Công trình Trường Phổ thông dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Thanh Thủy (Tuyên Quang) đang được đẩy nhanh tiến độ thi công, phấn đấu hoàn thành trước năm học mới 2026-2027Từ khóa: Chính sách dân tộc; Dân tộc thiểu số; Tỉnh Tuyên Quang; Chương trình Mục tiêu quốc gia 1719; Ổn định xã hội; Phát triển bền vững.
1. Đặt vấn đề
Chính sách dân tộc là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước, giữ vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng an ninh. Đối với tỉnh Tuyên Quang, địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 73,5% dân số (Văn Mừng, 2026), việc thực hiện hiệu quả chính sách dân tộc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển bền vững, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh ở cơ sở.
Những năm gần đây, việc triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia (MTQG) phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 (gọi tắt là Chương trình 1719) đã tạo động lực mới cho phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh. Giai đoạn 2021-2025, tỉnh Tuyên Quang được Trung ương bố trí hơn 9.367 tỷ đồng để triển khai các dự án về hạ tầng, sinh kế, giáo dục, y tế, văn hóa và phát triển nguồn nhân lực, góp phần cải thiện điều kiện sống, giảm nghèo và tăng cường ổn định xã hội.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách dân tộc vẫn còn những hạn chế như chênh lệch mức sống giữa các địa bàn, chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều, sinh kế của một bộ phận đồng bào còn thiếu bền vững và hiệu quả phối hợp trong thực thi chính sách ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu mới. Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận, đánh giá kết quả và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc tại tỉnh Tuyên Quang, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, góp phần giữ vững ổn định vùng đồng bào DTTS&MN và thúc đẩy phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Vai trò của thực hiện hiệu quả chính sách dân tộc đối với giữ vững ổn định vùng dân tộc thiểu số và miền núi ở tỉnh Tuyên Quang
Với đặc điểm là địa phương đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên một nửa dân số, hiệu quả thực thi chính sách dân tộc không chỉ tác động trực tiếp đến đời sống của người dân mà còn ảnh hưởng đến chất lượng quản trị địa phương, sự ổn định xã hội và phát triển bền vững của toàn tỉnh.
Trước hết, các chính sách dân tộc đã góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào DTTS&MN với khu vực trung tâm thông qua đầu tư kết cấu hạ tầng, phát triển sinh kế, hỗ trợ nhà ở, nước sinh hoạt, giáo dục và y tế. Việc triển khai đồng bộ Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN đã tạo điều kiện để người dân tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ công, nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm nghèo bền vững.
Bên cạnh hiệu quả kinh tế, việc thực hiện chính sách dân tộc còn có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố niềm tin của đồng bào đối với Đảng và Nhà nước, tăng cường sự đồng thuận xã hội và phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở. Các chính sách về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, phát triển giáo dục, đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số và phát huy vai trò người có uy tín đã góp phần nâng cao năng lực tự quản của cộng đồng, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là nền tảng quan trọng để phòng ngừa các yếu tố gây mất ổn định, hạn chế các tác động tiêu cực của thông tin sai lệch và các vấn đề xã hội phát sinh trong bối cảnh hội nhập.
Ngoài ra, chính sách dân tộc còn góp phần gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Khi đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được cải thiện, sinh kế ổn định và quyền lợi chính đáng được bảo đảm, người dân sẽ tích cực tham gia bảo vệ an ninh trật tự, giữ gìn đường biên, bảo vệ tài nguyên rừng và xây dựng nông thôn mới. Đối với tỉnh Tuyên Quang, đây là điều kiện quan trọng để xây dựng khu vực miền núi phát triển ổn định, tạo nền tảng cho phát triển bền vững, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
2.2. Thực trạng thực hiện hiệu quả chính sách dân tộc góp phần giữ vững ổn định vùng dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang
Thực hiện hiệu quả chính sách dân tộc có ý nghĩa trực tiếp đối với việc bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống, củng cố niềm tin của đồng bào và giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Sau khi hợp nhất tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang từ ngày 1/7/2025, tỉnh Tuyên Quang mới trở thành địa bàn có quy mô dân số lớn, không gian miền núi rộng và cơ cấu dân tộc đa dạng; đồng bào DTTS chiếm hơn 73,5% dân số. Toàn tỉnh hiện có 123/124 đơn vị hành chính cấp xã thuộc vùng đồng bào DTTS&MN, trong đó có 87 xã khu vực III và 1.905 thôn đặc biệt khó khăn. Những đặc điểm này vừa tạo nên nguồn lực văn hóa - xã hội phong phú, vừa đặt ra yêu cầu cao đối với việc tổ chức thực hiện chính sách dân tộc theo hướng đồng bộ, đúng đối tượng, sát nhu cầu và phù hợp đặc thù từng cộng đồng.
