Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Văn học nghệ thuật

Tiếng sáo Mông

Nông Hồng Hạnh - Nguyễn Duy Dũng - 00:27, 10/08/2026

(DTTG) - Tiếng sáo Mông ngân lên như một lời tự tình của con người giữa đất trời. Vừa mộc mạc vừa sâu lắng, tiếng sáo không chỉ là âm thanh của một nhạc cụ dân gian, mà qua đó, còn gửi gắm những nổi niềm của cuộc sống, ký ức cộng đồng và khát vọng của người Mông.

Tiếng sáo Mông vang vọng giữa núi rừng Tây Bắc, không chỉ là âm thanh của nhạc cụ, đặc biệt còn là biểu tượng của bản sắc văn hóa và tâm hồn của cộng đồng người Mông nơi đây
Tiếng sáo Mông vang vọng giữa núi rừng Tây Bắc, không chỉ là âm thanh của nhạc cụ, mà còn là phương tiện để chuyển tải tâm tư tình cảm của con người

Có những âm thanh không cần gọi tên vẫn khiến người ta nhận ra một vùng đất. Tiếng sáo Mông là một âm thanh như thế. Chỉ vài nốt nhạc ngân lên giữa không gian núi cao, giữa một buổi chợ phiên và trong sự tĩnh lặng của chiều xuống, người nghe đã có thể hình dung ra những con đường quanh co, những mái nhà nép bên sườn núi, những thửa ruộng bậc thang và một đời sống văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ.

Điều làm nên sức quyến rũ của tiếng sáo Mông trước hết nằm ở sự giản dị, mộc mạc. Cây sáo được làm từ những vật liệu gần gũi với đời sống, nhưng qua bàn tay người nghệ nhân, những ống nứa tưởng như vô tri lại trở thành một phương tiện chuyên chở cảm xúc. Người làm sáo phải biết chọn nguyên liệu, biết xử lý, tạo lỗ, chỉnh âm và hoàn thiện nhạc cụ bằng kinh nghiệm được tích lũy lâu dài. Vì vậy, đằng sau một cây sáo là kỹ thuật chế tác, đặc biệt còn là tri thức dân gian về thiên nhiên, vật liệu và âm thanh.

Nhưng cây sáo chỉ thực sự có linh hồn khi được đặt vào tay người thổi.

Một tiếng sáo hay không đơn giản nằm ở kỹ thuật. Mà nó phụ thuộc vào cách người nghệ nhân điều khiển hơi thở, độ rung của âm thanh, khoảng lặng giữa các câu nhạc và trạng thái tâm hồn. Cùng một cây sáo, nhưng mỗi người thổi có thể tạo nên một sắc thái khác nhau. Có lúc tiếng sáo trong veo như tiếng gọi từ lưng núi; có lúc da diết như lời tâm sự; có lúc khoan thai, dìu dặt như một cuộc trò chuyện không cần lời.

Chính vì vậy, tiếng sáo Mông có thể được xem như một ngôn ngữ không lời của cộng đồng dân tộc… Và nó nói thay những điều con người khó diễn đạt bằng ngôn ngữ thông thường.

Đặc biệt, trong đời sống văn hóa Mông, tiếng sáo gắn với tình yêu và đời sống tình cảm. Người trẻ có thể dùng âm nhạc để bộc lộ tình cảm, gửi gắm nỗi nhớ, lời mời gọi hay những rung động của tuổi thanh xuân. Trong không gian núi rừng rộng lớn, một giai điệu sáo có thể trở thành chiếc cầu nối giữa những con người ở cách xa nhau.

Nhưng nếu chỉ nhìn tiếng sáo như tiếng nói của tình yêu, giá trị của nó vẫn chưa được khám phá hết. Bởi phía sau tình yêu đôi lứa còn là tình yêu quê hương, bản làng, núi rừng và cộng đồng dân tộc…

Và một người Mông thổi sáo không chỉ thổi cho riêng mình. Âm thanh ấy được sinh ra từ một không gian văn hóa cụ thể, nơi con người sống cùng núi, dựa vào rừng, canh tác trên những sườn dốc và hình thành cộng đồng qua nhiều thế hệ. Vì vậy, trong tiếng sáo luôn có bóng dáng của môi trường sống.

Có thể nói, thiên nhiên chính là không gian cộng hưởng đặc biệt của tiếng sáo Mông.

Một giai điệu vang lên giữa thung lũng sẽ có cách lan tỏa khác với khi vang lên trong một căn phòng. Những vách núi, triền dốc, khoảng không rộng lớn, tiếng gió và sương núi tạo nên một nền âm thanh tự nhiên. Chính không gian ấy làm cho tiếng sáo trở nên xa hơn, sâu hơn và giàu sức gợi cảm hơn.

Nếu tiếp cận ở góc nhìn mỹ học, đây là một đặc điểm đáng lưu ý của nghệ thuật dân gian, đó là tác phẩm không tách khỏi môi trường văn hóa đã sản sinh ra nó. Tiếng sáo Mông là âm thanh và còn là sự hòa quyện giữa âm thanh với cảnh quan, con người và đời sống cộng đồng.

