Phát huy vai trò Người có uy tín để tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức cho người dân về phòng chống tảo hôn, hôn nhân cận huyếtTừ khóa: Người có uy tín; Tảo hôn; Hôn nhân cận huyết thống; Dân tộc thiểu số; Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
1. Đặt vấn đề
Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống là những tập quán xã hội còn tồn tại ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN), gây ra nhiều hệ lụy đối với sức khỏe sinh sản, chất lượng dân số, nguồn nhân lực và sự phát triển bền vững của cộng đồng dân tộc thiểu số. Theo kết quả Điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024, tình trạng tảo hôn vẫn tập trung ở một số nhóm dân tộc và địa bàn miền núi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Thực tiễn này cho thấy, việc giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống không chỉ là vấn đề thực thi pháp luật, đồng thời còn là quá trình thay đổi nhận thức, chuẩn mực văn hóa và hành vi xã hội trong cộng đồng.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm giảm thiểu tình trạng này, đặc biệt là Quyết định số 498/ QĐ-TTg ngày 14/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2025”, cùng các nội dung thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021- 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 (gọi tắt là Chương trình 1719). Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện ở cơ sở phụ thuộc đáng kể vào sự tham gia của các chủ thể có ảnh hưởng trong cộng đồng, đặc biệt là Người có uy tín.
Với vị thế xã hội, sự am hiểu phong tục, tiếng nói dân tộc và khả năng thuyết phục cộng đồng, Người có uy tín trở thành lực lượng nòng cốt trong tuyên truyền, vận động, tư vấn và hòa giải, góp phần thay đổi nhận thức của các gia đình và thanh thiếu niên về hôn nhân, sức khỏe sinh sản và bình đẳng giới. Vì vậy, nghiên cứu vai trò của Người có uy tín trong phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác dân tộc và phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Vai trò của Người có uy tín trong phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống
Trong công tác phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở vùng đồng bào DTTS&MN, Người có uy tín giữ vị trí đặc biệt quan trọng với tư cách là chủ thể dẫn dắt cộng đồng và là cầu nối giữa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước với đời sống xã hội ở cơ sở. Sức ảnh hưởng của họ không chỉ xuất phát từ địa vị xã hội mà còn từ sự am hiểu sâu sắc về phong tục, tập quán, ngôn ngữ và các giá trị văn hóa truyền thống của từng dân tộc. Chính vì vậy, tiếng nói của Người có uy tín thường có sức thuyết phục cao hơn các hình thức tuyên truyền hành chính thông thường, góp phần thúc đẩy sự thay đổi nhận thức và hành vi của người dân.
Trước hết, Người có uy tín là lực lượng nòng cốt trong tuyên truyền, phổ biến các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, các chính sách về dân số, bình đẳng giới và Đề án Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. Thông qua các cuộc họp thôn, bản, sinh hoạt dòng họ, lễ hội truyền thống hoặc các hoạt động cộng đồng, họ giải thích những tác hại của tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống đối với sức khỏe bà mẹ, trẻ em, chất lượng dân số và tương lai phát triển của cộng đồng bằng ngôn ngữ dân tộc, gắn với những câu chuyện thực tiễn nên dễ được người dân tiếp nhận.
Bên cạnh đó, Người có uy tín đóng vai trò quan trọng trong việc vận động các gia đình thay đổi tập quán lạc hậu và ngăn ngừa các trường hợp có nguy cơ tảo hôn hoặc hôn nhân cận huyết thống. Tại nhiều địa phương như Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, Gia Lai, Quảng Ngãi,… già làng, trưởng bản và trưởng dòng họ đã trực tiếp gặp gỡ các gia đình, phối hợp với chính quyền, nhà trường và các tổ chức đoàn thể để tư vấn, hòa giải, vận động thanh thiếu niên tiếp tục học tập, không kết hôn sớm và thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nhiều mô hình truyền thông cộng đồng do Người có uy tín chủ trì đã góp phần giảm các trường hợp tảo hôn, đồng thời nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản và quyền trẻ em.
