Công an xã Mường Động (tỉnh Phú Thọ) hướng dẫn người già, đồng bào dân tộc thiểu số tích hợp tiện ích trên VNeIDTừ khóa: Chính quyền địa phương hai cấp; Quản trị nhà nước; Lĩnh vực dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; Sở Dân tộc và Tôn giáo.
1. Đặt vấn đề
Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy phân cấp, phân quyền, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp được xác định là những bước đi quan trọng nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo trong quản lý, giảm tầng nấc trung gian, nâng cao tính chủ động của địa phương và tăng cường trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ.
Đối với lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo, yêu cầu đổi mới càng trở nên cấp thiết khi vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) đang đứng trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững; các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng đa dạng. Thực tiễn đó đòi hỏi bộ máy quản lý phải đủ linh hoạt để giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh từ cơ sở.
Sau một năm vận hành, mô hình quản lý trong lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo bước đầu tạo ra những chuyển biến tích cực về tổ chức bộ máy, phương thức điều hành và hiệu quả thực thi nhiệm vụ. Tuy vậy cũng bộc lộ một số khó khăn liên quan đến tổ chức bộ máy, số lượng, năng lực đội ngũ cán bộ, cơ chế phối hợp và điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ ở cơ sở.
Trên cơ sở nghiên cứu các chủ trương của Đảng, quy định của pháp luật và kết quả sơ kết một năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, bài viết phân tích những thay đổi trong tổ chức hệ thống cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; đánh giá hiệu quả quản trị nhà nước của mô hình mới, qua đó góp phần bổ sung cơ sở thực tiễn cho việc tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo.
2. Từ đổi mới cơ cấu tổ chức đến kiến tạo thiết chế quản trị mới
Triển khai vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp tạo ra bước chuyển quan trọng trong tổ chức hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc, tôn giáo. Sau quá trình sắp xếp, việc thống nhất đầu mối quản lý đã trở thành xu hướng chủ đạo.
Thứ nhất, đối với cấp tỉnh. Trong 34 tỉnh, thành phố, có 28 địa phương thành lập Sở Dân tộc và Tôn giáo, chiếm 82,4%; 06 địa phương giao Sở Nội vụ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo trên địa bàn. Sự ra đời của Sở Dân tộc và Tôn giáo đặc biệt có ý nghĩa đối với lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo vốn có phạm vi quản lý rộng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp và chịu tác động trực tiếp từ đặc điểm văn hóa, xã hội của từng địa phương. Khi các chức năng quản lý được tập trung vào một đầu mối, khả năng phối hợp trong xây dựng và thực thi chính sách được nâng lên, giảm nguy cơ chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ.
06 địa phương lựa chọn mô hình tổ chức khác là biểu hiện của sự phân cấp, phân quyền trong quản trị nhà nước hiện đại. Trung ương chỉ quy định khung về tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh. Địa phương chủ động lựa chọn mô hình tổ chức phù hợp với quy mô dân số, đặc điểm dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo và điều kiện phát triển của từng địa bàn, bảo đảm khả năng thích ứng với sự đa dạng của thực tiễn địa phương.
Về biên chế, 28 Sở Dân tộc và Tôn giáo được giao 1.420 biên chế, hiện có 1.233 biên chế, đạt 87% số được giao. Đối với 6 địa phương không thành lập Sở Dân tộc và Tôn giáo cấp tỉnh, số biên chế được giao có vị trí việc làm về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo là 212, bình quân 20 biên chế/Sở, số lượng hiện có đạt 88% số biên chế được giao.
