Analytic
Thứ hai, ngày 02/01/2026

Một số vấn đề về dân số và phát triển ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam hiện nay

Phương Liên - 23:35, 07/08/2026

(DTTG)-Tóm tắt: Dựa trên kết quả Điều tra thu thập thông tin thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019 và 2024 (công bố cuối tháng 11/2025), bài viết phân tích mức sinh, xu hướng biến đổi và sự khác biệt giữa các nhóm dân tộc thiểu số trong mối liên hệ với bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam. Kết quả cho thấy mức sinh của các dân tộc có xu hướng giảm nhưng phân hóa mạnh, mô hình sinh con sớm còn phổ biến, đặc biệt ở nhóm tuổi 20-24, góp phần duy trì cơ cấu dân số trẻ ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Tuy nhiên, mức sinh và quy mô dân số trẻ không đồng nghĩa với chất lượng nguồn nhân lực khi sinh con sớm vẫn gắn với hạn chế về giáo dục, việc làm và tiếp cận dịch vụ xã hội. Từ đó, bài viết khuyến nghị chính sách theo hướng phân nhóm can thiệp, điều chỉnh hành vi sinh phù hợp, nhấn mạnh vai trò của giáo dục, phát triển sinh kế và dịch vụ sức khỏe sinh sản gắn với đặc thù văn hóa tộc người, nhằm vừa thích ứng với già hóa dân số, vừa bảo đảm phát triển bền vững.

Từ khóa: Mức sinh; Dân tộc thiểu số; Chính sách dân số.

1. Đặt vấn đề

Mức sinh là một trong những chỉ báo trung tâm phản ánh động thái dân số và chất lượng phát triển xã hội. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), mức sinh không chỉ là câu chuyện nhân khẩu học mà còn gắn với điều kiện kinh tế, văn hóa, phong tục hôn nhân - gia đình và khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Trong bối cảnh cả nước đang bước vào giai đoạn duy trì mức sinh thay thế và già hóa dân số, mức sinh của các dân tộc thiểu số lại cho thấy những phân tầng đáng chú ý, đặt ra yêu cầu điều chỉnh chính sách theo hướng linh hoạt, có trọng tâm.

2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Điều tra thu thập thông tin thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số lần thứ III do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) và Bộ Dân tộc và Tôn giáo thực hiện năm 2024, công bố tháng 11/2025 cho thấy một số vấn đề cần quan tâm liên quan đến mức sinh của người dân tộc thiểu số so với cuộc điều tra lần thứ II năm 2019.

Thứ nhất, tổng tỷ suất sinh giảm nhưng chưa đồng đều. Năm 2024, tổng tỷ suất sinh của phụ nữ dân tộc thiểu số đạt 2,25 con/phụ nữ, giảm 0,1 con so với năm 2019. Dù có xu hướng giảm nhưng mức này vẫn cao hơn mức bình quân chung của cả nước (1,91 con/phụ nữ) và cao hơn mức sinh thay thế (2,1 con/phụ nữ). Điều này cho thấy đà giảm sinh ở vùng dân tộc thiểu số vẫn chậm so với cả nước

Cần đặt vấn đề dân số vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tổng thể bài toán phát triển quốc gia để chuyển hóa lợi thế dân số trẻ thành nguồn nhân lực có chất lượng
Cần đặt vấn đề dân số vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tổng thể bài toán phát triển quốc gia để chuyển hóa lợi thế dân số trẻ thành nguồn nhân lực có chất lượng

Một điểm đáng chú ý khác là xu hướng biến động không đồng đều. Điều tra năm 2024 cho kết quả 15 dân tộc thiểu số có mức sinh tăng, trong đó dân tộc Pà Thẻn tăng mạnh nhất (0,66 con/phụ nữ), Cơ Lao (tăng 0,61 con/phụ nữ), Giáy (tăng 0,54 con/phụ nữ) đã đặt ra câu hỏi vì sao trong xu hướng chung là giảm sinh vẫn tồn tại những “điểm nóng” tăng sinh? Câu trả lời nhiều khả năng ở sự tác động đan xen của tập quán hôn nhân sớm, mong muốn có nhiều con và hạn chế trong tiếp cận dịch vụ kế hoạch hóa gia đình.

