Múa Long Mã, Tứ Linh trong dịp Đại lễ vía Đức Chí Tôn đạo Cao Đài thu hút đông đảo chức sắc và người dân tham gia dự tại Tòa thánh Tây Ninh Từ khóa: Chính quyền địa phương 2 cấp; Quản lý nhà nước về tôn giáo; Tự do tín ngưỡng; Phân cấp phân quyền.
1. Đặt vấn đề
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đồng hành cùng dân tộc trong lịch sử. Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật và phát huy các giá trị tốt đẹp của tôn giáo cho sự phát triển đất nước.
Trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (tỉnh và xã) được triển khai nhằm giảm tầng nấc trung gian, nâng cao tính chủ động của cơ sở, kéo theo sự điều chỉnh căn bản trong phân cấp quản lý tôn giáo. Sau 01 năm vận hành, công tác tôn giáo tại địa phương đạt nhiều thành tựu nhưng cũng phát sinh không ít vướng mắc thể chế và kỹ năng thực tiễn. Việc đánh giá khách quan thực trạng này là cần thiết nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện thể chế trong giai đoạn mới.
2. Cơ sở pháp lý và chính sách về quản lý tôn giáo trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp
Hệ thống pháp luật về tôn giáo thể chế hóa đường lối của Đảng về bảo đảm tự do tín ngưỡng và phát huy nguồn lực tôn giáo. Khi chuyển sang mô hình chính quyền 2 cấp, khung pháp lý đã được điều chỉnh để nâng cao hiệu lực quản trị. Hiến pháp 2013 (Điều 24), khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người, đặt trách nhiệm cho chính quyền các cấp phải tôn trọng và bảo hộ. Cụ thể hóa Hiến pháp, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 cùng Nghị định số 95/2023/NĐ-CP đã thu hẹp thủ tục xin - cho, thay bằng cơ chế thông báo, đăng ký và phân định rõ thẩm quyền giữa các cấp.
Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, sự phân định thẩm quyền trong lĩnh vực tôn giáo thể hiện qua hai phân tầng quản trị mang tính bổ trợ và khép kín.
Thứ nhất, đối với việc tiếp theo nhận thông báo tổ chức lễ hội tôn giáo định kỳ được phân cấp thẩm định thực hiện cụ thể: UBND cấp xã nơi tổ chức lễ hội có trách nhiệm tiếp nhận văn bản thông báo của người đại diện, cấm quản lý cơ sở tín hiệu đối với lễ hội tín ngưỡng có quy mô tổ chức trong một xã hội; UBND cấp tỉnh nơi tổ chức lễ hội có trách nhiệm tiếp nhận văn bản thông báo của người đại diện, cấm quản lý cơ sở tín hiệu đối với lễ hội tín ngưỡng có quy mô tổ chức ở nhiều xã.
Thứ hai, việc tiếp tục nhận thông báo mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo được phân quyền thẩm quyền thực hiện, UBND cấp xã nơi tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc mở lớp bồi dưỡng có trách nhiệm tiếp nhận thông báo bằng văn bản của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo không thuộc quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ ba, việc tiếp theo nhận thông báo danh mục hoạt động tôn giáo được phân cấp thẩm định thực hiện cụ thể: UBND xã tiếp nhận danh mục tôn giáo tôn giáo của tổ chức tôn giáo giáo dục, tổ chức tôn giáo giáo dục trực thuộc, tổ chức được cấp chứng chỉ đăng ký tôn giáo giáo dục có địa bàn giáo dục tôn giáo ở một xã hội; UBND cấp tỉnh tiếp nhận danh mục hoạt động tôn giáo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký tôn giáo giáo dục có địa bàn giáo dục tôn giáo ở nhiều xã trên địa bàn tỉnh.
Thứ tư, việc tiếp theo thông báo tổ chức nghị viện của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được định thẩm quyền thực hiện cụ thể: UBND cấp xã tiếp nhận văn bản thông báo tổ chức nghị định thường niên của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở một xã hội; UBND cấp tỉnh tiếp nhận thông báo tổ chức nghị nghị thường niên của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở xã hội trên địa bàn tỉnh.
