Cán bộ xã Môn Sơn (Nghệ An) hướng dẫn đồng bào dân tộc thiểu số hoàn thiện hồ sơ trước khi gửi lên dịch vụ công.Từ khóa: Chuyển đổi số; Chính sách dân tộc; Dữ liệu công; Dịch vụ số bao trùm; Sinh kế; Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số trong công tác dân tộc trên thực tế không thể đơn thuần là có bao nhiêu cơ sở dữ liệu, phần mềm và thủ tục được đưa lên môi trường mạng. Giá trị của công nghệ phải được nhìn từ ba thay đổi: nhu cầu được nhận diện sớm, quyền lợi dễ tiếp cận và kết quả sau hỗ trợ được theo dõi. Nếu quy trình vẫn khó hiểu, đòi hỏi thiết bị tốt hoặc buộc người dân khai lại thông tin Nhà nước đã có, chi phí cơ hội chỉ đơn thuần là chuyển từ cơ quan quản lý sang người sử dụng.
Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2024 cho thấy 85,6% hộ gia đình người dân tộc thiểu số có Internet tại nhà; ở nông thôn là 84,2%. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ có máy tính để bàn hoặc xách tay chỉ hơn 10% (Bộ Dân tộc và Tôn giáo, 2025; Trần Hồng Quỳnh, 2026). “Có kết nối” vì vậy chưa đồng nghĩa với “có khả năng thụ hưởng”. Thiết bị, đường truyền, kỹ năng, ngôn ngữ và hỗ trợ tại chỗ đều ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng.
Những thay đổi gần đây trong khuôn khổ chính sách cho phép đặt vấn đề trên một bình diện rộng hơn. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia, Chiến lược công tác dân tộc, Nghị quyết số 57-NQ/TW và Chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn mới đều coi dữ liệu, nền tảng dùng chung là hạ tầng quản trị nền tảng (Thủ tướng Chính phủ, 2020; Chính phủ, 2022; Thủ tướng Chính phủ, 2022; 2026; Bộ Chính trị, 2024; Quốc hội, 2025b). Kế hoạch số 447/KH-BDTTG và các Thông tư số 02, 04/2026/TT-BDTTG cụ thể hóa định hướng này trong công tác dân tộc (Bộ Dân tộc và Tôn giáo, 2026a, 2026b, 2026c).
2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, khoảng cách số được xem xét từ khả năng sử dụng công nghệ một cách có ý nghĩa, chứ không chỉ từ độ bao phủ mạng Internet hay sở hữu thiết bị số. Bao trùm số hình thành khi kết nối được chuyển thành quyền lợi, cơ hội kinh tế và năng lực tham gia xã hội (ITU, không năm; World Bank, 2023). Chu trình chính sách vì vậy gồm ba công đoạn cơ bản: nhận diện nhu cầu; cung cấp quyền lợi, dịch vụ; và theo dõi kết quả sau hỗ trợ. Dữ liệu của công đoạn sau phải quay lại để điều chỉnh công đoạn trước.
Bài viết dựa trên thực trạng công tác chuyển đổi số của các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi gắn với phân tích văn bản về chuyển đổi số, dữ liệu, công tác dân tộc, Chương trình Mục tiêu quốc gia; kết quả Điều tra năm 2024; và ng hiên cứu của ITU, UNESCO, UNDP, Ngân hàng Thế giới. Tài liệu được đối chiếu theo vấn đề, chủ thể, chức năng số và kết quả cần đo. Do không có điều tra sơ cấp, khung đề xuất cần được kiểm chứng bằng dữ liệu đường cơ sở, đánh giá trước - sau và nghiên cứu định tính tại địa bàn thí điểm.