Ngược lại, các dân tộc Mảng, Xơ-đăng, Gia-rai có mức sinh giảm mạnh nhất, lần lượt giảm 0,93 con/phụ nữ, 0,42 con/phụ nữ và 0,37 con/phụ nữ. Các dân tộc này trước đây thuộc nhóm có mức sinh rất cao nên thường là trọng điểm của các chương trình can thiệp như truyền thông, cung cấp phương tiện tránh thai, đưa cán bộ y tế cơ sở về tận thôn bản… Khi các yếu tố kiểm soát sinh bắt đầu tác động, mức giảm thường diễn ra nhanh và rõ hơn so với những nhóm đã ở mức trung bình. Ngoài ra, ở các vùng Tây Nguyên, nơi cư trú chủ yếu của đồng bào dân tộc Xơ-đăng và Gia-rai, những năm gần đây đã có sự cải thiện rõ rệt về hạ tầng, trường học, truyền thông. Khi trẻ em gái và phụ nữ được tiếp cận giáo dục tốt hơn, kết hôn muộn hơn và có nhận thức rõ hơn về chi phí nuôi dạy con thì mức sinh thường sẽ giảm…

Thứ hai, khi đặt mức sinh trong tương quan với quy mô dân số có thể nhận thấy một nghịch lý: quy mô dân số không tỷ lệ thuận với mức sinh. Ở nhóm các dân tộc thiểu số có quy mô lớn (trên 1 triệu người), sự khác biệt đã khá rõ. Dân tộc Mông, một trong những nhóm đông dân lại đang có mức sinh cao nhất (3,57 con/phụ nữ), trong khi các dân tộc: Tày, Thái, Mường, Khmer chỉ dao động quanh hoặc dưới mức sinh thay thế như: Khmer (1,83 con/phụ nữ), Thái (1,93 con/phụ nữ). Ngược lại, có 5 dân tộc thiểu số có quy mô dân số ít nhưng duy trì mức sinh rất cao: Cơ Lao (4,32 con/phụ nữ), Chứt (4,22 con/phụ nữ), Mảng (4,04 con/phụ nữ), Pà Thẻn (3,63 con/phụ nữ), La Hủ (3,41 con/phụ nữ).

Như vậy, quy mô dân số không phải là yếu tố quyết định mức sinh. Yếu tố chi phối nằm ở điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, trình độ giáo dục, mức độ tiếp cận dịch vụ y tế và đặc điểm văn hóa, hôn nhân của từng cộng đồng. Những dân tộc cư trú ở vùng khó khăn, địa bàn biệt lập, điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế hạn chế thường duy trì mức sinh cao, bất kể quy mô dân số lớn hay nhỏ phản ánh một thực tế là mức sinh ở các dân tộc thiểu số phân hóa theo điều kiện phát triển nhiều hơn là theo quy mô dân số.

Thứ ba, đặc trưng nổi bật xuyên suốt của các dân tộc thiểu số là sinh con sớm. Mô hình sinh của phụ nữ dân tộc thiểu số đạt đỉnh ở nhóm tuổi 20-24, với mức sinh đặc trưng đạt khoảng 152 con/1.000 phụ nữ (năm 2019) và 148 con/1.000 phụ nữ (năm 2024). Số con ở những độ tuổi kế tiếp giảm nhanh. Ở nhóm 25-29 tuổi, mức sinh giảm nhanh, khoảng 32%, trong khi độ tuổi sinh con phổ biến của phụ nữ Việt Nam nói chung thuộc về nhóm tuổi này, với 125 con/1.000 phụ nữ. Đáng chú ý, mức sinh ở nhóm 15-19 tuổi của các dân tộc thiểu số đạt mức 83 con/1000 phụ nữ, cao hơn rất nhiều so với mức chung của toàn quốc (26 con/1000 phụ nữ) phản ánh tình trạng tảo hôn và kết hôn sớm vẫn còn. Như vậy, phụ nữ dân tộc thiểu số có mô hình sinh sớm hơn rất nhiều so với mô hình sinh chung và từ 25 tuổi trở đi, mức sinh của phụ nữ dân tộc thiểu số bắt đầu giảm mạnh. Hệ quả không chỉ là gia tăng số con, mà còn kéo theo các rủi ro về sức khỏe bà mẹ, trẻ em, hạn chế cơ hội học tập và việc làm của phụ nữ trẻ.

