Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Chính sách hỗ trợ về thông tin cho Người có uy tín - Thực trạng và giải pháp

Phương Liên - 21:51, 02/10/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Hỗ trợ về thông tin là chính sách quan trọng đối với Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, bởi muốn tuyên truyền, vận động người dân có hiệu quả, trước hết Người có uy tín phải được tiếp cận thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời. Trên cơ sở phân tích Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg, Quyết định số 28/2023/QĐ-TTg, Nghị định số 307/2026/NĐ-CP và kết quả thực hiện chính sách giai đoạn 2021-2025, bài viết đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra một số vấn đề đặt ra trong việc hỗ trợ về thông tin cho Người có uy tín và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách trong thời gian tới.

Từ khóa: Người có uy tín; Hỗ trợ về thông tin; Chính sách; Dân tộc thiểu số

Các ấn phẩm của Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo được bạn đọc vùng dân tộc thiểu số quan tâm, đón đọc
Các ấn phẩm của Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo được bạn đọc vùng dân tộc thiểu số quan tâm, đón đọc

1. Đặt vấn đề

Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) là những người được cộng đồng tín nhiệm và có khả năng tác động tích cực đến nhận thức, hành động của người dân. Ở nhiều bản làng, khi có những khó khăn, vướng mắc liên quan đến đất đai, sản xuất, giảm nghèo, bảo vệ rừng, giáo dục, văn hóa hay an ninh trật tự… Người có uy tín thường được đồng bào tìm đến để hỏi, trao đổi và nghe giải thích. Uy tín của Người có uy tín trong đồng bào DTTS được hình thành từ sự gắn bó với cộng đồng, sự am hiểu phong tục, tập quán, tiếng nói, quan hệ dòng họ, tâm lý, tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào và ở phương thức giải quyết những vấn đề đang diễn ra trong đời sống một cách thấu tình đạt lý. Do đó, khi họ truyền đạt thông tin dễ được đồng bào tiếp nhận hơn, thậm chí có sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng.

Vai trò quan trọng đó của Người có uy tín đặt ra yêu cầu muốn nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động thì họ phải được cung cấp thông tin đúng, đủ, nhanh. Nếu thông tin đến với Người có uy tín chậm, thiếu hoặc khó hiểu sẽ dẫn đến khả năng giải thích, thuyết phục của họ bị hạn chế. Yêu cầu này càng trở nên rõ hơn khi phương thức tiếp nhận thông tin của người dân hiện nay đã thay đổi mạnh mẽ. Internet, đặc biệt là mạng xã hội đã rút ngắn đáng kể khoảng cách giữa thông tin và người tiếp nhận. Qua khảo sát của Dự án điều tra cơ bản năm 2022 của Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo), “có 66% người dân sử dụng điện thoại di động, trong đó có 35% sử dụng điện thoại thông minh để có thể tiếp cận thông tin qua các kênh hiện đại”[3].

Theo kết quả điều tra thu thập thông tin 53 DTTS lần thứ III năm 2024, tỷ lệ hộ DTTS sử dụng thiết bị để kết nối Internet tại nhà đạt tới 85,6%. Nếu xem việc sử dụng thiết bị để kết nối Internet tại nhà là hộ đã tiếp cận Internet thì có thể nói rằng tình trạng hộ DTTS được tiếp cận Internet đã được cải thiện và có xu hướng tăng đáng kể theo thời gian cùng với xu hướng phát triển chung của xã hội. Trong 53 DTTS, 21/53 DTTS có tỷ lệ hộ sử dụng thiết bị để kết nối Internet tại nhà đạt từ ngưỡng bình quân chung 85,6% trở lên, trong đó có 12 DTTS có tỷ lệ rất cao (trên 90%). Hầu hết các DTTS còn lại có tỷ lệ hộ tiếp cận Internet từ 56% trở lên.