Thứ năm, việc chấp thuận tổ chức đại hội của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được phân định thẩm quyền thực hiện cụ thể: UBND cấp xã hội có trách nhiệm trả lời bằng văn bản đối với tổ chức đại hội của tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở một xã hội; UBND cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản đối với tổ chức đại hội của tổ chức tôn giáo giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức cấp được chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có bàn hoạt động ở nhiều xã hội trên địa bàn tỉnh.
Thứ sáu, việc chấp thuận tổ chức lễ hội, học đạo ngoài cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp được phân thẩm quyền thực hiện cụ thể: UBND cấp xã có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc tổ chức lễ hội, học đạo có quy mô tổ chức ở xã; UBND cấp tỉnh nơi dự kiến tổ chức cuộc thi lễ hội, học viện có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về tổ chức cuộc thi lễ hội, học đạo có quy mô tổ chức ở nhiều xã trên địa bàn tỉnh hoặc ở nhiều tỉnh.
Thứ bảy, việc tiếp theo báo cáo về việc tổ chức hiến tặng cơ sở tín hiệu, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được phân định quyền thực hiện cụ thể: UBND cấp xã nơi tổ chức cống hiến tiếp nhận thông báo bằng văn bản của người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc về tổ chức cống hiến trong địa bàn một xã hội; UBND cấp tỉnh nơi tổ chức quyên góp tiếp nhận thông báo bằng văn bản của người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc về tổ chức hiến tế trên địa bàn nhiều xã.
Nhìn một cách tổng thể, cơ sở pháp lý và chính sách về quản lý tôn giáo tại chính quyền địa phương 2 cấp đã tạo ra một hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh, vừa bảo đảm tính thống nhất quản lý nhà nước từ tỉnh đến cơ sở, vừa phát huy tối đa tính chủ động, linh hoạt của chính quyền cấp xã.
3. Thực trạng sau 01 năm thực thi chính sách, pháp luật về tôn giáo trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp
3.1. Những chuyển biến tích cực trong thực tiễn hành chính và đời sống tâm linh
Kết quả nổi bật nhất sau 01 năm chính là việc tinh gọn quy trình hành chính và đẩy mạnh quyền tự quyết chuyên môn cho chính quyền cấp cơ sở. Việc cắt bỏ cấp trung gian (cấp huyện) giúp rút ngắn đáng kể thời gian giải quyết các nhu cầu sinh hoạt tôn giáo chính đáng của quần chúng nhân dân. Sự phân định rành mạch thẩm quyền theo Nghị định 124/2025/NĐ-CP cho phép Ủy ban Nhân dân cấp xã trực tiếp xem xét, trả lời bằng văn bản đối với việc đăng ký địa điểm sinh hoạt tập trung, tổ chức đại hội của tổ chức tôn giáo trực thuộc phạm vi một xã, hay chấp thuận các cuộc lễ, giảng đạo ngoài cơ sở tôn giáo quy mô cấp xã đã tạo hành lang pháp lý vô cùng chủ động cho bộ máy cơ sở.
Thực tiễn tại địa phương đã chứng minh tính ưu việt này. Tại thành phố Hải Phòng, việc công khai và phân định thẩm quyền rõ ràng theo chính quyền 2 cấp giúp các giáo phận, Ban Trị sự Phật giáo địa phương giảm bớt thời gian chờ đợi phê duyệt các sự kiện tôn giáo thường niên. Tương tự, tại xã Sơn Thủy (tỉnh Quảng Ngãi), chính quyền cấp xã sau khi tiếp nhận thẩm quyền mới đã chủ động rà soát, giải quyết nhanh gọn các thủ tục thông báo danh mục hoạt động tôn giáo hằng năm cho các cơ sở tín ngưỡng, chùa chiền trên địa bàn. Các sinh hoạt tôn giáo thuần túy diễn ra thuần thục, đúng pháp luật, không phát sinh điểm nóng hay tranh chấp phức tạp, góp phần thắt chặt tình đoàn kết giữa chính quyền và các chức sắc, tín đồ.
