Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Đối ngoại tôn giáo ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với công tác dân vận

ThS. Lê Minh Khánh - 16:53, 22/06/2026

(DTTG) - Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn diện, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đóng vai trò là cầu nối quan trọng của đối ngoại nhân dân, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, tăng cường đoàn kết quốc tế và nâng cao vị thế quốc gia. Tuy nhiên, những biến động phức tạp của tình hình địa chính trị thế giới cùng âm mưu lợi dụng tôn giáo nhằm chống phá chế độ đang đặt ra những thách thức lớn. Trên cơ sở phân tích thực trạng vai trò của các tổ chức tôn giáo trong đối ngoại nhân dân, bài viết đề xuất một số giải pháp đổi mới công tác dân vận nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực này, đáp ứng yêu cầu của bối cảnh mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng.

Hội thảo Quốc tế - một hoạt động trong khuôn khổ Đại lễ Vesak 2025
Hội thảo Quốc tế - một hoạt động trong khuôn khổ Đại lễ Vesak 2025

Từ khóa: Tổ chức tôn giáo; Đối ngoại nhân dân; Công tác dân vận; Đoàn kết dân tộc; Hội nhập quốc tế.

1. Đặt vấn đề

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội tồn tại lâu dài, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống chính trị, văn hóa và xã hội của nhiều quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của không gian số, các tổ chức, cá nhân tôn giáo trở thành chủ thể tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội, kết nối quốc tế và đối ngoại nhân dân. Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán chính sách tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của tôn giáo cho công cuộc phát triển đất nước; đồng thời, kiên quyết đấu tranh với các âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo đã khẳng định đồng bào các tôn giáo là một bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, và nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo chính là vận động quần chúng. Bước sang giai đoạn mới, Văn kiện Đại hội XIII (2021) và đặc biệt là Đại hội XIV của Đảng (2026) tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu: “Đổi mới công tác dân vận, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân” và “Bổ sung, hoàn thiện thể chế để phát huy cao nhất vai trò của 3 trụ cột: Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, tạo sức mạnh tổng hợp của nền ngoại giao Việt Nam tiên phong, toàn diện, hiện đại”.

Việc phát huy sức mạnh mềm của các tổ chức tôn giáo trong đối ngoại nhân dân là một yêu cầu khách quan nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế. Dù vậy, lĩnh vực này vẫn tiềm ẩn rủi ro khi các thế lực thù địch liên tục lợi dụng chiêu bài tự do tôn giáo, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ. Thực tiễn đó đòi hỏi công tác dân vận đối với tôn giáo phải được đổi mới mạnh mẽ cả về tư duy, nội dung và phương thức tiếp cận.

2. Vai trò và thực tiễn của các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam trong hoạt động đối ngoại Nhân dân

2.1. Cầu nối giao lưu văn hóa, tăng cường hiểu biết quốc tế và quảng bá hình ảnh đất nước

Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam sở hữu số lượng chức sắc, tín đồ đông đảo cả trong và ngoài nước, thiết lập mạng lưới quan hệ quốc tế đa dạng với các định chế tôn giáo toàn cầu. Tính đến năm 2025, Nhà nước đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với hơn 27,3 triệu tín đồ (chiếm trên 27% dân số cả nước), hơn 66.300 chức sắc và hơn 30.300 cơ sở thờ tự.

Đa số các tổ chức tôn giáo lớn như: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam, các Hội thánh Tin Lành, đạo Cao Đài, Hồi giáo, Giáo hội các Thánh hữu ngày sau của Chúa Giê-su Ky-tô, Cộng đồng tôn giáo Baha’i... đều có quan hệ quốc tế sâu rộng, phù hợp với đường lối đối ngoại rộng mở của Nhà nước. Ngoài ra, trong số gần 6 triệu người Việt Nam định cư tại 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, có đến 80% là tín đồ tôn giáo. Phật giáo Việt Nam hiện có 22 Hội Phật tử trực thuộc và 400 ngôi chùa tại 33 quốc gia; Công giáo có khoảng 1 triệu tín đồ với 300 cộng đoàn tại 39 quốc gia; Tin Lành và Cao Đài cũng duy trì hàng trăm cơ sở thờ tự ở nước ngoài. Đây chính là nguồn lực mềm to lớn trong việc kết nối kiều bào và thực hiện thông tin đối ngoại.