Song hành với việc mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin cho người DTTS là những nguy cơ về tình trạng tin giả, tin xấu, độc về chính sách dân tộc, tôn giáo. Đáng quan ngại là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống cộng đồng “thường có xu hướng lan truyền nhanh hơn tin chính thống từ các phương tiện truyền thông. Đây là một thách thức không chỉ riêng với Việt Nam, mà còn với tất cả các quốc gia trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam đang thuộc nhóm các quốc gia có tỷ lệ người dân sử dụng mạng xã hội cao trên thế giới và xu hướng đọc tin trên mạng xã hội ngày càng tăng[6]. Vì vậy, Người có uy tín ngày nay không chỉ cần nắm chắc tình hình cộng đồng mà còn phải biết tiếp cận, kiểm chứng và truyền đạt thông tin qua các phương tiện số. Đặc biệt là “khi xuất hiện tin giả, thông tin xấu, độc, phải kịp thời “giải độc” thông tin nhanh chóng bằng nguồn tin xác thực, tin cậy giúp người dân nắm rõ bản chất vấn đề, không để những tin này ảnh hưởng xấu đến niềm tin của người dân với Đảng, Nhà nước và chế độ” [6].

Trong bối cảnh đó, chính sách của Nhà nước hỗ trợ về thông tin cho Người có uy tín đã từng bước được hoàn thiện. Quyết định số 12/QĐ-TTg ngày 6/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ mới chỉ quy định Người có uy tín được cung cấp thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tình hình phát triển kinh tế - xã hội; quốc phòng, an ninh; kết quả thực hiện các chương trình, dự án và chính sách dân tộc tại địa phương; được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, chính sách dân tộc, kỹ năng hòa giải, tuyên truyền, vận động quần chúng. Nhưng tại Quyết định số 28/QĐ-TTg ngày 23/11/2023 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 12/QĐ-TTg đã bổ sung chính sách Người có uy tín được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng khai thác, sử dụng và xử lý thông tin trên Internet, mạng xã hội và kỹ năng hòa giải, tuyên truyền, vận động quần chúng. Ngày 4/8/2026, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 307/NĐ-CP quy định về lựa chọn, công nhận, chính sách đối với Người có uy tín trong vùng đồng bào DTTS và một số chính sách đối với tổ chức, cá nhân người DTTS tiếp tục kế thừa và phát triển những nội dung trong chính sách hỗ trợ về thông tin quy định tại hai Quyết định trên của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời bổ sung: “Căn cứ vào điều kiện của địa phương, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh nghiên cứu, trình Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh ban hành các chính sách hỗ trợ về thông tin với số lượng, tần suất cao hơn; thông tin trên môi trường số hoặc các hình thức khác phù hợp” cho Người có uy tín.

Chính sách hỗ trợ về thông tin cho Người có uy tín còn có một thay đổi quan trọng. Quyết định số 28/QĐ-TTg quy định Người có uy tín được cấp không thu tiền “một ấn phẩm báo của cơ quan ngôn luận thuộc cơ quan quản lý nhà nước hoạt động trong lĩnh vực dân tộc và công tác dân tộc (01 tờ/người/kỳ/tháng), bảo đảm điều kiện về tôn chỉ, mục đích hoạt động thông tin, tuyên truyền về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, có năng lực và kinh nghiệm xuất bản, phát hành báo cho Người có uy tín”. Nhưng tại Nghị định số 307/NĐ-CP, chính sách này được sửa đổi như sau: Người có uy tín được cấp “một ấn phẩm báo chí (01 tờ/người/ kỳ/tháng) của cơ quan báo chí cấp trung ương có tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền chuyên sâu về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo”. Như vậy, phạm vi cơ quan tham gia cung cấp báo chí được xác định rộng hơn, giúp địa phương gia tăng sự lựa chọn được ấn phẩm có chất lượng, có khả năng cung cấp thông tin chuyên sâu về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo cho Người có uy tín. Quy định mới cũng phù hợp với yêu cầu về chất lượng thông tin. Người có uy tín không thể chỉ nhận báo để “có báo đọc”. Họ cần thông tin chuyên sâu để giải thích cho cộng đồng, nhất là về chính sách dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, bởi đó là những lĩnh vực đang ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống đồng bào DTTS.