3. Các yếu tố chi phối mức sinh của phụ nữ dân tộc thiểu số

Từ dữ liệu điều tra và đối chiếu với thực tiễn, có thể nhận diện các nhóm yếu tố chi phối mức sinh của phụ nữ dân tộc thiểu số không tồn tại độc lập mà đan xen, cộng hưởng mang tính đặc thù vùng miền và tộc người.

Thứ nhất, yếu tố văn hóa xã hội là nền tảng định hình hành vi sinh. Ở nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số vẫn đang tồn tại quan niệm con cái không chỉ là giá trị tinh thần mà còn là nguồn lao động, chỗ dựa khi tuổi già và biểu tượng của sự đủ đầy. Chính quan niệm này đã làm suy yếu động lực giảm sinh. Đáng chú ý, tảo hôn và kết hôn sớm là tập quán xã hội vẫn đang được chấp nhận ở một số nơi. Khi tuổi kết hôn thấp, thời gian sinh sản sẽ kéo dài, kéo theo xác suất sinh nhiều con cao hơn. Đồng thời, áp lực “phải có con sớm”, “phải có con trai” tiếp tục củng cố hành vi sinh truyền thống, khiến các thông điệp dân số hiện đại khó thẩm thấu vào một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ hai, yếu tố kinh tế với logic “sinh để tồn tại”. Khi sinh kế còn phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông lâm nghiệp quy mô nhỏ, lao động gia đình vẫn là nguồn lực chính với đại bộ phận hộ dân tộc thiểu số. Việc sinh nhiều con, vì vậy, với không ít gia đình mang tính toán kinh tế rõ rệt là để thêm lao động, tăng khả năng chống đỡ rủi ro. Ở những vùng thiếu an sinh xã hội chính thức, con cái trở thành “bảo hiểm phi chính thức” cho tuổi già của người dân tộc thiểu số.

Một điểm cần nhấn mạnh là khi chi phí nuôi dạy con thấp do hạn chế tiếp cận giáo dục, y tế chất lượng cao thì đưa lý do kinh tế ra để thuyết phục giảm sinh sẽ khó có ảnh hưởng với đồng bào dân tộc thiểu số. Điều này tạo ra một nghịch lý là càng nghèo thì áp lực sinh nhiều con để bảo đảm sinh kế càng lớn và nghịch lý này trở thành vòng luẩn quẩn ảnh hưởng qua các thế hệ.

Thứ ba, yếu tố tiếp cận dịch vụ đang là một điểm nghẽn. Dù mạng lưới y tế cơ sở đã được mở rộng, nhưng ở nhiều vùng sâu, vùng xa, khả năng tiếp cận dịch vụ kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản vẫn còn hạn chế cả về khoảng cách địa lý, chất lượng và tính phù hợp văn hóa. Sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, niềm tin khiến 2,5% phụ nữ dân tộc thiểu số vẫn lựa chọn sinh con tại nhà không có cán bộ chuyên môn đỡ. Một số dân tộc: Mảng, Chứt, La Chí, Lô Lô, Mông có tỷ lệ sinh con tại nhà và không có cán bộ chuyên môn đỡ khá cao, lần lượt là 23,2%, 19,3%, 14,1%, 12,8% và 10,8%. Bên cạnh đó là các nguyên nhân như: tâm lý e ngại hoặc không sẵn sàng sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại; một bộ phận cán bộ y tế cơ sở chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng làm việc trong môi trường đa văn hóa đã làm giảm hiệu quả truyền thông và can thiệp.

Thứ tư, yếu tố giáo dục. Giáo dục cho phụ nữ có tác động sâu và bền vững nhất đến mức sinh. Trình độ học vấn càng cao, khả năng tiếp cận thông tin, cơ hội việc làm và quyền tự quyết trong gia đình càng lớn sẽ làm thay đổi căn bản hành vi sinh. Tuy vậy, ở nhiều vùng dân tộc thiểu số, tình trạng bỏ học sớm, nhất là ở cấp trung học vẫn phổ biến. Khi con đường học tập bị gián đoạn, hôn nhân sớm trở thành lựa chọn gần như mặc định, kéo theo sinh con sớm và sinh nhiều con. Ngược lại, những địa bàn cải thiện được tỷ lệ đi học của nữ sinh thường ghi nhận mức sinh giảm rõ rệt.

