Từ khóa: Biểu tượng; Văn hóa ẩm thực; Dân tộc thiểu số; Nhân học biểu tượng; Miền núi Đà Nẵng.
Mâm cơm cúng của đồng bào Cơ Tu, thành phố Đà Nẵng1. Tiếp cận khái niệm biểu tượng
Biểu tượng là những sản phẩm văn hóa được hình thành một cách tự nhiên trong “hành trình văn hóa” của loài người. Biểu tượng có tính đa nghĩa nhưng có thể chia làm hai nghĩa chính là biểu hình (visible signs) và biểu ý (ideas). Ở giai đoạn ban đầu, ngôn ngữ biểu tượng thường mang tính đơn giản và ước lệ. Về sau, do sự phát triển của xã hội loài người, ngôn ngữ biểu tượng ngày càng được mở rộng đến mọi thành tố văn hóa và mọi mặt đời sống của con người.
Nhân học biểu tượng coi văn hóa là hệ thống ý nghĩa được thể hiện qua biểu tượng, giúp con người diễn giải thế giới xung quanh và định hướng hành vi. Biểu tượng là một dạng ngôn ngữ đặc biệt để con người giao tiếp với nhau, với các cộng đồng khác và cao hơn là giao tiếp với Tổ tiên và các vị thần linh của họ. Biểu tượng chính là sự kết tinh các giá trị văn hóa được con người tạo nên. Đó cũng là cách mà con người biểu hiện bản thân mình và cảm nhận về thế giới.
Nhân học biểu tượng là một nhánh quan trọng của nhân học văn hóa với đối tượng nghiên cứu là các biểu tượng trong đời sống văn hóa của con người. Trọng tâm của nhân học biểu tượng nghiên cứu cách thức con người tìm hiểu và giải thích các hiện tượng diễn ra xung quanh như những hành động và sự bày tỏ đối với những thành viên khác trong xã hội. Sự thể hiện đó chính là cách trao đổi các ý nghĩa trong hệ thống văn hóa như sự hiểu biết tới các tầng lớp khác nhau trong các thành viên của cùng một xã hội. Chẳng hạn, bầu vú mẹ, nồi đồng ở Tây Nguyên biểu tượng cho mẫu hệ; Ngẫu tượng linga - yoni của người Chăm biểu tượng cho phồn thực, sự sinh sôi nảy nở; Chim công - ngà voi của người M’nông biểu tượng cho sự giàu có; Con trâu, sừng trâu trong nghệ thuật điêu khắc Cơ-tu tượng trưng cho sức mạnh, ấm no, thịnh vượng... Trong văn hóa truyền thống các dân tộc, hình thức và nội dung, ý nghĩa của các biểu tượng được tìm thấy ở nghệ thuật tạo hình, kiến trúc, lễ hội, tập tục,... Đặc biệt, những biểu tượng, hệ biểu tượng có liên quan về ẩm thực thì luôn nổi trội, phổ biến được thể hiện qua các món ăn, thức uống và cách tổ chức ăn uống trong các lễ hội truyền thống, nghệ thuật trang trí, điêu khắc, các nghi lễ cưới xin...
2. Ý nghĩa của các biểu tượng trong văn hóa ẩm thực của các dân tộc
2.1. Ý nghĩa biểu tượng qua các món ăn truyền thống
Trong văn hóa ẩm thực của các dân tộc vùng núi rừng Trường Sơn thì bánh nếp gói bằng lá đót là loại bánh đặc trưng. Cây đót, có nơi gọi là cây chít, mọc hoang dại rất nhiều trên các cánh rừng. Bà con hái lá để gói bánh nên gọi là bánh lá đót. Người Cơ-tu và Tà Ôi, tùy theo vùng mà có tên gọi khác nhau như bánh avị cuốt, a cuốt, a koát, a quát... Người Bhơ Nong gọi là bánh ốc, người Cor gọi là bánh cót. Bánh này làm rất dễ, nhưng cũng đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo của người làm. Lá dùng để gói bánh phải to bản, không bị rách, mang về rửa và lau sạch sẽ rồi ép nhanh để lá không khô. Bánh sừng trâu được làm từ loại gạo nếp nương thơm dẻo, vị béo bùi.