3. Những nguy cơ tạo thành điểm nghẽn cần xử lý trong thực tế
3.1. Dữ liệu có thể phân tán và nặng về báo cáo đầu vào
Trong thực tế, thông tin về dân cư, nghèo, nhà ở, đất đai, giáo dục, y tế, việc làm và thụ hưởng chính sách hiện nay đang nằm ở nhiều hệ thống, có tiêu chí cập nhật khác nhau. Quá trình liên thông chưa kịp thời có thể dẫn đến thực trạng địa phương phải tổng hợp lại, người dân khai nhiều lần, cơ quan quản lý vẫn khó phát hiện bỏ sót hoặc trùng lặp. Ví dụ, trong các Chương trình Mục tiêu quốc gia, hệ thống quản lý thông tin chủ yếu ghi nhận vốn, công trình và số người đã nhận hỗ trợ, nhưng ít có khả năng theo dõi sự thay đổi của đời sống người 24 dân sau 6 hoặc 12 tháng thụ hưởng chính sách; vì vậy chưa đủ căn cứ để biết mô hình nào nên tiếp tục, điều chỉnh hay dừng lại.
3.2. Dịch vụ số chưa thuận tiện cho người cần hỗ trợ nhất
Nhiều dịch vụ giả định được thiết lập người dùng có điện thoại thông minh với đường truyền ổn định và hiểu thuật ngữ hành chính. Giao diện một vài phần mềm ứng dụng còn nhiều chữ, xác thực phức tạp hoặc thông báo bằng ngôn ngữ chuyên môn khiến một bộ phận người dân vẫn phải nhờ người khác thao tác. Kinh nghiệm tái thiết kế dịch vụ công số tại Thừa Thiên Huế cho thấy nhiều vướng mắc chỉ xuất hiện khi quan sát người dân thực hiện thủ tục cụ thể, không thể nhận ra qua kiểm tra kỹ thuật (UNDP, 2022).
3.3. Nguồn lực sinh kế chưa được nối đến kết quả
Các chính sách hỗ trợ vốn, giống, thiết bị, tập huấn và xúc tiến thương mại trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thường thiếu liên kết. Người dân có thể được mở gian hàng nhưng sản phẩm đôi khi lại chưa đạt chuẩn; được đào tạo nhưng thiếu vốn; hoặc kết nối với doanh nghiệp mà không có cơ chế theo dõi, hỗ trợ kịp thời. Cán bộ xã, trưởng thôn, người có uy tín và tổ công nghệ số cộng đồng hỗ trợ “chặng cuối”, nhưng thường kiêm nhiệm, thiếu tài liệu và công cụ. Một nền tảng tốt vẫn khó tạo kết quả nếu các khoảng trống này không được xử lý đồng bộ.
4. Khung ba trụ cột về chuyển đổi số trên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
4.1. Dữ liệu phục vụ điều hành chính sách
Ở trụ cột Thứ nhất, trọng tâm là tạo nguồn thông tin đủ tin cậy để nhận diện nhu cầu, theo dõi thụ hưởng và đánh giá kết quả thực hiện chính sách. Không nên xây thêm cơ sở dữ liệu biệt lập. Cần xác định bộ thông tin tối thiểu cho công tác dân tộc, đối chiếu với nguồn hiện có, thống nhất trách nhiệm cập nhật và chỉ bổ sung phần còn thiếu. Dữ liệu cá nhân phục vụ giải quyết quyền lợi; điều hành vĩ mô chủ yếu dùng dữ liệu tổng hợp hoặc đã ẩn danh.
Mỗi thôn, bản và địa bàn đặc biệt khó khăn có thể có một “hồ sơ phát triển số”, phản ánh thiếu hụt, nguồn lực và các chương trình đang đầu tư. Quy định chính sách đồng thời được chuẩn hóa thành dữ liệu về đối tượng, điều kiện, mức hỗ trợ, thủ tục, thời hạn. Đối chiếu hai nguồn có thể đủ thông tin để cảnh báo người đủ điều kiện thụ hưởng chính sách nhưng chưa tiếp cận được, quá trình triển khai chậm tiến độ hoặc có thể có những hỗ trợ trùng nhau. Trong hoàn cảnh này, cần xác định công nghệ chỉ hỗ trợ; quyết định về quyền lợi vẫn thuộc cơ quan có thẩm quyền và phải bảo đảm quyền kiểm tra, hỏi đáp chính sách của cấp cơ sở và người dân.