Về tổng thể, các yếu tố văn hóa, kinh tế, dịch vụ và giáo dục không tác động riêng lẻ mà tương tác chặt chẽ, tạo nên sự khác biệt về mức sinh giữa các dân tộc và các vùng miền. Điều này hàm ý mọi can thiệp chính sách nếu chỉ nhằm vào một yếu tố đơn lẻ sẽ khó đạt hiệu quả bền vững. Bài toán mức sinh ở vùng dân tộc thiểu số, vì vậy, đòi hỏi cách tiếp cận tích hợp, trong đó thay đổi hành vi sinh phải đi cùng cải thiện điều kiện sống và nâng cao năng lực phát triển của cộng đồng.

4. Mức sinh của phụ nữ dân tộc thiểu số trong vấn đề già hóa dân số quốc gia

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ nhanh, vấn đề mức sinh không còn là bài toán giảm hay tăng một cách giản đơn, mà là việc phân bố lại một cách hợp lý giữa các vùng, các nhóm dân tộc thiểu số. Ở góc độ này, việc sinh con sớm của phụ nữ dân tộc thiểu số nổi lên như một yếu tố có tính hai mặt: vừa góp phần duy trì quy mô dân số, vừa đặt ra những thách thức không nhỏ đối với chất lượng nguồn nhân lực và phát triển bền vững.

Hiện nay, mô hình sinh con sớm vẫn phổ biến ở nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số, với tỷ suất sinh cao ở nhóm tuổi 20-24. Điều này góp phần bổ sung lực lượng dân số trẻ, làm chậm lại quá trình già hóa - một xu hướng đang diễn ra rõ nét ở các đô thị và vùng đồng bằng, nơi mức sinh đã xuống thấp kéo dài. Nói cách khác, khu vực dân tộc thiểu số và miền núi, với mức sinh cao hơn và độ tuổi sinh con sớm hơn đang bù đắp phần nào sự thiếu hụt về mức sinh của cả nước. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn nhận sinh con sớm như một nguồn lực nhân khẩu học sẽ là cách tiếp cận phiến diện. Vấn đề cốt lõi nằm ở chất lượng của lực lượng dân số được sinh ra. Sinh con sớm thường gắn với tảo hôn, trình độ học vấn thấp, thiếu kỹ năng nghề nghiệp và hạn chế trong tiếp cận dịch vụ y tế. Hệ quả là vòng xoáy nghèo đói - sinh nhiều - chất lượng dân số thấp có nguy cơ tái sản xuất qua các thế hệ. Điều này không chỉ làm suy giảm chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ mà còn cản trở quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số với mặt bằng chung của quốc gia và với các vùng khác.

Từ góc độ chính sách, sinh con sớm ở người dân tộc thiểu số không thể được coi là một giải pháp cho già hóa dân số. Việc tận dụng mức sinh cao ở khu vực này để bù đắp thiếu hụt lao động ở nơi khác, nếu không đi kèm nâng cao chất lượng dân số sẽ dẫn đến những hệ lụy dài hạn, làm gia tăng bất bình đẳng và áp lực an sinh xã hội. Ở tầm chiến lược, cần đặt vấn đề dân số vùng dân tộc thiểu số trong tổng thể bài toán phát triển quốc gia, là khu vực cần được đầu tư để chuyển hóa lợi thế dân số trẻ thành nguồn nhân lực có chất lượng. Chỉ khi đó, đóng góp của vùng dân tộc thiểu số vào việc thích ứng với già hóa dân số mới thực sự bền vững và có ý nghĩa lâu dài.