Nghị định 307/NĐ-CP vừa kế thừa quy định trong hai Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, đó là Người có uy tín được cấp thêm một ấn phẩm báo chí của tỉnh hoặc loại hình cung cấp thông tin khác do tỉnh quyết định; đồng thời, tùy điều kiện thực tế, địa phương có thể trình HĐND cấp tỉnh ban hành chính sách cung cấp thông tin với số lượng, tần suất cao hơn, thông tin trên môi trường số hoặc bằng hình thức khác phù hợp. Như vậy, có thể thấy một cơ chế hỗ trợ về thông tin linh hoạt hơn cho Người có uy tín, đó là vừa có nguồn thông tin chuyên sâu ở cấp Trung ương, vừa có thông tin gắn với địa bàn và thông tin trên môi trường số.

2. Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ về thông tin và một số vấn đề đặt ra

Theo báo cáo tổng hợp từ các địa phương, cả nước hiện có 29.626 Người có uy tín trong đồng bào DTTS. Giai đoạn 2021-2025, các địa phương đã bố trí gần 500 tỷ đồng để thực hiện chế độ, chính sách đối với Người có uy tín. Tổ chức 1.423 hội nghị phổ biến, cung cấp thông tin cho 89.900 lượt Người có uy tín; tổ chức 984 lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho khoảng 58.496 lượt Người có uy tín tham gia; tổ chức 54 cuộc tham quan, giao lưu học tập kinh nghiệm ở trong huyện cho 1.659 lượt Người có uy tín; tổ chức 298 cuộc tham quan, giao lưu học tập kinh nghiệm trong tỉnh cho 12.811 lượt Người có uy tín; 348 cuộc thăm Thủ đô Hà Nội và các tỉnh khác cho 12.069 lượt Người có uy tín; cấp 04 loại báo cho Người có uy tín; tổ chức 2.841 cuộc cung cấp thông tin khác (như cấp bản tin hoặc các tài liệu, thông tin) cho 17.508 lượt người có uy có uy tín… Những con số trên cho thấy chính sách hỗ trợ về thông tin cho Người có uy tín đã được triển khai với quy mô khá lớn và thường xuyên. Nội dung thông tin không chỉ giới hạn ở việc phổ biến chủ trương, chính sách mà bao gồm kiến thức pháp luật, quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, công tác dân tộc, kỹ năng hòa giải, tuyên truyền và vận động quần chúng. Các địa phương đồng thời tổ chức cho Người có uy tín tham quan, giao lưu, học tập kinh nghiệm trong và ngoài tỉnh. Hoạt động cung cấp thông tin đã được gắn với yêu cầu phát huy vai trò của Người có uy tín, qua đó tạo điều kiện để Người có uy tín nâng cao nhận thức, kiến thức pháp luật và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách hỗ trợ về thông tin cho Người có uy tín đang đặt ra một số vấn đề sau:

Trước hết, một số nơi còn tổ chức hội nghị cung cấp thông tin theo cách đọc văn bản cứng nhắc, thiếu tương tác và minh họa trực quan khiến Người có uy tín khó nắm chắc những vấn đề cần thiết nhất, thậm chí có thể dẫn đến nhàm chán, không muốn nghe hoặc nghe cũng không hiểu, không nhớ được nội dung cốt lõi, đối lập với yêu cầu họ phải giải thích lại chính sách cho người dân bằng ngôn ngữ dễ hiểu và gắn với những tình huống cụ thể của bản làng.

Thứ hai, nhu cầu thông tin của Người có uy tín không giống nhau. Một già làng tuổi cao cần được cập nhật sâu hơn về chính sách pháp luật, trong khi một người trẻ có uy tín lại có nhu cầu được trang bị thêm kỹ năng tìm kiếm, kiểm chứng và xử lý thông tin trên mạng xã hội… Nếu cung cấp cùng một nội dung, cùng một cách thức cho tất cả Người có uy tín mà không tính đến sự khác biệt giữa các đối tượng sẽ khó phát huy hết hiệu quả.