Xét ở quan điểm quản trị cộng đồng, Người có uy tín còn là nhân tố tạo dựng niềm tin xã hội và củng cố sự đồng thuận trong quá trình thực hiện các chương trình can thiệp. Với vốn xã hội và vốn biểu tượng được cộng đồng thừa nhận, họ có khả năng kết nối giữa tri thức địa phương với chính sách hiện đại, góp phần loại bỏ dần các hủ tục, xây dựng nếp sống văn minh và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Do đó, phát huy vai trò của Người có uy tín không chỉ là giải pháp tuyên truyền vận động, mà còn là phương thức quản trị xã hội hiệu quả, tạo nền tảng bền vững cho công tác phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở vùng đồng bào DTTS&MN trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Thực trạng phát huy vai trò của Người có uy tín trong phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống
Hiện nay, cả nước có 29.6261 Người có uy tín trong cộng đồng, đó là những người gắn bó mật thiết với Nhân dân, được các thôn, bản, buôn làng, phum sóc bình chọn theo quy định. Giai đoạn 2021-2025, các địa phương đã bố trí khoảng 500 tỷ đồng để thực hiện chế độ, chính sách đối với Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó, tổ chức 1.423 hội nghị phổ biến, cung cấp thông tin cho 89.900 lượt người; tổ chức 984 lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho khoảng 58.496 lượt người tham gia; tổ chức 54 cuộc tham quan, giao lưu học tập kinh nghiệm ở trong huyện cho 1.659 lượt người; tổ chức 298 cuộc tham quan, giao lưu học tập kinh nghiệm trong tỉnh cho 12.811 lượt người; 348 cuộc thăm thủ đô Hà Nội và các tỉnh khác cho 12.069 lượt người (Minh Nguyệt, 2026). Trong những năm gần đây, việc phát huy vai trò của Người có uy tín đã trở thành một trong những giải pháp quan trọng nhằm thực hiện hiệu quả Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 14/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2015-2025” và các nội dung của Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN. Với sự hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội, Người có uy tín đã từng bước phát huy vai trò trong tuyên truyền, vận động, tư vấn và giám sát cộng đồng, góp phần làm chuyển biến nhận thức của người dân về hôn nhân, gia đình và sức khỏe sinh sản.
Thực tiễn tại nhiều địa phương cho thấy, già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ, chức sắc tôn giáo và những cá nhân tiêu biểu trong cộng đồng đã tích cực lồng ghép nội dung phòng, chống tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống vào các cuộc họp thôn, bản, sinh hoạt dòng họ, lễ hội truyền thống và các hoạt động văn hóa cộng đồng. Với lợi thế am hiểu tiếng nói, phong tục và tâm lý xã hội của đồng bào, họ giải thích các quy định của pháp luật gắn với những hậu quả thực tế của tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống đối với sức khỏe bà mẹ, trẻ em, chất lượng dân số và sự phát triển của gia đình. Theo Kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024, tảo hôn vẫn tập trung ở một số nhóm dân tộc và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, cho thấy vai trò của truyền thông dựa vào cộng đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thay đổi hành vi xã hội.
Nhiều mô hình phát huy vai trò Người có uy tín đã mang lại kết quả tích cực. Tại các tỉnh như: Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn,… Người có uy tín phối hợp với chính quyền, trường học, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ tổ chức các buổi đối thoại với thanh thiếu niên và phụ huynh, vận động các gia đình không cho con kết hôn sớm, khuyến khích học nghề và tiếp tục học tập. Còn tại các tỉnh gồm: Gia Lai, Quảng Ngãi, Đắk Lắk, Lâm Đồng,… nhiều già làng đã trực tiếp hòa giải, tư vấn và ngăn chặn các trường hợp có nguy cơ tảo hôn hoặc hôn nhân cận huyết thống, đặc biệt vận động cộng đồng loại bỏ những hủ tục không còn phù hợp. Những hoạt động này góp phần củng cố niềm tin của người dân đối với chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời tạo sự đồng thuận trong thực hiện các chương trình can thiệp.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát huy vai trò của Người có uy tín vẫn còn một số hạn chế. Ở một số địa phương, công tác phối hợp giữa người có uy tín với chính quyền cơ sở và các ngành chức năng chưa thường xuyên; việc tập huấn kiến thức pháp luật, kỹ năng truyền thông, tư vấn tâm lý và chăm sóc sức khỏe sinh sản còn hạn chế. Một bộ phận Người có uy tín tuổi đã cao, khó tiếp cận công nghệ số và các phương thức truyền thông hiện đại, trong khi lực lượng kế cận chưa được chuẩn bị đầy đủ. Mặt khác, tác động của trình độ học vấn thấp, tập quán lâu đời và điều kiện địa lý khó khăn khiến việc thay đổi hành vi xã hội diễn ra chậm và thiếu bền vững.
Nhìn chung, thực tiễn cho thấy Người có uy tín là lực lượng có ảnh hưởng sâu rộng trong phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. Tuy nhiên, để phát huy đầy đủ vai trò này cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp, nâng cao năng lực, tăng cường hỗ trợ về thông tin và kỹ năng, đồng thời xây dựng đội ngũ Người có uy tín kế cận. Đây là điều kiện quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả các chương trình can thiệp, cải thiện chất lượng dân số và thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồng DTTS&MN trong giai đoạn mới.
2.3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát huy vai trò của Người có uy tín trong phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Để nâng cao hiệu quả phát huy vai trò của Người có uy tín trong phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, cần triển khai đồng bộ các giải pháp trên cơ sở kết hợp giữa hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực chủ thể và đổi mới phương thức truyền thông trong cộng đồng.
Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm phát huy vai trò của Người có uy tín trong triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia vùng đồng bào DTTS&MN, đồng thời lồng ghép nhiệm vụ phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống với các chương trình về giáo dục, y tế, bình đẳng giới, chăm sóc sức khỏe sinh sản và phát triển nguồn nhân lực. Người có uy tín cần được xác định là một chủ thể quan trọng trong quản trị cộng đồng và thực thi chính sách ở cơ sở.
