làm. Doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, cơ sở sản xuất và các mô hình khởi nghiệp địa phương cần được xem là những mắt xích quan trọng của chính sách việc làm. Do đó, các chủ thể này cần được hỗ trợ về vốn, quản trị, công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu, tiếp cận thị trường và liên kết chuỗi giá trị. Khi năng lực của doanh nghiệp và hợp tác xã được nâng lên, khả năng tạo việc làm ổn định cho người dân địa phương cũng tăng theo.
Hai là, phát triển dịch vụ thành một động lực tạo việc làm. Đối với địa bàn có lợi thế du lịch, cần phát triển đồng bộ dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển, hướng dẫn, trải nghiệm văn hóa, bán sản phẩm và truyền thông số. Địa bàn có thế mạnh nông nghiệp, cần chú trọng dịch vụ cung ứng vật tư, chế biến, logistics, thương mại và hỗ trợ kỹ thuật… Hình thành được chuỗi dịch vụ gắn với thế mạnh địa phương đồng nghĩa với việc xuất hiện những công việc mới.
Ba là, cần chuyển từ “đào tạo những gì cơ sở có” sang “đào tạo những gì thị trường cần”. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần tăng cường phối hợp với doanh nghiệp trong xác định nghề đào tạo, xây dựng chương trình, tổ chức thực hành và tuyển dụng sau đào tạo. Quan tâm đào tạo những kỹ năng nền tảng như kỹ năng số, giao tiếp, tác phong công nghiệp, kỹ năng làm việc nhóm, an toàn lao động và khả năng thích ứng. Đối với những ngành nghề chịu tác động mạnh của chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cần tiến hành thường xuyên.
Bốn là, xây dựng hệ thống dữ liệu và thông tin thị trường lao động thống nhất. Muốn kết nối cung - cầu lao động hiệu quả phải có dữ liệu. Cần từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về người lao động, kỹ năng, nhu cầu việc làm, nhu cầu tuyển dụng và nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp. Dữ liệu cần được cập nhật thường xuyên, chuẩn hóa và có khả năng liên thông giữa các địa phương. Từ đó, nâng cao năng lực dự báo nhu cầu nhân lực và giúp hoạt động đào tạo bám sát hơn với nhu cầu thực tế.
Năm là, kết nối lao động bền vững phải quan tâm đến các vấn đề như: việc làm chính thức, thu nhập, điều kiện làm việc, an toàn lao động, khả năng duy trì, cơ hội phát triển nghề nghiệp... Đối với lao động di cư, cần tăng cường tư vấn trước khi đi, cung cấp thông tin về doanh nghiệp, điều kiện làm việc, hỗ trợ tiếp cận dịch vụ xã hội và nâng cao khả năng thích ứng tại nơi làm việc. Đối với lao động ở lại địa phương, cần kết nối để họ tham gia các chuỗi giá trị mới và tiếp cận những cơ hội việc làm có năng suất cao hơn.
Sáu là, phát huy lợi thế văn hóa, tự nhiên và tri thức địa phương. Một trong những hướng đi có triển vọng là biến những lợi thế vốn có của vùng đồng bào DTTS&MN thành năng lực kinh tế. Văn hóa, cảnh quan, sản phẩm địa phương, tri thức tộc người và phương thức sản xuất truyền thống đều có thể trở thành nền tảng cho các ngành dịch vụ và chuỗi giá trị mới.
5. Kết luận
Giai đoạn 2026-2035 đặt ra yêu cầu mới đối với chính sách việc làm ở vùng đồng bào DTTS&MN. Những vấn đề của thị trường lao động không còn chỉ là thiếu việc làm mà ngày càng liên quan đến chất lượng việc làm, năng suất lao động, kỹ năng, khả năng thích ứng và mức độ kết nối giữa người lao động với doanh nghiệp.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, chuyển đổi xanh, già hóa dân số và hội nhập kinh tế quốc tế, vùng đồng bào DTTS&MN đứng trước cả cơ hội và thách thức. Nếu tận dụng tốt lợi thế địa phương, phát triển doanh nghiệp và hợp tác xã, mở rộng khu vực dịch vụ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống dữ liệu thị trường lao động hiện đại, vùng đồng bào DTTS&MN có thể chuyển từ vị thế chủ yếu là nơi cung cấp lao động sang chủ động tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị của nền kinh tế.
Vì vậy, trọng tâm chính sách giai đoạn 2026 2035 cần được đặt vào việc tạo ra hệ sinh thái việc làm, trong đó tạo việc làm tại chỗ, phát triển dịch vụ, đào tạo nhân lực và kết nối thị trường lao động phải được triển khai như những bộ phận của một chỉnh thể. Mục tiêu cuối cùng là giúp người dân vùng đồng bào DTTS&MN có khả năng tiếp cận những công việc ổn định, có thu nhập, có cơ hội phát triển và thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế .
* Học viện Dân tộc và Tôn giáo
Tài liệu tham khảo
1. Cục Thống kê (2025), Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024-2074.
2. Cục Thống kê (2026), Thông cáo báo chí tình hình lao động, việc làm quý IV và năm 2025.
3. Cục Thống kê (2025), Kết quả điều tra 53 dân tộc thiểu số lần thứ III năm 2024.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
5. International Labour Organization (ILO) (2025), World Employment and Social Outlook: Trends 2025.
6. World Bank (2018), Vietnam’s Future Jobs: Leveraging Mega-trends for Greater Prosperity.
7. World Bank (2025), Viet Nam 2045: Institutions for a High-Income Future.