Thứ nhất, hiệu quả của chính sách dân tộc được thể hiện ở khả năng chuyển hóa nguồn lực đầu tư của Nhà nước thành những cải thiện cụ thể trong đời sống nhân dân. Việc triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia tập trung vào hạ tầng thiết yếu, sinh kế, giảm nghèo, giáo dục, y tế, nhà ở và phát triển sản xuất đã góp phần thu hẹp từng bước khoảng cách phát triển giữa các vùng. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng nguồn vốn năm 2025 chuyển sang thực hiện năm 2026 của Chương trình Mục tiêu quốc gia (theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025) liên quan vùng đồng bào DTTS&MN tại tỉnh Tuyên Quang đạt hơn 1.508 tỷ đồng, trong đó đã giải ngân gần 491 tỷ đồng, tương đương 32,5% kế hoạch. Đây là nguồn lực quan trọng để tiếp tục giải quyết những nhu cầu thiết yếu và tạo sinh kế bền vững cho người dân.
Thứ hai, chính sách dân tộc hiệu quả phải gắn phát triển kinh tế với bảo tồn văn hóa và củng cố sức mạnh cộng đồng. Tỉnh Tuyên Quang có 46 thành phần dân tộc cùng sinh sống, tạo nên hệ thống phong tục, ngôn ngữ, lễ hội, tri thức địa phương và các hình thức tổ chức cộng đồng phong phú. Việc bảo tồn và phát huy những giá trị này không chỉ có ý nghĩa văn hóa mà còn góp phần tạo sinh kế thông qua du lịch cộng đồng, sản phẩm đặc trưng, nghề truyền thống và các mô hình kinh tế dựa trên lợi thế địa phương. Đồng thời, chính sách cần chuyển mạnh từ hỗ trợ đơn thuần sang trao năng lực, khuyến khích người dân chủ động tham gia xác định nhu cầu, tổ chức sản xuất và giám sát quá trình thực hiện chính sách.
Thứ ba, Người có uy tín tiếp tục là một nguồn lực đặc biệt đưa chính sách vào đời sống. Thực tiễn năm 2026 cho thấy, toàn tỉnh có 3.435 Người có uy tín (Văn Mừng, 2026); trong 6 tháng đầu năm, địa phương đã tổ chức tập huấn cho 394 người, tổ chức các đoàn học tập kinh nghiệm và xây dựng mô hình tuyên truyền pháp luật, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới. Đặc biệt, 4 nhóm Zalo đã được đưa vào hoạt động, thu hút hơn 1.000 Người có uy tín tham gia trao đổi thông tin. Đây là minh chứng cho sự chuyển đổi từ phương thức vận động truyền thống sang kết hợp vận động trực tiếp với truyền thông số, nâng cao tốc độ và phạm vi lan tỏa chính sách.
Thứ tư, hiệu quả chính sách dân tộc phải được đánh giá bằng mức độ ổn định và đồng thuận xã hội, chứ không chỉ bằng số lượng chương trình hoặc tỷ lệ giải ngân. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào DTTS&MN của tỉnh cơ bản ổn định; không phát sinh các vụ việc phức tạp liên quan đến dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. Điều đó cho thấy, khi quyền lợi chính đáng của người dân được quan tâm, chính sách được triển khai sát thực tiễn và đồng bào được tham gia vào quá trình phát triển, niềm tin xã hội được củng cố, thế trận lòng dân được tăng cường và nguy cơ phát sinh điểm nóng được hạn chế từ cơ sở.
Từ đó, thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Tuyên Quang cần tiếp tục theo hướng đúng đối tượng, đúng nhu cầu, công khai, có sự tham gia của người dân, trao quyền cho cộng đồng, gắn phát triển với ổn định. Đây không chỉ là yêu cầu về quản lý nhà nước, đồng thời còn là phương thức phát huy nội lực, củng cố đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng lâu dài cho phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS&MN.
2.3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc, góp phần giữ vững ổn định vùng dân tộc thiểu số ở tỉnh Tuyên Quang
Để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc, góp phần giữ vững ổn định vùng đồng bào DTTS&MN ở tỉnh Tuyên Quang, cần triển khai đồng bộ các giải pháp trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng về phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và hỗ trợ các dân tộc cùng phát triển, như:
Thứ nhất, cần tiếp tục thực hiện hiệu quả Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu, phát triển sinh kế, giảm nghèo bền vững và nâng cao chất lượng các dịch vụ giáo dục, y tế, nước sạch, nhà ở và thông tin tại các địa bàn đặc biệt khó khăn. Đồng thời, cần tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong tổ chức thực hiện và giám sát các chương trình, dự án.
Thứ hai, tỉnh cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bào DTTS&MN thông qua đào tạo nghề, nâng cao trình độ quản lý, chuyển giao khoa học - công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số trong sản xuất, quản lý và cung cấp dịch vụ công. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu số về công tác dân tộc, ứng dụng công nghệ trong theo dõi, đánh giá tiến độ thực hiện chính sách sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản trị và sử dụng nguồn lực.