5. Một số hàm ý chính sách

Thứ nhất, phân nhóm chính sách theo mức sinh. Với các dân tộc thiểu số có mức sinh cao, cần ưu tiên giảm sinh thông qua tăng cường dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, truyền thông thay đổi hành vi, đặc biệt là kiểm soát và tiến tới xóa bỏ tảo hôn, kéo giãn độ tuổi kết hôn và sinh con đầu lòng. Đây là giải pháp mang tính nền tảng, tác động trực tiếp đến mô hình sinh và chất lượng dân số. Với các dân tộc thiểu số đã đạt mức sinh thấp, cần chuyển sang duy trì mức sinh hợp lý, tránh rơi vào tình trạng sinh thấp kéo dài.

Thứ hai, đầu tư vào giáo dục, đặc biệt là giáo dục trung học, đào tạo nghề và nâng cao vị thế phụ nữ. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy giáo dục là đòn bẩy hiệu quả nhất để điều chỉnh mức sinh. Cần giảm tình trạng bỏ học sớm, mở rộng cơ hội học nghề và việc làm cho trẻ em gái và phụ nữ dân tộc thiểu số. Khi trẻ em gái và phụ nữ có cơ hội học tập và việc làm, xu hướng kết hôn và sinh con sớm sẽ giảm một cách tự nhiên.

Thứ ba, phát triển, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ sức khỏe sinh sản theo hướng phù hợp với đặc thù văn hóa tộc người, bảo đảm phụ nữ dân tộc thiểu số có đủ thông tin và điều kiện để lựa chọn thời điểm sinh con hợp lý.

Thứ tư, gắn chính sách dân số với phát triển kinh tế. Khi sinh kế được cải thiện, nhu cầu có nhiều con sẽ tự điều chỉnh. Do đó, chính sách dân số cần đi cùng giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển hạ tầng.

Thứ năm, tăng cường dữ liệu và giám sát. Các cuộc điều tra định kỳ cần tiếp tục được duy trì và mở rộng, giúp theo dõi sát diễn biến mức sinh ở từng dân tộc, từng địa bàn.

6. Kết luận

Kết quả từ hai kỳ điều tra năm 2019 và 2024 cho thấy mức sinh của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đang có xu hướng giảm, song diễn ra không đồng đều và phân hóa rõ rệt giữa các dân tộc. Trong khi một số dân tộc thiểu số đã tiệm cận hoặc đạt mức sinh thay thế, vẫn tồn tại những nhóm duy trì mức sinh cao, thậm chí có xu hướng tăng. Mô hình sinh con sớm vẫn phổ biến, tiếp tục kéo dài thời gian sinh sản và số con trung bình của phụ nữ dân tộc thiểu số.

Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, mức sinh của các dân tộc thiểu số đặt ra hai mặt của một vấn đề. Một mặt, mức sinh cao hơn và cơ cấu dân số trẻ ở khu vực này góp phần bổ sung lực lượng lao động, làm chậm lại tốc độ già hóa dân số quốc gia. Nhưng nếu mức sinh cao gắn với sinh con sớm, trình độ học vấn thấp và hạn chế trong tiếp cận dịch vụ xã hội thì lợi thế về số lượng dân số khó có thể chuyển hóa thành lợi thế về chất lượng nguồn nhân lực. Khi đó, khu vực dân tộc thiểu số không những không trở thành “điểm tựa” cho thích ứng già hóa dân số, mà còn có nguy cơ làm gia tăng áp lực phát triển và bất bình đẳng.

Thực tiễn này đòi hỏi chính sách dân số phải được điều chỉnh theo hướng linh hoạt, phân hóa theo từng nhóm dân tộc và địa bàn, thay vì áp dụng cách tiếp cận đồng nhất. Trọng tâm không chỉ là kiểm soát mức sinh mà là điều chỉnh hành vi sinh theo hướng hợp lý: giảm sinh sớm, nâng cao chất lượng sinh, gắn với mở rộng giáo dục, cải thiện sinh kế và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ sức khỏe sinh sản phù hợp với đặc thù văn hóa tộc người.

Tài liệu tham khảo

1. Cục Thống kê, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024, Nxb Kinh tế - Tài chính, 2025, Hà Nội.

2. Ủy ban Dân tộc, Tổngcục Thống kê, Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hộicủa 53 dân tộc thiểu số năm 2019, Nxb Thống kê 2020, Hà Nội.