Thứ hai, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng truyền thông thay đổi hành vi, tư vấn tâm lý, sức khỏe sinh sản vị thành niên và ứng dụng công nghệ số cho đội ngũ Người có uy tín Việc xây dựng đội ngũ kế cận là người trẻ, có trình độ học vấn, am hiểu văn hóa truyền thống và thành thạo công nghệ sẽ góp phần bảo đảm tính kế thừa và nâng cao hiệu quả tuyên truyền trong bối cảnh chuyển đổi số.
Thứ ba, cần đổi mới phương thức truyền thông theo hướng lấy cộng đồng làm trung tâm, kết hợp hài hòa giữa tri thức địa phương với các phương tiện truyền thông hiện đại. Nội dung tuyên truyền cần được thực hiện bằng song ngữ (tiếng phổ thông và tiếng dân tộc), lồng ghép vào các cuộc họp thôn, bản, sinh hoạt dòng họ, trường học, lễ hội truyền thống và các nền tảng số, tạo điều kiện để Người có uy tín trực tiếp truyền tải thông điệp phù hợp với đặc điểm văn hóa của từng cộng đồng dân tộc thiểu số.
Thứ tư, tăng cường cơ chế phối hợp giữa Người có uy tín với chính quyền địa phương, ngành giáo dục, y tế, lực lượng dân số, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và các tổ chức xã hội trong việc phát hiện sớm, tư vấn, can thiệp và hỗ trợ các trường hợp có nguy cơ tảo hôn hoặc hôn nhân cận huyết thống. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế đánh giá, biểu dương, khen thưởng kịp thời các mô hình, điển hình tiêu biểu nhằm lan tỏa kinh nghiệm tốt, nâng cao trách nhiệm xã hội của Người có uy tín và từng bước hình thành môi trường văn hóa tiến bộ, góp phần nâng cao chất lượng dân số và phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN.
3. Thảo luận
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, Người có uy tín không chỉ là lực lượng hỗ trợ thực thi chính sách mà còn là chủ thể xã hội có khả năng tạo ra sự thay đổi bền vững trong nhận thức và hành vi của cộng đồng đối với phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. Điều này phù hợp với lý thuyết về vốn xã hội của Pierre Bourdieu và Robert Putnam (Nhà xã hội học), khi uy tín, niềm tin và các mối quan hệ xã hội được xem là nguồn lực quan trọng để tác động đến hành vi tập thể. Trong bối cảnh nhiều phong tục truyền thống vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của một số dân tộc thiểu số, phương thức tuyên truyền dựa trên uy tín cá nhân và sự đồng thuận cộng đồng thường đạt hiệu quả cao hơn so với các biện pháp hành chính đơn thuần.
Thực tiễn triển khai tại các tỉnh như: Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Gia Lai, Quảng Ngãi, Đắk Lắk, Lâm Đồng,… cho thấy, ở những địa bàn Người có uy tín được tạo điều kiện tham gia thường xuyên vào hoạt động tuyên truyền, hòa giải và giám sát cộng đồng, nhận thức của người dân về hôn nhân đúng pháp luật, chăm sóc sức khỏe sinh sản và quyền trẻ em có chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, hiệu quả này chưa đồng đều giữa các địa phương do sự khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, đặc điểm văn hóa và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể thực hiện.
Từ góc độ quản trị công, nghiên cứu cho rằng cần chuyển từ cách tiếp cận coi Người có uy tín là lực lượng tuyên truyền hỗ trợ sang xác định họ là đối tác đồng hành trong xây dựng, triển khai và giám sát chính sách. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế đào tạo, hỗ trợ và đánh giá hiệu quả hoạt động của Người có uy tín theo hướng chuyên nghiệp, gắn với chuyển đổi số và phát huy tri thức địa phương. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, góp phần cải thiện chất lượng dân số và thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN.
4. Kết luận
Có thể nói, Người có uy tín là lực lượng nòng cốt trong phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở vùng đồng bào DTTS&MN. Với uy tín xã hội, sự am hiểu văn hóa truyền thống và khả năng vận động cộng đồng, họ góp phần thay đổi nhận thức, loại bỏ hủ tục, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về hôn nhân và gia đình, đồng thời cải thiện chất lượng dân số và bảo vệ quyền trẻ em. Thực tiễn cho thấy, việc phát huy hiệu quả vai trò của Người có uy tín cần gắn với hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao năng lực và tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành. Đây là giải pháp có ý nghĩa chiến lược nhằm giảm thiểu bền vững tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống và thúc đẩy phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị (2003), Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác dân tộc, Hà Nội.
2. Bộ Chính trị (2019), Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc trong tình hình mới, Hà Nội.
3. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), Báo cáo tổng kết công tác dân tộc, tôn giáo và kết quả thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia năm 2025, Hà Nội.
4. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), Báo cáo chuyên đề về công tác phát huy vai trò Người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Hà Nội.
5. Bộ Y tế (2022), Báo cáo công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe bà mẹ, trẻ em vùng dân tộc thiểu số, Hà Nội.
7. Quốc hội (2014), Luật Hôn nhân và Gia đình, Hà Nội.
8. Quốc hội (2016), Luật Trẻ em, Hà Nội.
9. Quốc hội (2019), Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, Hà Nội