Do có sự khác biệt về quy mô và đặc điểm địa phương nên mô hình tổ chức các phòng chuyên môn và tương đương trong Sở Dân tộc và Tôn giáo chưa có sự thống nhất tuyệt đối. Đối với phòng chuyên môn, một số địa phương bố trí theo mô hình chia tách chuyên sâu: Phòng Chính sách dân tộc, Phòng Công tác dân tộc, Phòng Tuyên truyền pháp luật, Phòng Kế hoạch-Tổng hợp, Phòng Tôn giáo…, song cũng có địa phương thực hiện mô hình phòng đa năng, lồng ghép nhiệm vụ. Một số địa phương lại lựa chọn mô hình thành lập Ban Dân tộc, Ban Tôn giáo hoặc Ban Dân tộc - Tôn giáo trực thuộc Sở Dân tộc và Tôn giáo hoặc Sở Nội vụ.
Thứ hai, đối với cấp xã. Nhiệm vụ công tác dân tộc, tôn giáo được giao cho Phòng Văn hóa-Xã hội thực hiện. Tổng số cán bộ, công chức được bố trí quản lý, theo dõi công tác dân tộc, tôn giáo trên địa bàn cấp xã có mặt 8.569 biên chế, trong đó: Chủ tịch xã phụ trách chiếm 5%, Phó Chủ tịch xã phụ trách chiếm 24%, Trưởng phòng phụ trách chiếm 11%, Phó phòng phụ trách chiếm 24%, công chức chuyên trách chiếm 7%, công chức kiêm nhiệm chiếm tới 29%.
Thứ ba, tổ chức lại hệ thống cơ quan chuyên môn tạo tiền đề cho đổi mới phương thức quản lý nhà nước. Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã rà soát, đánh giá tính khả thi của các nhiệm vụ phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền. Kết quả rà soát cho thấy các nhiệm vụ phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền phù hợp với yêu cầu quản lý và điều kiện, khả năng thực hiện của chính quyền địa phương hai cấp.
Việc triển khai hiệu quả các nhiệm vụ phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương đã tác động tích cực và tạo điều kiện thuận lợi để tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả quản lý, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Từ đó, tạo ra sự linh hoạt, chủ động cho địa phương, rút ngắn quy trình xử lý công việc và tính chịu trách nhiệm đến cùng đối với các quyết sách phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xử lý kịp thời các vụ việc tôn giáo phát sinh, đưa chính quyền đến gần dân, sát dân hơn.
Thiết chế quản trị mới còn tạo điều kiện nâng cao chất lượng phối hợp theo cả chiều dọc và chiều ngang. Theo chiều dọc, mối quan hệ giữa cơ quan quản lý ngành ở Trung ương với chính quyền địa phương được duy trì thông suốt thông qua một đầu mối thống nhất. Theo chiều ngang, sự phối hợp giữa Sở Dân tộc và Tôn giáo với các sở, ngành liên quan trong giải quyết các vấn đề liên ngành nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm an sinh xã hội, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và giữ vững ổn định chính trị - xã hội cũng trở nên thuận lợi hơn. Đây là sự thay đổi có ý nghĩa quan trọng, bởi hiệu quả quản trị hiện đại không chỉ phụ thuộc vào quyền hạn của từng cơ quan mà còn phụ thuộc vào năng lực phối hợp giữa các chủ thể trong hệ thống quản lý nhà nước.
Sự thống nhất về đầu mối quản lý, sự rõ ràng trong phân công nhiệm vụ và việc mở rộng phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình đã góp phần nâng cao hiệu lực điều hành của chính quyền địa phương. Mặc dù quá trình hoàn thiện mô hình vẫn cần thêm thời gian, song những kết quả bước đầu cho thấy hướng cải cách là phù hợp với yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại, tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả.
Thứ tư, tạo ra sự đột phá về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo. Quá trình tổ chức lại hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc, tôn giáo được triển khai đồng thời với cải cách thủ tục hành chính. Thực hiện Nghị định số 124/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã cắt giảm, bãi bỏ, đơn giản hóa 78/108 thủ tục hành chính, đạt 72,2%, vượt xa chỉ tiêu tối thiểu 30% mà Chính phủ đặt ra. Trong đó, lĩnh vực công tác dân tộc đã đơn giản hóa 5/5 (100%) theo hướng phân cấp mạnh từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về cấp Bộ, từ cấp Bộ về chính quyền địa phương thực hiện; cắt giảm 7 trình tự, thủ tục hành chính (đạt 36,84%); cắt giảm 12 thành phần hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính (đạt 32,43%); giảm 215 ngày giải quyết thủ tục hành chính (đạt 67,19%).
Trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, đã cắt giảm và đơn giản hóa 73/103 thủ tục hành chính, đạt 70,1%; trong đó bãi bỏ 32 thủ tục hành chính, đạt 31,68%, thay đổi thẩm quyền giải quyết 7 thủ tục hành chính theo hướng phân cấp từ trung ương xuống cấp tỉnh và chuyển thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính từ cấp huyện xuống cấp xã; đơn giản hóa 19 thủ tục hành chính; cắt giảm 10 thành phần hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính, đơn giản hóa 33/60 biểu mẫu để thực hiện 44 thủ tục hành chính (đạt 55%).
Đối với các địa phương, từ 01/01/2026 đến 30/5/2026, cấp tỉnh và cấp xã đã tiếp nhận 1.368 hồ sơ thủ tục hành chính trong lĩnh vực công tác dân tộc và tín ngưỡng, tôn giáo. Số hồ sơ trực tuyến của cả hai lĩnh vực chiếm 92%, tạo điều kiện để người dân, tổ chức và các cơ sở tôn giáo tiếp cận dịch vụ công thuận lợi hơn, giảm đáng kể sự phụ thuộc vào khoảng cách địa lý và các thủ tục hành chính trực tiếp.
Quyết định mang tính bước ngoặt là việc dịch chuyển toàn diện sang hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung dựa trên hạ tầng điện toán đám mây theo kiến trúc liên thông hệ thống chính quyền. Cấu hình thông mạng NDOP và tích hợp tài khoản định danh cá nhân VneID đã giúp tăng tỷ lệ hồ sơ trực tuyến tại Bộ Dân tộc và Tôn giáo lên 87,27%, tăng hơn 4 lần và ở địa phương đạt 92%, đảm bảo tính minh bạch tuyệt đối, triệt tiêu nhũng nhiễu, tiêu cực…
Những con số trên là minh chứng rõ nét cho hiệu năng, hiệu quả của bộ máy mới, hướng tới việc tối ưu hóa toàn bộ quá trình cung ứng dịch vụ công, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và nâng cao khả năng tiếp cận chính sách. Trong lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo, điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi đối tượng phục vụ chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và các tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo có phạm vi phân bố rộng. Đó cũng là biểu hiện của sự chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy quản lý hành chính sang kiến tạo, phục vụ, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền hành chính hiện đại, lấy người dân làm trung tâm của quá trình cải cách, góp phần củng cố niềm tin của đồng bào với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, vào quá trình vận hành bộ máy hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp trong giai đoạn tiếp theo.
3. Những vấn đề đặt ra trong quá trình hoàn thiện mô hình quản trị
Bên cạnh những kết quả bước đầu đạt được, thực tiễn một năm triển khai vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp đang đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
(i) Đối với cấp tỉnh, tiêu chí thành lập Sở Dân tộc và Tôn giáo tại Nghị định số 150/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và UBND xã, phường thuộc tỉnh, thành phố chưa phù hợp với thực tiễn quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo do chưa có tiêu chí về tín ngưỡng, tôn giáo. Mặt khác, còn 6 địa phương chưa thành lập Sở Dân tộc và Tôn giáo cấp tỉnh, trong đó có những địa phương đủ tiêu chuẩn thành lập đã ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn.
Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức, tên gọi các phòng chuyên môn thuộc Sở chưa thống nhất đã ảnh hưởng đến việc xác định chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng tổ chức. Về biên chế, việc chưa có hướng dẫn thống nhất về số lượng biên chế tối thiểu của Sở Dân tộc và Tôn giáo gắn với chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm đối với địa phương sáp nhập và không sáp nhập cũng gây ra những khó khăn cho các địa phương trong việc bố trí biên chế cần thiết để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Tỷ lệ 87% biên chế có mặt tại các Sở đồng nghĩa với việc đang còn thiếu 13% số lượng người làm việc được giao, phần nào ảnh hưởng đến công việc.
