Làng văn hóa Tân Lập của người Tày nơi quê hương cách mạng Tân TràoMiền đất giàu di sản văn hóa vật thể
Di sản văn hóa vật thể của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang trước hết được thể hiện qua hệ thống kiến trúc truyền thống độc đáo. Mỗi dân tộc đều lưu giữ cho mình những kiểu thức cư trú riêng, phản ánh điều kiện tự nhiên, phương thức sản xuất và quan niệm sống của cộng đồng. Đó là những ngôi nhà trình tường kiên cố của người Mông với mái ngói âm dương và hàng rào đá bao quanh; là những nếp nhà sàn bằng gỗ của người Tày nép mình bên sườn núi hay những căn nhà nửa sàn, nửa đất của người Dao, người Sán Chay vẫn giữ được cấu trúc truyền thống từ cách bố trí cầu thang, gian bếp đến khoảng sân, hàng rào và ao nước liền kề. Những công trình ấy không đơn thuần là nơi cư trú mà còn là không gian lưu giữ ký ức văn hóa, phong tục và nếp sống của các thế hệ.
Đi cùng kiến trúc là hệ thống trang phục truyền thống với màu sắc, hoa văn và kỹ thuật chế tác đặc trưng của từng tộc người. Dù nhịp sống hiện đại đã khiến trang phục truyền thống không còn xuất hiện thường xuyên trong đời sống thường nhật, nhưng trong các lễ hội, ngày tết, đám cưới hay sự kiện cộng đồng, những bộ váy áo rực rỡ vẫn hiện diện như một biểu tượng của niềm tự hào dân tộc. Nhiều trường học nội trú, bán trú trên địa bàn tỉnh đã xây dựng lịch mặc trang phục dân tộc định kỳ; các nghệ sĩ, phát thanh viên cũng thường xuyên sử dụng trang phục truyền thống trong các chương trình văn hóa, nghệ thuật và truyền hình. Những hành động giản dị ấy đang góp phần nuôi dưỡng tình yêu văn hóa trong thế hệ trẻ và lan tỏa vẻ đẹp của các dân tộc đến đông đảo công chúng.
Tìm hiểu bản sắc trang phục truyền thống của đồng bào dân tộc Lô Lô là điểm nhấn hấp dẫn trong các trải nghiệm du lịch tại thôn Lô Lô Chải, xã Lũng CúẨn chứa phía sau mỗi bộ trang phục là những nghề thủ công lâu đời vẫn đang được các cộng đồng dân cư kiên trì gìn giữ. Người La Chí, người Tày vẫn bảo tồn được quy trình trồng bông, dệt vải truyền thống; người Dao Tiền lưu giữ kỹ thuật vẽ sáp ong tinh xảo; đồng bào Mông tiếp tục duy trì nghề chạm bạc, làm khèn và dệt lanh. Nhiều làng nghề đã được phục dựng và phát triển như nghề dệt thổ cẩm ở Na Hang, Lâm Bình; nghề may trang phục của người Dao đỏ; nghề làm bánh gai truyền thống ở Chiêm Hóa hay nghề nấu rượu chuối của người Tày ở Kim Bình… Những sản phẩm thủ công không chỉ phản ánh sự khéo léo, óc sáng tạo của người dân mà còn chứa đựng những tri thức dân gian quý giá được truyền từ đời này sang đời khác.
Một trong những lớp trầm tích văn hóa đặc sắc của Tuyên Quang còn được thể hiện qua nghệ thuật ẩm thực. Từ những nguyên liệu quen thuộc của núi rừng, đồng bào các dân tộc đã sáng tạo nên hàng loạt món ăn mang đậm bản sắc riêng. Mèn mén, thắng cố, canh tẩu chúa của đồng bào vùng cao; cơm lam, bánh trứng kiến, bánh chưng đen, mắm cá ruộng, thịt treo gác bếp hay xôi ngũ sắc của đồng bào ở phía Tây, phía Nam tỉnh… đã trở thành những dấu ấn khó quên đối với du khách. Không dừng lại ở việc bảo tồn những món ăn truyền thống, đồng bào còn tiếp tục sáng tạo các sản phẩm mới như cháo ấu tẩu, phở ngô hay các loại trà đặc sản, góp phần làm phong phú thêm bản đồ ẩm thực địa phương.
