Quả núc nác có hình dáng dài, nhìn xa gần giống quả của cây phượng vĩ đỏ.Cây núc nác cao lớn, tán rộng và có thể cao tới 10-15 mét. Mùa quả thường có từ tháng 7 đến tháng 9, quả ngon nhất là vào khoảng tháng 9 khi trời chuyển tiết thu.
Bà con dân tộc thiểu số lấy quả núc nác về làm thuốc, thức ăn, con trẻ lấy quả núc nác làm thước đo, làm đồ chơi.
Quả núc nác có hình dáng dài, nhìn xa gần giống quả của cây phượng vĩ đỏ. Quả núc nác bánh tẻ (quả không quá non và không bị già) sẽ được được hái về, chế biến thành nhiều món ăn trong các bữa cỗ hoặc trong bữa ăn hàng ngày của đồng bào dân tộc thiểu số.
Để bớt mùi ngái và giảm độ đắng, nhớt, đồng bào thường nướng quả núc nác sém vỏĐể bớt mùi ngái và giảm độ đắng, nhớt, đồng bào thường nướng quả núc nác sém vỏ. Nướng cho tới khi lớp vỏ ngoài sém đen, phồng lên tách khỏi cùi thì mang ra cạo hết phần vỏ cháy bên ngoài, rửa sạch, thái lát và chế biến.
Gia vị nộm núc nác rất đa dạng, phong phú tùy theo khẩu vị, điều kiện và hoàn cảnh của người chế biến, thưởng thức.
Nộm núc nác Ở nhà hàng, nộm núc nác được trộn với một số loại thịt (thịt gà, thịt trâu, thịt bò tươi hoặc gác bếp...) kèm theo lạc rang giã vỡ và một số loại rau thơm. Ở các gia đình, vào ngày thường, đồng bào dân tộc thiểu số ưa thích làm nộm đơn giản, chỉ có quả núc nác nướng, thái lát trộn với rau thơm (rau húng, rau mùi tàu hoặc rau thơm pa la chít...), ớt, muối, mì chính, nước cốt chanh. Vào ngày gia đình có cỗ, quả núc nác sẽ được chế biến cùng thịt, cá... Khi đi nương, rẫy đồng bào làm nộm núc nác đơn giản với muối, ớt, chanh và rau thơm...
Nguyên liệu chính của nộm núc nác là quả núc nác, các nguyên liệu và gia vị khác được lựa chọn theo sở thích, khẩu vị và điều kiện chế biến của người thưởng thứcNộm núc nác là món ăn làm thức tỉnh vị giác của người thưởng thức. Vừa tiếp cận với nộm núc nác, mùi hăng hắc, ngai ngái của quả núc nác nổi trội hơn cả, tác động ngay đến khứu giác người thưởng thức. Về vị, mặc dù nộm là món được hòa quyện từ nhiều vị khác nhau, nhưng vị đắng và cay sẽ “bùng nổ” trước tiên khi thưởng thức lần đầu. Núc nác đắng khá gắt nên dù trộn với nhiều gia vị, ta vẫn cảm nhận và phân biệt rất rõ. Tiếp đó là vị cay, thông thường đồng bào sẽ cho nhiều ớt để vị cay át bớt vị đắng. Ngay từ miếng đầu, người thưởng thức sẽ phải dừng lại xuýt xoa, thổi hơi ra khỏi miệng giúp giảm cảm giác cay, đắng. Sau một thời gian rất ngắn nhai và nuốt miếng nộm, các hương vị khác như: vị bùi của lạc rang, vị mặn của muối, vị chua của cốt chanh, vị thơm của các loại rau trộn kèm, vị ngọt của thịt khiến ta quên dần vị đắng, bắt đầu cảm nhận được độ giòn, ngọt hậu của miếng núc nác. Chút nhựa còn lại trong miếng núc nác khiến cho miếng nộm có cảm giác dính, nhớt rất nhẹ. Sau miếng thứ nhất, ta lại chẳng thể đặng đừng mà thưởng thức miếng nộm núc nác thứ hai, thứ ba... Dần dà, món nộm núc nác chinh phục thực khách lúc nào chẳng hay.
Đồng bào dân tộc thiểu số ở một số nơi có thể ăn quả núc nác tươi, không cần nướng. Thay vì trộn nộm cầu kỳ, đồng bào bẻ miếng hoặc thái lát núc nác ăn kèm với một số loại rau (lá gừng, lá lốt, lá chát...), thịt gác bếp, chấm với chẳm chéo.
Đồng bào dân tộc thiểu số hái quả núc nác về ăn và mang ra chợ bán cho người dân địa phương. Rất nhiều khách du lịch đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số từng thưởng thức núc nác xào, núc nác nộm, núc nác ăn gém... đã tìm mua về chế biến mời bạn bè, người thân thưởng thức.
Đồng bào dân tộc thiểu số hái quả núc nác về ăn và mang ra chợ bán cho người dân địa phương, du kháchTheo quan niệm của đồng bào dân tộc thiểu số, quả và các bộ phận của cây núc nác là một vị thuốc dân gian có thể chữa được nhiều bệnh như: trị ho, chống viêm nhiễm, thanh nhiệt, chữa u nhọt... Vì vậy, bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số rất quý cây núc nác. Nhiều gia đình trồng cây núc nác để lấy thuốc, lấy quả ăn.
Các món chế biến từ núc nác cần thưởng thức chậm, ăn lượng vừa đủ, vừa ăn vừa lắng nghe cơ thể để cảm nhận sự phù hợp. Vị đắng của núc nác là thuốc nhưng cũng có thể gây ra những phản ứng không tốt cho cơ thể khi ăn nhiều.
Trong ẩm thực của đồng bào dân tộc thiểu số nhiều nơi trên cả nước, vị đắng, vị cay, vị chát của các loại rau, quả khá phổ biến và được người dân yêu thích. Có thể, đây là những loại rau, quả phổ biến ở núi rừng, vừa là thuốc, vừa được đồng bào thưởng thức lâu dần rồi thành quen, thành món ăn yêu thích. Những loại rau quả này, về bản chất đã thể hiện sự tinh nhạy trong khả năng sinh tồn giữa núi rừng. Bằng một cách riêng, vị đắng của cây, quả giúp nó ngăn chặn bị động vật phá, tấn công khi chưa kịp sinh trưởng. Đồng bào dân tộc thiểu số lựa chọn những loại rau, trái này vừa để phòng, chữa bệnh, chống đói vừa không cạnh tranh thức ăn với các loài vật trong rừng. Điều này phù hợp với tinh thần thích nghi, yêu quý và hòa hợp với thiên nhiên của đồng bào dân tộc thiểu số./.