Thứ ba, tiếp tục bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc gắn với phát triển du lịch cộng đồng, kinh tế văn hóa và xây dựng nông thôn mới. Cùng với đó, cần phát huy mạnh mẽ vai trò của đội ngũ Người có uy tín, già làng, trưởng bản và các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia giữ gìn an ninh, trật tự và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ tư, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá độc lập hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc trên cơ sở các chỉ số về giảm nghèo, phát triển hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, bảo tồn văn hóa và mức độ hài lòng của người dân. Việc huy động sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và các tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát chính sách sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và tính bền vững của các chương trình phát triển, qua đó tạo nền tảng vững chắc để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào DTTS ở tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn mới.
3. Thảo luận
Nội dung nghiên cứu cho thấy, hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc có mối quan hệ trực tiếp và đa chiều với việc giữ vững ổn định vùng đồng bào DTTS&MN ở tỉnh Tuyên Quang. Điều này phù hợp với các lý thuyết về quản trị công, phát triển bao trùm và vốn xã hội, theo đó hiệu quả của chính sách không chỉ được đánh giá bằng mức đầu tư hay số lượng dự án triển khai mà còn phải được phản ánh qua những chuyển biến về chất lượng đời sống, mức độ tham gia của người dân, sự gắn kết cộng đồng và khả năng duy trì ổn định chính trị - xã hội trong dài hạn.
Thực tiễn triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN ở tỉnh Tuyên Quang cho thấy việc đầu tư đồng bộ về hạ tầng, sinh kế, giáo dục, y tế và bảo tồn văn hóa đã góp phần cải thiện điều kiện sống của đồng bào DTTS, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đồng thời tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hiệu quả của chính sách giữa các địa bàn còn có sự khác biệt do điều kiện tự nhiên, năng lực tổ chức thực hiện và khả năng huy động nguồn lực của từng địa phương. Vì vậy, cùng một chính sách nhưng kết quả đạt được không hoàn toàn đồng nhất.
Ở phương diện nghiên cứu khoa học, tác giả cho rằng để giữ vững ổn định vùng đồng bào DTTS&MN cần chuyển mạnh từ cách tiếp cận hỗ trợ đơn giản sang phát triển năng lực nội sinh của cộng đồng, lấy người dân làm trung tâm và phát huy vai trò của người có uy tín, hệ thống chính trị cơ sở và các tổ chức xã hội trong quá trình thực thi chính sách. Đồng thời, cần tăng cường ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý, giám sát và đánh giá hiệu quả chính sách; xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá toàn diện về giảm nghèo, chất lượng nguồn nhân lực, bảo tồn văn hóa, mức độ hài lòng của người dân và ổn định xã hội. Đây là những điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả chính sách dân tộc, bảo đảm phát triển bền vững và giữ vững ổn định vùng đồng bào DTTS&MN ở tỉnh Tuyên Quang trong bối cảnh phát triển và hội nhập hiện nay.
4. Kết luận
Có thể nói, thực hiện hiệu quả chính sách dân tộc là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với việc giữ vững ổn định vùng đồng bào DTTS&MN ở tỉnh Tuyên Quang. Việc triển khai đồng bộ Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030 giai đoạn I từ 2021-2025 đã góp phần cải thiện kết cấu hạ tầng, phát triển sinh kế, giảm nghèo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo tồn bản sắc văn hóa và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, tỉnh cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực thi chính sách, nâng cao năng lực quản trị cơ sở, phát huy vai trò của Người có uy tín, đẩy mạnh chuyển đổi số và tăng cường giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng vùng đồng bào DTTS&MN phát triển bền vững, ổn định và giàu bản sắc.
* Bộ Dân tộc và Tôn giáo
** Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo
Tài liệu tham khảo
1. Chính phủ (2022), Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 28/01/2022 về việc ban hành chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội.
2. Văn Mừng (2026), Tuyên Quang: Phát huy hiệu quả chính sách dân tộc, https://dantocphattrien.vietnamnet. vn/tuyen-quang-phat-huy-hieu-qua-chinh-sach-dan toc-75976.html
3. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
4. Quốc hội (2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi, bổ sung), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
5. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1719/QĐ TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, Hà Nội.
6. Tổng cục Thống kê (2025), Kết quả điều tra thu thập thông tin thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024, Hà Nội.
7. Lý Thu (2026), Sức bật vùng đồng bào dân tộc thiểu số, https://baotuyenquang.com.vn/xa-hoi/202608/suc-bat vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-e8a2cf9/
8. UBND tỉnh Tuyên Quang (2025), Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, Tuyên Quang.
9. Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Tuyên Quang (2025), Báo cáo công tác dân tộc năm 2025, Tuyên Quang