Khu di tích Quốc gia đặc biệt Kim Bình, thuộc xã Kim Bình, tỉnh Tuyên Quang là một địa danh lịch sử quan trọng gắn liền với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta mới được tôn tạo từ nguồn lực của Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025Nếu kiến trúc, trang phục và ẩm thực phản ánh bản sắc văn hóa trong đời sống thường nhật của cộng đồng thì hệ thống di tích tôn giáo, tín ngưỡng lại lưu giữ chiều sâu tinh thần của vùng đất này. Hiện nay, Tuyên Quang có hàng trăm di tích tâm linh với nhiều công trình được xếp hạng quốc gia và quốc gia đặc biệt. Đặc biệt, nơi đây còn được biết đến với tên gọi “vùng đất Mẫu”, gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu và hệ thống đền thờ Mẫu Thoải nổi tiếng. Quần thể đền Hạ, đền Thượng và đền Ỷ La từ lâu đã trở thành biểu tượng tâm linh của xứ Tuyên; chùa Bảo Ninh Sùng Phúc, chùa Kim Ninh hay chùa Sùng Khánh đều lưu giữ những hiện vật quý hiếm, phản ánh lịch sử phát triển của vùng đất qua nhiều thế kỷ. Không gian tín ngưỡng ấy vừa đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân, vừa tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách trong và ngoài nước.
Đánh thức di sản trong nhịp sống đương đại
Toàn tỉnh Tuyên Quang hiện có 794 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh, trong đó có 215 di tích được xếp hạng quốc gia, 308 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, 3 Khu di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Nhận thức rõ giá trị, vai trò của di sản văn hóa phi vật thể trong thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch, những năm gần đây, tỉnh Tuyên Quang đã sử dụng nguồn lực của Dự án 6 trong Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 để trùng tu, tôn tạo Di tích quốc gia đặc biệt Địa điểm tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, xã Kim Bình; 02 di tích quốc gia gồm di tích lịch sử quốc gia làng Ngòi - Đá Bàn, xã Mỹ Bằng; di tích quốc gia Chiến thắng Khe Lau; chống xuống cấp 02 di tích quốc gia có giá trị tiêu biểu vùng đồng bào dân tộc thiểu số là di tích Lán ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại xã Trung Trực, huyện Yên Sơn (cũ) và di tích địa điểm Nà Mạ, thôn Pác Hóp, xã Linh Phú, huyện Chiêm Hóa (cũ).
Các món ăn truyền thống của đồng bào Dao tỉnh Tuyên QuangSong song với việc bảo tồn các di tích lịch sử, Tuyên Quang đặc biệt chú trọng gìn giữ không gian sống truyền thống của đồng bào gắn với phát triển du lịch cộng đồng. Nhiều làng văn hóa đã trở thành điểm đến hấp dẫn, tiêu biểu như làng văn hóa dân tộc Cao Lan, thôn Khau Tràng của người Dao Tiền; thôn Tân Lập hay thôn Tha của người Tày... Tại những địa điểm này, kiến trúc truyền thống được bảo tồn tương đối nguyên vẹn, đồng thời kết hợp hài hòa với các hoạt động trải nghiệm văn hóa, sản xuất và sinh hoạt cộng đồng. Hàng trăm cơ sở homestay ra đời nhưng vẫn giữ nguyên không gian nhà sàn, mái cọ, hạn chế tối đa tình trạng bê tông hóa, giúp du khách có cơ hội sống trong môi trường văn hóa địa phương thực sự.
Các hoạt động trải nghiệm nghề truyền thống cũng ngày càng được mở rộng. Đến với các hợp tác xã dệt lanh, làng nghề thổ cẩm hay các cơ sở chế tác nhạc cụ, du khách không chỉ được quan sát mà còn trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất: từ tước lanh, nhuộm chàm, dệt vải đến học cách làm đàn tính, chế tác khèn Mông hay chạm bạc thủ công. Những trải nghiệm ấy giúp du khách hiểu hơn về tri thức dân gian, về sự kiên trì và bàn tay tài hoa của những nghệ nhân vùng cao.
Ẩm thực cũng đang trở thành một sản phẩm du lịch đầy sức hút. Tại nhiều lễ hội và điểm du lịch, du khách có thể tham gia giã bánh giầy, thu hái chè Shan tuyết, làm bánh trứng kiến, chế biến mắm cá ruộng hay trải nghiệm các món ăn truyền thống của người Mông, người Dao, người Tày... Những hoạt động này không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn tạo cơ hội để cộng đồng địa phương giới thiệu và quảng bá bản sắc văn hóa của mình.
Hành trình biến di sản thành tài sản
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định quan điểm: “Sự nghiệp phát triển văn hoá vừa có nghĩa chiến lược, lâu dài, đồng thời cũng là yêu cầu cấp bách, cần được tiến hành chủ động, tích cực, sáng tạo, kiên trì, thường xuyên và phù hợp với điều kiện thực tế khách quan”. Bám sát quan điểm của Đảng, ngày 30/6/2026, UBND tỉnh Tuyên Quang đã phê duyệt Đề án Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn tỉnh gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035.
Trong Đề án này, tỉnh xác định bảo tồn văn hóa không phải là “đóng khung” quá khứ mà là tìm cách đưa di sản bước vào đời sống đương đại một cách bền vững. Tỉnh chủ trương lấy cộng đồng dân tộc thiểu số làm chủ thể bảo tồn và sáng tạo văn hóa; chính quyền giữ vai trò kiến tạo, định hướng và hỗ trợ. Việc bảo tồn phải gắn chặt với phát triển sinh kế, với giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới, để người dân thực sự được hưởng lợi từ chính những giá trị văn hóa mà họ đang nắm giữ.