Thông qua các diễn đàn đa phương, các tổ chức tôn giáo đã chủ động giới thiệu chính sách tự do tín ngưỡng, thành tựu đổi mới của Việt Nam, xây dựng lòng tin với bạn bè quốc tế. Nhiều sự kiện tôn giáo quốc tế quy mô lớn đã được tổ chức thành công tại Việt Nam dưới sự hỗ trợ của Nhà nước, tạo tiếng vang lớn như: Giáo hội Phật giáo Việt Nam 4 lần đăng cai Đại lễ Phật đản Liên Hợp quốc Vesak (2008, 2014, 2019, 2025); Hội nghị Liên hội đồng Giám mục Á châu (2012, 2023); Đại hội Tổng hội Dòng Đa Minh thế giới (2019) hay Hội nghị vùng Đông Á - châu Đại Dương của Dòng Don Bosco (2024).

Ở chiều ngược lại, chính sách mở cửa đã thu hút nhiều tổ chức, cá nhân tôn giáo nước ngoài vào Việt Nam giao lưu, học tập. Từ năm 2011 đến năm 2022, có khoảng 500 đoàn nước ngoài với hơn 3.000 lượt người vào Việt Nam hoạt động tôn giáo; từ khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực (2018), cơ quan chức năng đã tạo điều kiện cho 125 lượt chức sắc nước ngoài vào hướng dẫn tâm linh cho các nhóm tín đồ ngoại quốc sinh sống tại Việt Nam.

2.2. Góp phần củng cố hòa bình, hợp tác và phát triển thông qua hoạt động nhân đạo

Với tinh thần nhân văn và hướng thiện, các tổ chức tôn giáo tích cực tham gia vào công tác an sinh xã hội, cứu trợ thiên tai, y tế và bảo vệ môi trường, không chỉ trong nước mà còn lan tỏa ra quốc tế. Các tổ chức tôn giáo tại Việt Nam đã kết nối, thu hút khoảng 72 tổ chức phi chính phủ có nguồn gốc hoặc liên quan đến tôn giáo vào tài trợ các chương trình giáo dục, y tế, bảo trợ trẻ em và phát triển kinh tế - xã hội. Năm 2025, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức thăm hỏi, ủng hộ Nhân dân Sri Lanka khắc phục hậu quả thiên tai, trước đó là cứu trợ nạn nhân sóng thần ở Đông Nam Á và động đất tại Nepal. Các cơ sở thờ tự ở nước ngoài cũng tích cực mở phòng khám Đông y miễn phí và lớp học tình thương cho người nghèo bản xứ.

Đặc biệt, mối quan hệ giữa Việt Nam và Tòa thánh Vatican là một minh chứng điển hình cho sự thành công của đối ngoại tôn giáo. Từ trạng thái gián đoạn sau năm 1975, thông qua đối thoại kiên trì từ năm 1989 đến nay, hai bên đã nâng cấp quan hệ lên mức Đại diện Thường trú của Tòa thánh tại Việt Nam. Các chuyến thăm của Bộ trưởng Ngoại giao Vati- can (2024) và cuộc hội kiến giữa Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn với Giáo hoàng tại Vatican (tháng 4/2026) cùng bức thư mời Giáo hoàng sang thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã khẳng định thiện chí và chính sách tôn trọng tự do tôn giáo nhất quán của Đảng, Nhà nước.

2.3. Đóng góp vào công tác thông tin đối ngoại, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Trong môi trường thông tin đa chiều, các chức sắc, chức việc có uy tín lớn đóng vai trò là kênh thông tin mềm khách quan, giúp quốc tế hiểu đúng về đời sống tâm linh tại Việt Nam, từ đó trực tiếp bẻ gãy các luận điệu xuyên tạc. Các tổ chức tôn giáo nước nhà đã tích cực tham gia Đối thoại liên tín ngưỡng Á - Âu (5 lần) và Đối thoại liên tín ngưỡng khu vực châu Á - Thái Bình Dương (6 lần).