Người Mông sử dụng hai loại sáo: Sáo dọc và sáo ngang. Sáo dọc tiếng Mông gọi là “tràng pua”. Sáo được ghép từ 3 ống trúc, ống giữa to và dài hơn, hai ống nhỏ bên cạnh gần như là để trang trí làm cho cây sáo đồ sộ hơn…
Người Mông sử dụng hai loại sáo: Sáo dọc và sáo ngang. Sáo dọc tiếng Mông gọi là “tràng pua”. Sáo được ghép từ 3 ống trúc, ống giữa to và dài hơn, hai ống nhỏ bên cạnh gần như là để trang trí .

Tiến sĩ Trần Hữu Sơn (Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian), nguyên Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai, Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Viện trưởng Viện nghiên cứu Ứng dụng Văn hóa và Du lịch nhận xét: Tiếng sáo Mông có giá trị không chỉ ở phương diện âm nhạc mà còn ở khả năng lưu giữ ký ức văn hóa. Trong mỗi giai điệu có dấu ấn của môi trường sống, tâm lý cộng đồng và quan niệm thẩm mỹ của người Mông. Bảo tồn tiếng sáo vì thế không thể chỉ bảo tồn nhạc cụ hay bài bản, mà phải bảo tồn cả không gian văn hóa và chủ thể thực hành…

Nhận định này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh đời sống vùng cao, miền núi đang thay đổi và phát triển nhanh chóng. Khi giao thông thuận lợi hơn, đô thị hóa phát triển, thanh niên có nhiều cơ hội học tập và làm việc bên ngoài bản làng, các hình thức giải trí hiện đại cũng ngày càng phổ biến. Vì vậy, không gian thực hành nghệ thuật truyền thống có thể bị thu hẹp.

Một số nghệ nhân giỏi tuổi đã cao.

Một số kỹ thuật chế tác và cách chơi sáo chưa được ghi chép đầy đủ.

Một số làn điệu chỉ còn được nhớ trong ký ức của những người lớn tuổi.

Và đó là nguy cơ không thể xem nhẹ.

Bởi khi một nghệ nhân qua đời mà tri thức chưa được truyền lại, cộng đồng dân tộc không chỉ mất một người biết thổi sáo. Họ có thể mất đi một phần ký ức về cách chế tác, cách diễn tấu và ý nghĩa văn hóa của loại hình nghệ thuật ấy.

Bởi vậy, việc bảo tồn tiếng sáo Mông trước hết phải bắt đầu từ con người. Cần khuyến khích những nghệ nhân truyền dạy cho thế hệ trẻ. Cần đưa nghệ thuật dân gian vào các hoạt động giáo dục và sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Cần tạo môi trường để người trẻ được học, được chơi và được sáng tạo trên nền tảng truyền thống.

Và điều quan trọng hơn là cần để tiếng sáo tiếp tục tồn tại trong đời sống tự nhiên của cộng đồng, thay vì chỉ xuất hiện trong những chương trình mang tính trình diễn.

Tiếng sao ai vang lên giữa vẻ tĩnh mịch của núi rừng, lúc dồn dập, lúc ngập ngừng như muốn gửi gắm tình cảm, lời tâm sự của chàng trai với người mình yêu qua âm thanh thoát ra từ những nốt tròn trên thân sáo
Những cô gái Mông trong ngày hội

Theo đó, công nghệ số cũng có thể trở thành một phương tiện hữu ích. Những nghệ nhân có thể được ghi hình quá trình chế tác và biểu diễn; những giai điệu có thể được lưu trữ bằng dữ liệu âm thanh chất lượng cao; các câu chuyện, ký ức và tri thức liên quan đến tiếng sáo có thể được xây dựng thành tư liệu số. Khi ấy, công nghệ không thay thế nghệ thuật dân gian mà trở thành công cụ giúp kéo dài tuổi thọ của ký ức.

Tuy nhiên, số hóa chỉ là phương tiện. Cái quyết định sức sống của tiếng sáo vẫn là cộng đồng. Một bản ghi âm có thể giữ lại âm thanh, nhưng không thể tự mình tạo ra một người thổi sáo mới. Một video có thể lưu lại động tác, nhưng không thể thay thế cảm xúc của người nghệ nhân. Một bảo tàng có thể trưng bày cây sáo, nhưng không thể thay thế không gian văn hóa đã sinh ra nó.

Bởi thế, việc bảo tồn và phát huy giá trị của tiếng sáo Mông phải đi cùng thực hành. Đó cũng là cách để tiếng sáo Mông bước vào đời sống đương đại mà không bị hòa tan.

Tiếng sáo có thể xuất hiện trong các chương trình nghệ thuật mới.

Có thể kết hợp với những nhạc cụ hiện đại.

Có thể được giới trẻ sáng tạo thành những sản phẩm âm nhạc mới.

Nhưng dù đi xa đến đâu, nó vẫn cần giữ được hồn cốt của mình, đó là âm sắc, kỹ thuật, tinh thần và mối liên hệ với bản sắc văn hóa của người Mông./.