Đối với các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Cơtuic, bánh a cuốt được xem là chiếc bánh của tình yêu bởi luôn xuất hiện trong các dịp lễ cưới truyền thống của đồng bào. Bánh được gói thành một cặp, chiếc bánh to hơn tượng trưng cho người con trai và bánh nhỏ gợi đến hình ảnh của người con gái. Cặp bánh được ví như tình yêu đôi lứa bền chặt, son sắc, có cặp có đôi. Trong lễ cưới, hình ảnh và hương vị của chiếc bánh mang ý nghĩa tình duyên đôi lứa, cầu mong sự no đủ, thuận vợ thuận chồng. Đám cưới của dân tộc Cơ-tu có tục Trùm chăn (Pa zùm) rất độc đáo. Người thực hiện nghi lễ này phải là phụ nữ. Người này trùm chiếc chăn thổ cẩm lên đầu cô dâu, chú rể, đưa cho họ miếng bánh sừng trâu để cùng ăn, rồi đưa tiếp một nắm gạo. Đôi vợ chồng trẻ chụm tay vào nhận gạo, cùng với những câu nói chúc phúc, cầu mong một cuộc sống vui vẻ, không ốm đau, không bệnh tật, ấm no, có lúa gạo “đầy tay” như ngày hôm nay. Sau đó, dùng gạo này để nấu cơm cho hai vợ chồng ăn, với ý nghĩa từ đây đôi vợ chồng được ăn chung một nồi, được ngủ chung một gối.
Các loại bánh nếp giã trộn vừng giống như bánh giầy của người Việt và các dân tộc miền núi phía Bắc cũng là món ăn phổ biến của các dân tộc Cơ-tu, Tà Ôi, Bru - Vân Kiều, Pa Cô. Mỗi dân tộc có tên gọi khác nhau, người Cơ-tu ở Nam Đông (thành phố Huế) gọi là a zưh, người Vân Kiều ở Quảng Trị gọi là a yớh, người Tà Ôi, Pa Cô gọi là a deep man. Trong lễ cúng Tổ tiên, lễ cưới, mừng mùa, Tết Nguyên đán, đồng bào làm nhiều loại bánh, trong đó có bánh a yớh. Nguyên liệu là nếp, mè đen, muối hạt... nhưng công đoạn làm bánh rất kỳ công, đòi hỏi sự kiên trì, chú tâm. Người được chọn làm bánh là những phụ nữ khỏe mạnh, bắp chân to, mông đầy đặn để đủ sức lên nương, lên rẫy và vung chày giã gạo làm bánh.
Theo phong tục của người Vân Kiều, nhà gái phải gùi bánh a yớh và xấn (váy) sang nhà trai để làm lễ tiễn con gái về nhà chồng. Trong đám cưới bắt buộc phải có bánh a yớh, có loại bánh này mới được tiến hành các nghi lễ tiếp theo. Đối với người Pa Cô, trong mâm cúng của lễ hội A za (cầu mùa) cũng bắt buộc phải có loại bánh này. Đây là các món ăn vừa ngon vừa tiện lợi, có thể bảo quản được lâu ngày nên đồng bào làm nguồn thức ăn dự trữ như lương khô. Bà con thường mang theo vài miếng bánh để lót dạ khi đi rừng, săn bắn hay lên nương rẫy. Bánh a yớh tượng trưng cho những điều tốt đẹp nhất, sự thủy chung son sắt và nghĩa tình.