Tại cấp xã, quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo là nhiệm vụ chuyên sâu đặc thù, đòi hỏi đội ngũ công chức phải có chuyên môn, kinh nghiệm. Tuy nhiên, công chức xã đang phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực khác nhau trong khi địa bàn quản lý rộng, nhiệm vụ phân cấp cho xã tăng lên đã ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết công việc. Nhiều xã còn thiếu cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý phụ trách lĩnh vực dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. Sau sáp nhập, tại một số xã, có nhiều tôn giáo cùng hoạt động đặt ra một số vấn đề trong công tác quản lý, ứng xử, giải quyết mâu thuẫn giữa các tôn giáo… Những tồn tại này đặt ra yêu cầu cần bổ sung số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thông qua đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, kỹ năng quản trị công, năng lực ứng dụng công nghệ số và khả năng phối hợp liên ngành. Trong điều kiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đề cao tính chủ động, linh hoạt, tự chịu trách nhiệm của địa phương thì năng lực đội ngũ cán bộ là yếu tố quyết định chất lượng thực thi chính sách.
(ii) Cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ như điện, Internet, máy tính… ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn thiếu thốn, chưa đồng bộ, có nơi còn xuống cấp gây ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ công.
(iii) Mặc dù chuyển đổi số đã đạt được nhiều kết quả tích cực, hạ tầng công nghệ và cơ sở dữ liệu chuyên ngành vẫn chưa đồng bộ. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu còn gặp khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng khai thác thông tin phục vụ công tác quản lý, dự báo và hoạch định chính sách. Trong bối cảnh quản trị công ngày càng dựa trên dữ liệu, việc tiếp tục đầu tư hoàn thiện hạ tầng số, chuẩn hóa dữ liệu và xây dựng cơ chế kết nối liên thông sẽ là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng quản trị trong thời gian tới.
Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo cần được triển khai đồng bộ trên ba phương diện: hoàn thiện thể chế và cơ chế phân cấp, phân quyền; bổ sung, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung để góp phần hình thành nền quản trị nhà nước hiện đại, minh bạch, thích ứng và phục vụ tốt hơn yêu cầu phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
4. Kết luận
Sau 1 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức và phương thức quản trị nhà nước ở Việt Nam. Giá trị cốt lõi của quá trình cải cách không chỉ ở việc sắp xếp lại cơ cấu tổ chức đơn thuần, mà còn ở sự hình thành một phương thức quản trị mới dựa trên nguyên tắc tinh gọn bộ máy, thống nhất đầu mối, phân định rõ thẩm quyền, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình và nâng cao chất lượng phục vụ người dân. Những tồn tại, hạn chế trong giai đoạn đầu triển khai không thể phủ nhận được tính đúng đắn của mô hình cải cách.
Để tiếp tục phát huy hiệu quả bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc và tôn giáo, cần tập trung hoàn thiện đồng bộ thể chế về phân cấp, phân quyền và cơ chế phối hợp giữa các cấp chính quyền; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực quản trị, chuyên môn và kỹ năng số; đẩy mạnh xây dựng, kết nối và khai thác cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách, góp phần xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo các chủ trương của Đảng về đổi mới tổ chức bộ máy và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam .
Tài liệu tham khảo
1. Đảng ủy Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2026), Báo cáo sơ kết 1 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp (Báo cáo số 121-BC/ĐU ngày 9/6/2026).
2. Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về sơ kết 1 năm vận hành mô hình chính quyền 3 cấp, https:// chinhsachcuocsong.vnanet.vn/ket-luan-cua-tong-bi-thu chu-tich-nuoc-ve-so-ket-1-nam-van-hanh-mo-hinh-chinh quyen-3-cap/89368.html