Thứ ba, ấn phẩm in của các cơ quan báo chí vẫn có chiều sâu và giá trị lưu trữ, với các bài viết được biên tập kỹ, giàu tính phân tích, giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin chính thống và phản ánh đời sống xã hội. Tuy nhiên, Internet xuất hiện đã khiến thông tin lan truyền với tốc độ nhanh hơn loại hình báo chí in. Một vấn đề vừa xảy ra tại đâu đó đã có thể được bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức hội nghị hoặc phát hành tài liệu chính thức. Vì vậy, tiếp tục duy trì chính sách bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng khai thác, sử dụng, xử lý thông tin trên Internet, mạng xã hội cho Người có uy tín là rất cần thiết nhưng nội dung và phương thức tập huấn cần được đổi mới, tập trung vào những kỹ năng thiết thực như tìm kiếm nguồn tin chính thống, kiểm tra và đối chiếu thông tin, nhận diện nội dung sai lệch, xác định những thông tin cần kiểm chứng trước khi chia sẻ và cách giải thích lại thông tin cho người dân…

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách

Suy cho cùng thì việc tuyên truyền, vận động của Người có uy tín với cộng đồng chính là một hình thức truyền thông chính sách công. Khi người dân được giải thích để hiểu rõ chính sách, họ sẽ không đứng ngoài cuộc mà xem mình là chủ thể tham gia thực hiện chính sách, đồng hành cùng với chính quyền địa phương trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Do vậy, để nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách công của Người có uy tín, việc hỗ trợ về thông tin “đúng, trúng, đủ, nhanh” cho họ là cần thiết.

Một là, hỗ trợ về thông tin cho Người có uy tín cần quan tâm đến những chính sách có tác động trực tiếp đến đời sống của đồng bào như đất đai, giảm nghèo, bảo vệ rừng, giáo dục, y tế, văn hóa, an ninh trật tự... Thông tin cần biên soạn ngắn gọn, dễ sử dụng, có phần hỏi - đáp và tình huống cụ thể, giải thích cặn kẽ những nội dung người dân dễ hiểu sai hoặc thường đặt câu hỏi; không nên coi việc trao cho Người có uy tín một tập văn bản pháp luật là đã hoàn thành nhiệm vụ cung cấp thông tin.

Hai là, kết hợp cung cấp ấn phẩm báo chí với các phương thức cung cấp thông tin trên môi trường số. Báo chí là nguồn thông tin quan trọng và cần tiếp tục duy trì. Tuy nhiên, các địa phương cần nghiên cứu kỹ điểm mới được quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 9 Nghị định số 307/NĐ-CP, đó là Người có uy tín được cấp không thu tiền “một ấn phẩm báo chí (01 tờ/người/kỳ/tháng) của cơ quan báo chí cấp trung ương có tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền chuyên sâu về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo” để cân nhắc lựa chọn cơ quan báo chí tham gia thực hiện chính sách hỗ trợ cung cấp thông tin sao cho phù hợp. Bên cạnh đó, bổ sung các hình thức cung cấp thông tin phù hợp với cách tiếp nhận thông tin hiện nay như: bản tin điện tử, tài liệu ngắn, video, nội dung âm thanh hoặc các nhóm thông tin chuyên sâu dành cho Người có uy tín. Có như vậy, việc bồi dưỡng kỹ năng số mới thực sự giúp Người có uy tín chủ động hơn trước những luồng thông tin phức tạp và phát huy tốt vai trò định hướng, giải thích thông tin trong cộng đồng. Ba là, coi kỹ năng xử lý thông tin là một nội dung tập huấn trọng tâm. Người có uy tín cần được hướng dẫn cách xác định nguồn tin chính thống, kiểm tra thông tin chưa rõ nguồn gốc, nhận diện thông tin sai lệch và tìm kiếm văn bản pháp luật liên quan. Quan trọng hơn, họ cần biết cách giải thích thông tin cho người dân sao cho đúng bản chất nhưng dễ hiểu. Đây là điểm khác biệt giữa “được cung cấp thông tin” và “có năng lực sử dụng thông tin”.