Xôi ngũ sắc gần đây được đồng bào miền núi xứ Quảng tiếp thu từ các dân tộc Tày, Thái... di cư từ miền núi phía Bắc vào và học hỏi trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội… Xôi ngũ sắc được tạo ra từ cách ngâm gạo trắng ngà tự nhiên với các loại nguyên liệu như quả gấc tạo màu cam, lá dứa tạo màu xanh, hoa đậu biếc tạo màu xanh biển và nếp than tạo ra màu tím. Theo quan niệm của đồng bào, màu đen là màu của đất đai trù phú, màu đỏ tượng trưng cho khát vọng, màu tím tượng trưng cho sự thủy chung, màu vàng tượng trưng cho sự no đủ, màu xanh tượng trưng cho núi rừng, màu trắng tượng trưng cho tình yêu trong trắng và sự thanh cao. Xôi màu còn có giá trị tâm linh sâu sắc. Người dân cho rằng, ăn món xôi ngũ sắc, xôi bảy màu vào ngày tết sẽ gặp nhiều may mắn trong năm.
2.2.Ý nghĩa biểu tượng qua vật dụng ẩm thực
Một số dụng cụ liên quan đến ẩm thực như chiếc nia, mâm mây, khay đựng bánh trái, thức ăn, chày cối giã gạo, chén đũa, vỏ bầu… cũng mang nhiều ý nghĩa nhân văn. Chiếc nia hình giọt nước, hạt sương của đất trời mang ý nghĩa mong cho cây cối tốt tươi, bông lúa trĩu hạt. Chiếc nia ôm trong lòng những hạt lúa, hạt gạo như người mẹ ôm ấp những đứa con. Người Cơ-tu gửi gắm ước mơ về cuộc sống ấm no, sung túc, hạnh phúc qua hình dạng của chiếc nia hình giọt nước. Chủ đề người phụ nữ Cơ-tu giã gạo, sảy lúa khá phổ biến trong tranh, tượng, phù điêu trang trí ở nhà làng truyền thống. Chiếc nia hình giọt nước luôn là chi tiết tạo hình ấn tượng bên cạnh chày, cối, dần, sàng, đàn gà nhặt thóc - những hình ảnh sinh hoạt quen thuộc trong cuộc sống ở thôn bản vùng cao được khắc họa trong các bức phù điêu, tượng tròn, tranh vẽ ở các nhà làng truyền thống (gươl).
Trang trí tạo hình trên chày cối cũng là nét độc đáo trong đời sống ẩm thực các dân tộc vùng cao. Giã gạo là công việc có từ lâu đời của các cư dân nông nghiệp khi con người biết trồng lúa. Trên trống đồng Đông Sơn, người Việt cổ đã chạm khắc cảnh đôi trai gái giã gạo cùng với hai người múa thổi khèn rất sinh động, như cảnh ngày mùa vui thôn trang. Với nền nông nghiệp nương rẫy, lúa gạo là nguồn sống chính của nhiều tộc người sinh sống ở miền núi. Trong nghệ thuật trang trí của nhiều tộc người, ta thường bắt gặp hình tượng giã gạo. Đặc biệt, trong nghệ thuật trang trí của dân tộc Cơ-tu trên cây nên (sinuar) và cột cái (r’mâng) nhà làng (gươl), ta luôn bắt gặp hình tượng chiếc cối gạo và nồi đất, nồi đồng tượng trưng cho hồn lúa (yang haroo), người mẹ, nguồn sống.