4.2. Dịch vụ số dễ tiếp cận và có hỗ trợ cho các đối tượng đặc thù
Với trụ cột Thứ hai, điều cốt lõi là hành trình thực hiện chính sách của người dân trên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Thay vì cung cấp thêm ứng dụng, cần có lớp dịch vụ kết nối với định danh điện tử, Cổng Dịch vụ công quốc gia và hệ thống địa phương. Dịch vụ phải chạy trên điện thoại phổ thông, trong điều kiện mạng yếu, dùng ngôn ngữ gần gũi, dễ hiểu và cho phép chuyển sang tổng đài hoặc điểm hỗ trợ mà không phải làm lại. Thông tin hợp pháp đã có nên được điền trước để người dân kiểm tra.
Kho tri thức chính sách gồm văn bản gốc, hướng dẫn ngắn gọn và nội dung nghe - nhìn bằng tiếng dân tộc thiểu số đối với những chính sách có nhu cầu lớn. Trợ lý văn bản, tiếng nói chỉ trả lời từ nội dung đã phê duyệt, phải dẫn nguồn, ghi thời điểm cập nhật và chuyển câu hỏi ảnh hưởng quyền lợi cho cán bộ. Ngôn ngữ được lựa chọn theo nhu cầu, dữ liệu sẵn có và khả năng huy động người bản ngữ kiểm thử; chất lượng phải đo bằng mức độ hiểu đúng và hoàn thành công việc (UNESCO, 2023; UNESCO, 2025).
4.3. Kết nối nguồn lực cho sinh kế
Trụ cột thứ ba nhằm kết nối nhu cầu đã được xác minh của người dân với doanh nghiệp, tổ chức tài chính, cơ sở đào tạo và đơn vị khoa học - kỹ thuật. Đây không phải một sàn thương mại điện tử mới. Mỗi nhu cầu phải có căn cứ, đầu mối theo dõi; mỗi đề nghị hỗ trợ phải nêu trách nhiệm, thời hạn và kết quả cam kết. Với sinh kế, điểm kết thúc không phải tập huấn hay bàn giao thiết bị, mà là khả năng đáp ứng tiêu chuẩn, quản lý chi phí, tiếp cận logistics, thực hiện hợp đồng và duy trì đầu ra cho sản phẩm.
Quy trình kết nối này đòi hỏi phải được thí điểm, tổ chức đánh giá kết quả trước khi nhân rộng. Thời gian đầu chỉ nên chọn một số chuỗi đã có tín hiệu thị trường và đối tác cùng chịu trách nhiệm. Nhà nước cung cấp tiêu chuẩn, dữ liệu, hạ tầng kết nối và cơ chế bảo vệ; hoạt động kinh doanh do doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân thực hiện. Kết quả được đo bằng thu nhập, việc làm, tỷ lệ thực hiện hoặc tái ký hợp đồng và khả năng tự vận hành sau hỗ trợ. Thông tin từ dịch vụ và mô hình sinh kế phải trở lại hệ thống điều hành, tạo vòng phản hồi giữa nhu cầu, hỗ trợ và kết quả.
5. Điều kiện quản trị dữ liệu và tiếp cận lấy người dân làm trung tâm
5.1. Quản trị dữ liệu và giới hạn tự động hóa
Trong quản trị dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, kiến trúc nền tảng số chuyên ngành cần thiết phải gắn với định danh điện tử, nền tảng tích hợp và các cơ sở dữ liệu hiện có; chỉ thu thập mới khi chưa có nguồn hợp pháp, đủ chất lượng. Luật Dữ liệu năm 2024 và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 yêu cầu làm rõ mục đích xử lý, phân quyền, nhật ký truy cập, thời hạn lưu trữ và xử lý sự cố (Quốc hội, 2024; Quốc hội, 2025a). Đặc biệt, dữ liệu về dân tộc, cộng đồng cũng phải được đánh giá nguy cơ kỳ thị, tái nhận diện; số hóa ngôn ngữ, tri thức truyền thống cần có sự tham gia và chia sẻ lợi ích hài hoà với cộng đồng và người dân.