Bốn là, xây dựng cơ chế để Người có uy tín phản ánh thông tin từ cơ sở. Sau mỗi đợt tập huấn hoặc cung cấp thông tin, nên có kênh tiếp nhận câu hỏi, kiến nghị và phản ánh của Người có uy tín. Những câu hỏi, phản ánh được lặp lại ở nhiều địa phương có thể là dấu hiệu cho thấy một chính sách đang khó hiểu hoặc cách truyền đạt chưa phù hợp để cơ quan chức năng nghiên cứu, điều chỉnh cách cung cấp thông tin.

Năm là, đánh giá hiệu quả chính sách hỗ trợ về thông tin bằng khả năng phát huy vai trò của Người có uy tín. Không nên chỉ đánh giá chính sách bằng số hội nghị đã tổ chức, số lượt người tham dự hay số ấn phẩm được cấp. Những chỉ số này cần thiết để quản lý nhưng chưa đủ để đánh giá tác động, mà phải là sau khi được cung cấp thông tin, Người có uy tín có giải thích chính sách tốt hơn không? Có giúp người dân hiểu và thực hiện chính sách đúng không? Có phát hiện và phản ánh sớm những vấn đề phát sinh ở cơ sở không? Đó mới là những tiêu chí phản ánh trực tiếp giá trị của chính sách hỗ trợ về thông tin đối với Người có uy tín.

4. Kết luận

Hỗ trợ về thông tin là một trong những chính sách quan trọng nhằm phát huy vai trò của Người có uy tín. Kết quả thực hiện giai đoạn 2021-2025 cho thấy các địa phương đã dành nguồn lực đáng kể cho hoạt động này, với 1.423 hội nghị cung cấp thông tin cho 89.900 lượt Người có uy tín, 984 lớp tập huấn cho khoảng 58.496 lượt người và hàng nghìn hoạt động cung cấp tài liệu, báo chí, giao lưu, học tập kinh nghiệm. Những kết quả đó khẳng định chính sách đã tạo được các kênh thông tin tương đối ổn định cho Người có uy tín. Tuy nhiên, sự thay đổi của môi trường thông tin đang đặt ra yêu cầu mới. Người có uy tín không thể chỉ biết mà cần hiểu chính sách, biết kiểm chứng thông tin và có khả năng giải thích lại cho cộng đồng. Nghị định số 307/NĐ-CP đã mở thêm dư địa để thực hiện những yêu cầu này khi cho phép địa phương chủ động lựa chọn hình thức cung cấp thông tin và tiếp tục nhấn mạnh việc trang bị kỹ năng khai thác, sử dụng, xử lý thông tin trên Internet, mạng xã hội.

Khi Người có uy tín được tiếp cận thông tin đủ, chính xác, kịp thời, biết cách kiểm chứng và truyền đạt lại thông tin, họ sẽ là cầu nối giúp người dân hiểu, tin và thực hiện đúng những chủ trương, chính sách đang được triển khai ngay tại nơi mình sinh sống .

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2026), Báo cáo tổng kết thực hiện Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg và Quyết định số 28/2023/QĐ-TTg giai đoạn 2021-2025.

2. Chính phủ (2026), Nghị định số 307/2026/NĐ-CP quy định về Người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và một số chính sách đối với tổ chức, cá nhân người dân tộc thiểu số.

3. Học viện Dân tộc (2025), Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ “Kết quả công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn 2016-2025”.

4. Thủ tướng Chính phủ (2018), Quyết định số 12/2018/ QĐ-TTg ngày 06/3/2018 về tiêu chí lựa chọn, công nhận Người có uy tín và chính sách đối với Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số.

5. Thủ tướng Chính phủ (2023), Quyết định số 28/2023/ QĐ-TTg ngày 23/11/2023 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg.

6. Phạm Anh Tuấn (2022), Sự phát triển của mạng xã hội và khả năng ứng dụng các lợi thế, tiện ích của mạng xã hội trong công tác thông tin, tuyên truyền ở Việt Nam, https://hvctcand.bocongan.gov.vn/su-phat-trien-cua mang-xa-hoi-va-kha-nang-ung-dung-cac-loi-the-tien ich-cua-mang-xa-hoi-trong-cong-tac-3764.