2.3.Ý nghĩa biểu tượng ẩm thực qua thực hành nghi lễ
Các nghi lễ truyền thống thường được gắn liền với các món ăn mang tính biểu tượng. Người Cor thích ăn trầu. Họ thường ăn trầu với vỏ cây chai núi (kha-lí). Theo khẩu vị, cần có thêm một ít thuốc lá sợi hoặc bột. Lễ vật bắt buộc phải có trong cưới xin của dân tộc Ca Dong là trầu cau, thuốc lá. Chủ hôn đưa cho cô dâu, chú rể miếng trầu, ống thuốc bột, vợ chồng bôi vài hạt cơm lên trán nhau. Nghi lễ trang nghiêm này biểu đạt ý nghĩa sâu sắc rằng linh hồn của hai người đã nhập làm một, thể hiện sự gắn kết nghĩa tình, thủy chung son sắc. Với ý nghĩa đó, người Ca Dong luôn trang trí ống đựng thuốc bột (talok) đẹp mắt bằng những chùm lục lạc đồng, gọi là talok grao cring ning. Đặc biệt, ống đựng thuốc bột là tặng phẩm quý giá của cha mẹ dành cho con gái, được xem như của hồi môn.
Để có món quà mừng con gái vừa sinh ra, người cha vào rừng tìm đoạn trúc chừng một gang tay mang về chạm khắc, gọt tỉa thành ống đựng thuốc bột. Sau đó, người mẹ buộc thêm vào chiếc ống này một chùm lục lạc nhỏ xíu, những chuỗi cườm và chùm sợi chỉ làm từ cây gai vreang se lại, rồi đem nhuộm màu để gắn vào phần chui. Với người phụ nữ Ca Dong, chiếc ống này không chỉ là vật dùng ăn trầu, ăn thuốc mà còn là tặng vật của đấng sinh thành trao tặng cho con gái, là “hành trang vào đời” khi lập gia đình. Vào dịp lễ hội, các cô gái Ca Dong thường đeo nó trên eo hông kèm theo những chiếc vòng cổ, vòng tay. Đây còn là kỷ vật thiêng liêng nhất của người con gái, cả khi người đó trở thành người phụ nữ già nua sau này.
Đối với dân tộc Cơ-tu, để có được một cuộc hôn nhân với đầy đủ các lễ vật, nhà trai phải chuẩn bị nhiều thực phẩm từ núi rừng như: heo, mang, nhím… bằng sự hỗ trợ của cộng đồng và là anh em họ hàng, những thợ săn giỏi. Thực phẩm được phơi khô, bỏ trong ống tre, gác lên bếp, đợi đến ngày cưới mới đưa ra đãi nhà gái và khách quý. Tương tự, nhà gái cũng thể hiện tài khéo trong chăn nuôi gia cầm, bắt cá, làm rẫy lúa nếp…. để đối đãi nhà trai. Đến ngày tổ chức lễ cưới, nhà trai mang lễ vật đến nhà gái gồm: heo, trâu, bò, dê, thịt thú rừng… (các loại vật bốn chân) do đàn ông tự săn bắt, tìm kiếm từ núi rừng. Đây là những công việc nặng nhọc, vất vả nên họ cần thể hiện tài năng của mình đối với nhà gái. Ngược lại, các loài vật hai chân như gà, vịt, chim và một số loài vật nhỏ như cá, ếch... là công việc “nhẹ nhàng” đối với nữ giới. Qua lễ vật và quà tặng có thể thấy sự phân công lao động giữa nam và nữ. Các món ẩm thực của nhà trai biểu thị sức mạnh, che chở, gánh vác của người chồng, người mang lại nguồn sống chính, của cải, tài sản cho gia đình sau này.