Trong thực tế, công cụ phân tích có thể cảnh báo tái nghèo, thiếu nước hoặc hồ sơ bất thường, nhưng không được tự quyết định đối tượng và quyền lợi. Dữ liệu lịch sử có thể chứa thiếu hụt, thiên lệch và tiếp tục bỏ sót nhóm ít xuất hiện. Mọi gợi ý ảnh hưởng đáng kể phải được cán bộ có thẩm quyền xem xét, có người chịu trách nhiệm và có kênh để người dân yêu cầu kiểm tra lại. Tốc độ xử lý không thể thay thế yêu cầu giải trình trong thực hiện chính sách để đảm bảo mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng sống của người dân.
5.2. Dịch vụ đa kênh và vai trò của con người
Trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, bao trùm số không có nghĩa mọi người phải tự làm thủ tục trực tuyến. Tổng đài, điểm hỗ trợ cộng đồng và cán bộ cơ sở là một phần của kiến trúc dịch vụ, nhất là với người cao tuổi, người khuyết tật hoặc gặp rào cản ngôn ngữ. Lực lượng hỗ trợ cần được đào tạo theo tình huống, có tài liệu, quyền truy cập phù hợp và công cụ theo dõi. Hiệu quả không chỉ được đo bằng số trường hợp giải quyết thành công, thời gian xử lý mà còn phải đánh giá được khả năng người dân tự thực hiện ở những lần sau.
6. Kết luận và kiến nghị
Chuyển đổi số vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cần được xem là đổi mới quản trị, không phải danh mục dự án công nghệ. Khung ba trụ cột liên kết dữ liệu điều hành, dịch vụ dễ tiếp cận và nguồn lực sinh kế cần được nhìn nhận như những thành tố của một chu trình khép kín. Bộ Dân tộc và Tôn giáo có vai trò kiến tạo chuẩn dữ liệu, nội dung chính sách, yêu cầu trải nghiệm và khung đánh giá; bộ chuyên ngành chịu trách nhiệm về dữ liệu, nghiệp vụ; địa phương xác minh nhu cầu, tổ chức hỗ trợ; doanh nghiệp, tổ chức tài chính và cơ sở nghiên cứu tham gia theo cam kết.
Vì vậy, khi đánh giá kết quả của chuyển đổi số trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, điều cần xem xét không phải là số nền tảng hay tài khoản được tạo, mà là quyết định chính sách có chính xác, kịp thời hơn không; người dân có giảm thời gian, chi phí và nhận quyền lợi đầy đủ hơn không; hỗ trợ sinh kế có tạo thu nhập và năng lực tự chủ hay không. Khi các kết quả này được đo nhất quán, công nghệ mới thực sự góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), Kết quả Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024.
3. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2026a), Kế hoạch số 447/ KH-BDTTG ngày 13/02/2026 về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030.
4. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2026b), Thông tư số 02/2026/ TT-BDTTG ngày 04/6/2026 hướng dẫn một số nội dung Hợp phần thứ hai Chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030.
5. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2026c), Thông tư số 04/2026/ TT-BDTTG ngày 31/7/2026 hướng dẫn quản lý, theo dõi trình độ phát triển vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026-2030.
6. Chính phủ (2022), Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/01/2022 ban hành Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
7. Quốc hội (2024), Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 ngày 30/11/2024.
8. Quốc hội (2025a), Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 ngày 26/6/2025. 9. Quốc hội (2025b), Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào 26 DTTS&MN giai đoạn 2026-2035.
10. Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
11. Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 1657/ QĐ-TTg ngày 30/12/2022 ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
12. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 1266/ QĐ-TTg ngày 14/7/2026 phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045.
13. Trần Hồng Quỳnh (2026), “Một số giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi”, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo, ngày 28/3/2026.