Việt Nam sở hữu một mô hình đặc biệt khi chức sắc các tôn giáo khác nhau cùng tham gia các đoàn liên ngành ra nước ngoài làm việc với chính giới các nước để minh định sự thật. Điển hình là vào tháng 10/2023, Đoàn công tác liên ngành gồm đại diện Công giáo, Phật giáo, Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Giáo hội các Thánh hữu ngày sau của Chúa Giê-su Ky-tô Việt Nam đã sang thăm và làm việc tại Hoa Kỳ. Đoàn đã đối thoại thẳng thắn, cung cấp thông tin chính xác về các trường hợp phía Hoa Kỳ quan tâm nhưng thiếu dữ liệu kiểm chứng, yêu cầu trao đổi qua kênh chính thức thay vì nghe thông tin một chiều. Trước đó, những nỗ lực đối ngoại tôn giáo tương tự vào năm 2002 đã góp phần quan trọng thúc đẩy Hoa Kỳ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách quốc gia quan tâm đặc biệt - CPC.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động này vẫn tồn tại một số hạn chế: Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, Tuyên giáo, Dân vận và Công an có lúc chưa đồng bộ, kịp thời; một số địa phương còn lúng túng, chưa nhận thức đầy đủ giá trị của đối ngoại tôn giáo; năng lực ngoại ngữ, kiến thức luật pháp quốc tế của một bộ phận chức sắc còn hạn chế; trong khi các thế lực cực đoan ở hải ngoại vẫn không ngừng lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc, gây khó khăn cho công tác đối ngoại.

3. Những yêu cầu đặt ra đối với công tác dân vận trong bổi cảnh mới

3.1. Đổi mới nhận thức về vai trò của tôn giáo trong xã hội hiện đại

Công tác dân vận cần bứt phá khỏi tư duy cũ để nhìn nhận tôn giáo không chỉ là nhu cầu tinh thần thuần túy của nhân dân mà là một nguồn lực xã hội, nguồn lực văn hóa quan trọng phục vụ phát triển đất nước. Việc phát huy vai trò đối ngoại nhân dân của các tổ chức tôn giáo phải được đặt trong tổng thể chiến lược xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, yêu cầu cấp thiết là phải kiên quyết khắc phục tư tưởng định kiến, hành chính hóa hoặc biểu hiện cực đoan khi xem xét, giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo.

3.2. Tăng cường đối thoại, chủ động xây dựng lòng tin chiến lược

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và sự bùng nổ của công nghệ số, công tác dân vận phải chuyển dịch từ trạng thái quản lý sang vận động, đồng hành, kiến tạo. Cần chủ động gặp gỡ, đối thoại và lắng nghe để giải quyết kịp thời, thấu đáo các kiến nghị, nguyện vọng chính đáng của các tổ chức tôn giáo theo đúng quy định pháp luật. Xây dựng được lòng tin chiến lược vững chắc giữa chính quyền và các tổ chức tôn giáo là điều kiện tiên quyết để định hướng, huy động nguồn lực của họ tham gia hiệu quả vào các hoạt động đối ngoại nhân dân. Cán bộ dân vận đòi hỏi phải am hiểu sâu sắc giáo lý, giáo luật, có kỹ năng ứng xử tinh tế trong môi trường đa văn hóa.

3.3. Chủ động đấu tranh ngăn chặn các hành vi lợi dụng tôn giáo trên không gian mạng

Các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đang triệt để lợi dụng truyền thông xã hội và các nền tảng số để tung tin ngụy tạo như Việt Nam đàn áp, giam giữ bất công, cưỡng bức nhận tội đối với tín đồ. Do đó, công tác dân vận trong bối cảnh mới phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa vận động, thuyết phục với kiên quyết đấu tranh ngăn chặn các hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật. Phải giúp chức sắc, tín đồ nâng cao “sức đề kháng” chính trị, nhận diện rõ bản chất và phương thức tinh vi của các thế lực xấu để không bị lôi kéo, kích động.

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dân vận đối với tôn giáo trong hoạt động đối ngoại Nhân dân

4.1. Hoàn thiện thể chế và cơ chế phối hợp trong quản lý hoạt động đối ngoại tôn giáo

Cần tiếp tục thể chế hóa toàn diện các quan điểm, chủ trương của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Khẩn trương rà soát, bổ sung các quy định pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng, thuận lợi để các tổ chức tôn giáo mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế, bảo đảm phù hợp với các cam kết quốc tế và lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc.

Đồng thời, cần thiết lập một cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ, thông suốt giữa các cơ quan Dân vận, Ngoại giao, Mặt trận Tổ quốc, Tuyên giáo, Công an và các tổ chức tôn giáo từ Trung ương đến địa phương nhằm chủ động định hướng, hỗ trợ và xử lý nhanh chóng các vấn đề phát sinh trong hoạt động đối ngoại nhân dân.