3. Kết luận
Qua tiếp cận nhân học biểu tượng đã làm sáng tỏ biểu tượng ẩm thực của các dân tộc thiểu số miền núi vùng Trường Sơn - Tây Nguyên. Từ chiếc bánh sừng trâu (a cuốt/avị cuốt) tượng trưng cho tình duyên lứa đôi và sự no ấm bền chặt; Bánh a yớh/a deep man đại diện cho sự thủy chung son sắt và nghĩa tình cộng đồng; Xôi ngũ sắc thể hiện khát vọng may mắn và sự hài hòa với thiên nhiên, đến những dụng cụ như chiếc nia hình giọt nước (biểu tượng cho sự nuôi dưỡng, no đủ của đất trời), chày cối giã gạo (hình ảnh người phụ nữ - nguồn sống), cây đũa (cầu nối âm dương), ống đựng thuốc bột (hành trang vào đời của người con gái Ca Dong). Nhiều biểu tượng còn mang tính đa tầng, biểu đạt nhiều ý nghĩa khác nhau: vừa là sản phẩm của nền kinh tế nương rẫy, vừa là phương tiện giao tiếp với thần linh, Tổ tiên và giữa con người với con người, thể hiện ước vọng nhân văn cao đẹp. Chúng không chỉ duy trì sự gắn kết, ứng xử xã hội mà còn khởi xướng và định hướng hành vi, tôn trọng qui tắc thực hành các lễ nghi. Các nghi lễ truyền thống thường gắn liền với những món ăn mang tính biểu tượng như cơm lam, bánh sừng trâu và các loại rượu truyền thống, không chỉ đóng vai trò vật chất trong nghi thức cúng lễ và đãi khách mà còn hàm chứa ý nghĩa văn hóa - tinh thần sâu sắc, góp phần duy trì ký ức tập thể và bản sắc ẩm thực của cộng đồng. Qua điều tra, khảo sát, đa số người cho rằng việc chuẩn bị các món đặc sản như trên là yếu tố không thể thiếu, trong đó nhóm cư dân được điều tra ở xã Sông Kôn, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam (cũ) thể hiện mức độ đồng thuận cao nhất với tỷ lệ lên tới 97%.
Ngày nay, trong thế giới toàn cầu hoá, ngôn ngữ biểu tượng đã trở thành một kênh giao tiếp quan trọng giữa các nền văn hóa, ngôn ngữ và giữa con người ở các trình độ khác nhau. Tái hiện và sáng tạo các biểu tượng liên quan đến văn hóa ẩm thực trong các hoạt động du lịch cộng đồng, liên hoan ẩm thực, hội thi nấu ăn dân tộc góp phần khẳng định giá trị văn hóa địa phương, đồng thời trở thành “ngôn ngữ chung” để giao lưu giữa các dân tộc và với du khách. Việc ứng dụng các biểu tượng ẩm thực vào phát triển du lịch bền vững và giáo dục cộng đồng nhằm duy trì bản sắc, củng cố niềm tự hào dân tộc và góp phần vào sự đa dạng văn hóa của đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
*Trường Đại học Đông Á
Tài liệu tham khảo
1. Đinh Hồng Hải (2007), “Nghiên cứu biểu tượng và vấn đề tiếp cận nhân học biểu tượng ở Việt Nam”, in trong Kỷ yếu Hội nghị Thông báo dân tộc học, Viện Dân tộc học.
2. Vương Xuân Tình (2025), “Bản sắc ẩm thực của hai dân tộc thiểu số rất ít người Brâu và Rơ-măm”, Tạp chí Dân tộc học và Tôn giáo, số 1 (01), 2025, tr.54-69.
3. Trần Tấn Vịnh (2015), “Điêu khắc gỗ Cơ-tu”, Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội.
4. Trần Tấn Vịnh (2022), “Yếu tố thẩm mỹ trong văn hóa ẩm thực các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Đại học Đông Á, số 3 năm 2022, tr. 105-121.
5. Trần Tấn Vịnh (2025), “Những chiếc bánh thơm từ đại ngàn”, Tạp chí Heritage, tháng 12, năm 2025, tr. 58-61.
6. Nguyễn Đăng Vũ (2024), “Dấu xưa lưng chừng núi - Một vùng bản sắc Ca Dong”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 330-332
7. Lévi-Strauss, C.(1973). Structuralism and ecology. Social Science Information, 12(1), 7-23.
8. Hudson, S., Smith, C., Loughlin, M., & Hammerstedt, S. (2009). Symbolic and interpretive anthropologies. Retrieved December, 6, 2013.