Đặc biệt, tại các khu vực đặc thù như Tây Bắc và Tây Nguyên, năng lực phân quyền mới giúp chính quyền cấp xã nhanh chóng hỗ trợ các điểm nhóm sinh hoạt đạo Tin Lành tập trung đăng ký hoạt động hợp pháp. Việc tiếp cận và cấp phép ngay tại cơ sở giúp ổn định tâm lý tín đồ, đẩy lùi nguy cơ bị các thế lực thù địch hay hiện tượng tôn giáo biến tướng lợi dụng, trục lợi. Ngoài ra, việc ứng dụng dịch vụ công trực tuyến và xây dựng cơ sở dữ liệu tôn giáo dùng chung bước đầu phát huy tác dụng tại các đô thị lớn, tạo môi trường quản trị công khai, minh bạch.
3.2. Tồn tại, hạn chế và những điểm nghẽn nảy sinh
Thứ nhất, áp lực quá tải và thiếu hụt cán bộ chuyên trách tại cấp xã. Khi cắt giảm cấp huyện, khối lượng công việc liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng dồn trực tiếp về cấp xã. Tuy nhiên, đội ngũ đảm nhận nhiệm vụ này tại địa phương đa số là công chức văn hóa - xã hội kiêm nhiệm, thường xuyên biến động vị trí công tác. Điển hình như tại xã Đồng Hỷ (tỉnh Thái Nguyên), một địa bàn đa dân tộc, đa tín ngưỡng sau khi sáp nhập với diện tích gần 54 km² và hơn 31.000 dân, chính quyền cơ sở phải quản lý khối lượng công việc tôn giáo, dân tộc khổng lồ. Việc thiếu cán bộ chuyên trách được đào tạo bài bản về giáo lý, giáo luật và nghiệp vụ quản lý nhà nước về tôn giáo khiến việc triển khai chính sách đôi lúc bị chậm tiến độ, hoặc gặp lúng túng khi xử lý các vấn đề nhạy cảm.
Thứ hai, bất cập liên quan đến quản lý đất đai và xây dựng cơ sở thờ tự. Đất đai tôn giáo là lĩnh vực phức tạp do lịch sử để lại. Khi phân cấp về chính quyền 2 cấp, công tác kiểm tra, nguồn gốc đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tôn giáo thuộc thẩm quyền UBND cấp tỉnh, nhưng việc phát hiện và quản lý vi phạm ban đầu như cơi nới công trình trái phép, tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang làm nơi thờ tự cải gia vi tự, lại đè nặng lên vai cấp xã. Báo cáo thực thi pháp luật tại nhiều xã miền núi cho thấy, do thiếu hồ sơ địa chính đồng bộ và sự phối hợp liên ngành giữa ngành tài nguyên - môi trường và bộ phận quản lý tôn giáo cấp tỉnh đôi lúc còn chậm, chính quyền cấp xã gặp khó khăn lớn trong việc ngăn chặn triệt để các hành vi vi phạm xây dựng tôn giáo ngay từ đầu.
Thứ ba, sự trỗi dậy của các hiện tượng tôn giáo mới và không gian mạng. Sự xuất hiện của các tổ chức mang màu sắc tâm linh biến tướng, tà đạo truyền đạo trái phép qua các ứng dụng nhắn tin, mạng xã hội đã đặt ra bài toán quản lý mới. Cán bộ cấp xã do hạn chế về công cụ kỹ thuật và thẩm quyền pháp lý không gian mạng nên rất khó ngăn chặn hành vi lan truyền, trong khi cấp tỉnh lại ở quá xa để phát hiện kịp thời các biến tướng quy mô nhỏ ở từng xóm, làng.
4. Nguyên nhân của thực trạng
4.1. Nguyên nhân khách quan
Do tính chất phức tạp, nhạy cảm của đời sống tôn giáo. Đời sống tâm linh gắn liền với cảm xúc, niềm tin cá nhân và yếu tố cộng đồng, khi chuyển đổi mô hình quản trị, các xung đột lợi ích hoặc hiểu lầm chính sách dễ bị đẩy lên thành các đốm lửa tranh chấp.
Do bối cảnh toàn cầu hóa và tác động của không gian mạng. Internet và các nền tảng xuyên biên giới làm cho việc lan truyền thông tin tôn giáo diễn ra vô cùng nhanh chóng, vượt khỏi tầm kiểm soát địa giới hành chính thông thường.
Do tồn tại lịch sử về đất đai. Quá trình quản lý đất đai qua nhiều thời kỳ lịch sử có sự đan xen giữa đất công, đất tư và đất tôn giáo, tạo nên bộ hồ sơ địa chính thiếu đồng bộ tại nhiều địa phương.