4.2. Phát huy vai trò lực lượng cốt cán của chức sắc, người có uy tín và kiều bào tôn giáo

Chức sắc, chức việc, nhà tu hành là những người có uy tín và tầm ảnh hưởng mang tính định hướng đối với cộng đồng tín đồ. Công tác dân vận cần tập trung tranh thủ, phát huy vai trò của lực lượng này làm hạt nhân trong các hoạt động ngoại giao nhân dân. Nhà nước cần tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để họ tham gia các diễn đàn đa phương, hội nghị tôn giáo quốc tế, hoạt động nhân đạo và giao lưu văn hóa tại nước ngoài. Qua đó, họ trực tiếp giới thiệu sống động về bức tranh tự do tôn giáo tại Việt Nam.

Song song đó, cần tăng cường kết nối, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân tôn giáo Việt Nam ở nước ngoài sinh hoạt tâm linh ổn định, tuân thủ pháp luật nước sở tại, hướng về cội nguồn và tích cực đóng góp vào các hoạt động an sinh xã hội, thắt chặt quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước.

4.3. Đổi mới công tác thông tin đối ngoại, chủ động phản bác các luận điệu xuyên tạc

Cần thay đổi căn bản phương thức tuyên truyền về chính sách tôn giáo của Việt Nam bằng cách chủ động, hiện đại, thuyết phục, phù hợp với từng nhóm đối tượng quốc tế. Tăng cường ứng dụng công nghệ số, sử dụng đa ngôn ngữ trên các nền tảng mạng xã hội và truyền thông quốc tế để lan tỏa rộng rãi những hình ảnh chân thực, tích cực về đời sống tôn giáo tại Việt Nam.

Khi xuất hiện các thông tin sai lệch, xuyên tạc, các cơ quan chức năng phải chủ động, kịp thời cung cấp thông tin chính thống một cách minh bạch; đồng thời định hướng cho các chức sắc, nhà tu hành có uy tín lên tiếng phản bác trên các diễn đàn quốc tế, tạo sự đồng thuận và niềm tin vững chắc trong dư luận.

4.4. Chú trọng bồi dưỡng năng lực đối ngoại cho cả đội ngũ cán bộ dân vận và chức sắc tôn giáo

Yêu cầu đặt ra trong bối cảnh mới là phải nâng cao năng lực toàn diện cho cả chủ thể quản lý và đối tượng vận động. Đối với đội ngũ chức sắc, chức việc, cần chủ động cung cấp thông tin thời sự, bồi dưỡng kiến thức pháp luật Việt Nam, luật pháp quốc tế, kỹ năng ngoại giao và năng lực ngoại ngữ để họ tự tin, chủ động và ứng xử chuẩn mực khi tham gia các hoạt động quốc tế.

Đối với đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, tôn giáo, đặc biệt là ở cấp cơ sở, cần được đào tạo bài bản về lý luận, thực tiễn tôn giáo, kỹ năng truyền thông quốc tế và xử lý các tình huống nhạy cảm liên quan đến an ninh phi truyền thống, bảo đảm xây dựng một đội ngũ cán bộ vừa am hiểu chuyên môn, vừa nhiệt huyết, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

5. Kết luận

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn diện, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí là một chủ thể quan trọng, một nguồn lực “sức mạnh mềm” độc đáo của đối ngoại nhân dân. Với mạng lưới quan hệ quốc tế phong phú và tinh thần nhân văn sâu sắc, các tổ chức tôn giáo đã đóng góp tích cực vào công cuộc quảng bá hình ảnh đất nước, củng cố hòa bình, hợp tác và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

Để phát huy tối đa nguồn lực này, công tác dân vận đối với tôn giáo cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ về tư duy, nội dung và phương thức hoạt động; vừa đồng hành, tạo điều kiện thuận lợi để các tôn giáo phát triển lành mạnh, mở rộng quan hệ quốc tế, vừa chủ động đấu tranh ngăn chặn các hành vi lợi dụng tôn giáo chống phá đất nước. Thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ góp phần củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới .

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2003), Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa IX) về công tác tôn giáo.

2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

5. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2016), Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.

6. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

7. Ban Dân vận Trung ương (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác dân vận trong tình hình mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

8. Bộ Ngoại giao (2023), Ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại vì hòa bình và phát triển bền vững, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

9. Ban Tôn giáo Chính phủ (2022), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.

10. Lê Minh Khánh - Lê Thị Anh (2024), Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo vì mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam, Ấn phẩm Xây dựng Đảng - Tạp chí Cộng sản, Số 4, tr. 39-44.