Trên các quan điểm đó, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, hoàn thành công tác kiểm kê di sản văn hóa vật thể, đồng thời tập trung bảo tồn trọn vẹn các “không gian sống” truyền thống của đồng bào các dân tộc. Không chỉ gìn giữ kiến trúc bên ngoài, Tuyên Quang còn hướng tới bảo tồn cả cấu trúc nội thất, vị trí bếp lửa, bàn thờ Tổ tiên và mối quan hệ hài hòa giữa ngôi nhà với cảnh quan tự nhiên xung quanh. Những quy chế quản lý kiến trúc và bộ hướng dẫn thiết kế truyền thống sẽ được xây dựng nhằm hạn chế tình trạng bê tông hóa, bảo vệ bản sắc văn hóa của các bản làng.
Lễ hội đền Hạ, đền Thượng và đền Ỷ La - Biểu tượng tâm linh của xứ TuyênMột mặt, tỉnh bảo tồn các làng văn hóa đã đạt danh hiệu trong nước và quốc tế; nâng cấp, nhân rộng các mô hình tiêu biểu như: Làng văn hóa Lô Lô Chải (nhà trình tường của người Lô Lô), thôn Nặm Đăm (nhà trình tường của người Dao Áo dài), thôn Tân Lập (nhà sàn của người Tày) và thôn Khâu Tràng (nhà gỗ của người Dao Tiền)... Mặt khác, phát triển thêm các làng văn hóa du lịch cộng đồng mới; chú trọng bảo tồn kiến trúc để tham dự các giải thưởng làng văn hoá du lịch cộng đồng đạt tiêu chuẩn ASEAN. Khuyến khích người dân cải tạo nội thất bên trong (vệ sinh, điện, nước) theo tiêu chuẩn du lịch nhưng phải giữ nguyên vỏ kiến trúc bên ngoài để phát triển mô hình homestay. Việc rà soát, lập hồ sơ các ngôi nhà cổ, chuẩn hóa dịch vụ du lịch và bảo tồn kiến trúc để hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế sẽ mở ra cơ hội mới cho du lịch cộng đồng của tỉnh.
Đối với trang phục và nghề truyền thống, Tuyên Quang chủ trương bảo tồn nguyên liệu, kỹ thuật thủ công và hệ thống hoa văn đặc trưng của từng dân tộc; khuyến khích người dân sử dụng trang phục truyền thống trong đời sống hằng ngày và trong lễ hội. Việc “thời trang hóa” di sản theo hướng sáng tạo nhưng vẫn tôn trọng bản sắc được xem là giải pháp để đưa văn hóa dân tộc hòa nhập với nhịp sống hiện đại mà không bị hòa tan.
Với lĩnh vực ẩm thực, tỉnh hướng tới việc chuyển hóa những món ăn dân dã thành lợi thế cạnh tranh chiến lược. Bên cạnh việc chuẩn hóa quy trình chế biến, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, địa phương chú trọng kể những câu chuyện văn hóa phía sau mỗi món ăn, xây dựng hồ sơ di sản ẩm thực, phát triển bản đồ ẩm thực và thiết kế các tour trải nghiệm chuyên đề. Mục tiêu cuối cùng là trao cho du khách cơ hội cảm nhận chiều sâu văn hóa của vùng đất và con người Tuyên Quang.
Với hệ thống di tích tôn giáo, tín ngưỡng phong phú, định hướng của tỉnh là bảo tồn tính nguyên bản, giữ gìn không gian tâm linh và phát triển các sản phẩm du lịch theo hướng văn minh, bền vững. Những hành trình như “Tuyên Quang - miền đất Mẫu” hay “Về nguồn và tâm linh” được kỳ vọng sẽ kết nối các di tích thành chuỗi trải nghiệm hấp dẫn, vừa góp phần quảng bá văn hóa địa phương, vừa tạo nguồn lực tái đầu tư cho công tác bảo tồn.
Trong tiến trình hội nhập và phát triển, các di sản văn hóa vật thể ở Tuyên Quang sẽ không đứng im mà âm thầm phát triển trên nền tảng tư duy mới, đó là biến các giá trị của di sản trở thành tài sản, nhằm tạo sinh kế cho người dân, làm giàu cho địa phương và góp phần khẳng định bản sắc văn hóa của mỗi cộng đồng. Hành trình biến di sản thành nguồn lực phát triển ở Tuyên Quang vẫn còn nhiều việc phải làm, nhưng hướng đi đã ngày càng rõ ràng: bảo tồn để phát triển và phát triển để di sản tiếp tục tỏa sáng cả về giá trị văn hóa và giá trị kinh tế trong đời sống đương đại.