4.2. Nguyên nhân chủ quan
Do hệ thống văn bản hướng dẫn phân cấp chưa thật sự đồng bộ. Mặc dù đã có Nghị định phân quyền chính quyền 2 cấp, một số quy định chuyên ngành trong Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Dân sự chưa hoàn toàn tương thích với thẩm quyền xử lý về tôn giáo ở cấp xã, khiến cán bộ cơ sở lúng túng.
Do chất lượng cán bộ làm công tác tôn giáo ở cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức tôn giáo học, nghiệp vụ quản lý nhà nước cho cán bộ cấp xã chưa được tiến hành thường xuyên, bài bản.
Do cơ chế phối hợp liên ngành có lúc còn thiếu chặt chẽ. Sự phối hợp giữa chính quyền cấp xã với các sở, ngành cấp tỉnh (Nội vụ/Nông nghiệp và Môi trường, Công an) trong việc giải quyết các vụ việc phức tạp phát sinh đôi khi còn mang tính sự vụ, chậm trễ.
5. Khuyến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật tôn giáo
Một là, hoàn thiện thể chế và ban hành hướng dẫn chi tiết về phân cấp, phân quyền. Rà soát, chuẩn hóa các quy trình thủ tục hành chính liên quan đến tôn giáo thuộc thẩm quyền của cấp tỉnh và cấp xã. Ban hành sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ công tác tôn giáo dành riêng cho chính quyền cấp xã, quy định rõ quy trình xử lý tình huống đối với các vấn đề phát sinh (xây dựng trái phép, khiếu kiện đất đai, hiện tượng tôn giáo mới).
Hai là, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ. Xây dựng vị trí việc làm chuyên trách hoặc bán chuyên trách về công tác dân tộc - tôn giáo tại cấp xã đối với các địa bàn trọng điểm về tôn giáo. Đổi mới chương trình bồi dưỡng kiến thức tôn giáo, chuyển từ học lý thuyết sang huấn luyện kỹ năng xử lý tình huống thực tiễn, công tác dân vận tôn giáo và kỹ năng đối thoại với chức sắc.
Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tôn giáo tích hợp giữa cấp tỉnh và cấp xã, giúp theo dõi biến động về nhân sự chức sắc, cơ sở thờ tự, đất đai tôn giáo và các điểm nhóm đăng ký sinh hoạt. Tăng cường tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính tôn giáo qua dịch vụ công trực tuyến, giảm thiểu phiền hà cho các tổ chức tôn giáo.
Bốn là, đổi mới phương thức vận động, đối thoại và phát huy nguồn lực tôn giáo. Duy trì cơ chế đối thoại dân chủ, công khai giữa lãnh đạo chính quyền 2 cấp với các tổ chức tôn giáo để lắng nghe và tháo gỡ khó khăn kịp thời. Hoàn thiện hành lang pháp lý tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo tham gia xã hội hóa y tế, giáo dục, trợ giúp xã hội, bảo vệ môi trường, biến nguồn lực tôn giáo thành nguồn lực phát triển đất nước.
Năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát và chủ động phòng ngừa vi phạm. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ cấp xã trong lĩnh vực tôn giáo nhằm ngăn chặn hành vi nhũng nhiễu hoặc buông lỏng quản lý. Chủ động phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vi phạm an ninh trật tự hoặc trục lợi cá nhân.
6. Kết luận
Qua 01 năm triển khai thực thi chính sách, pháp luật về tôn giáo trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, thực tiễn đã chứng minh tính đúng đắn của chủ trương đổi mới quản trị hành chính công. Bộ máy gọn nhẹ hơn, thủ tục minh bạch hơn và chính quyền gần dân hơn đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tôn giáo thuần túy diễn ra đúng quy định pháp luật, củng cố niềm tin của chức sắc và tín đồ vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo song hành với nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước chính là chìa khóa để giữ vững ổn định chính trị - xã hội và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ phát triển mới.
* Học viện Chính trị khu vực II.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025). Báo cáo đánh giá công tác dân tộc, tôn giáo sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy và thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp. Hà Nội: Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
2. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2025). Nghị định số 124/2025/NĐ-CP về phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. Hà Nội.
3. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2016). Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (Luật số 02/2016/ QH14). Hà Nội: Nxb. Tư pháp.