Sự tham gia trực tiếp của các chức sắc tôn giáo trong hoạt động thiện nguyện là minh chứng rõ nét cho thấy tôn giáo đang tích cực chia sẻ trách nhiệm đảm bảo an sinh xã hội cho cộng đồng, đặc biệt là trẻ em yếu thếTừ khóa: Nguồn lực tôn giáo; An sinh xã hội; Khung khổ pháp lý; Thể chế hóa; Việt Nam.
1. Đặt vấn đề
An sinh xã hội là trụ cột cốt lõi trong chính sách phát triển bền vững nhằm bảo đảm bình ổn và nâng cao chất lượng cuộc sống Nhân dân. Trong bối cảnh ngân sách hạn hẹp, áp lực già hóa dân số và thiên tai, việc chỉ dựa vào nguồn lực công là không đủ. Sự tham gia của các tổ chức tôn giáo trở thành một yêu cầu khách quan.
Hiện nay, Việt Nam có trên 27,7 triệu tín đồ tôn giáo, trên 61.000 chức sắc, gần 145.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự rộng khắp. Các tôn giáo có truyền thống đồng hành cùng dân tộc trong các hoạt động từ thiện, y tế, giáo dục. Hiện có khoảng 300 trường mầm non, 2.000 lớp học tình thương và 12 cơ sở dạy nghề thuộc các tổ chức tôn giáo. Nhiều tổ chức còn thành lập quỹ học bổng, hỗ trợ học sinh nghèo vượt khó. Nguồn lực tôn giáo không chỉ là vật chất mà còn gồm nhân lực, tinh thần phụng sự và liên kết cộng đồng. Dù vai trò của tôn giáo đã được thừa nhận về chủ trương, quá trình thực thi vẫn gặp nhiều rào cản thể chế: thủ tục thành lập cơ sở bảo trợ, tư cách pháp nhân, chính sách đất đai, thuế và e ngại tâm lý từ cơ quan quản lý. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng pháp lý và đề xuất giải pháp khơi thông nguồn lực tôn giáo cho an sinh xã hội là vấn đề cấp thiết.
2. Nguồn lực tôn giáo trong an sinh xã hội: Lý luận và bản chất
2.1. Khái niệm và cấu trúc đa tầng của nguồn lực tôn giáo
Dưới góc độ xã hội học tôn giáo và khoa học quản trị công, nguồn lực tôn giáo không đơn thuần là một khái niệm mang tính mô tả số lượng tài sản hay tín đồ, mà là một cấu trúc sức mạnh tổng hợp bao gồm cả các yếu tố hữu hình lẫn vô hình. Nguồn lực này có khả năng chuyển hóa thành các giá trị phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong hệ thống an sinh xã hội - nơi hướng tới việc giảm thiểu rủi ro, bảo vệ các nhóm yếu thế và duy trì sự bình ổn cộng đồng.
Nguồn lực tôn giáo được cấu thành từ bốn trụ cột chính có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ:
Thứ nhất, nguồn lực vật chất và tài chính. Đây là biểu hiện hữu hình dễ nhận thấy nhất, bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng, đất đai, cơ sở thờ tự, tài sản và các quỹ từ thiện do tôn giáo quản lý. Nguồn tài chính tôn giáo có đặc điểm là tính xã hội hóa rất cao, được tích tụ từ sự đóng góp tự nguyện, đều đặn của hàng triệu tín đồ và các nhà hảo tâm trong và ngoài nước. Khác với nguồn ngân sách nhà nước vốn phụ thuộc vào quy trình phân bổ hành chính chặt chẽ hoặc nguồn vốn doanh nghiệp đòi hỏi các cam kết thương mại, nguồn lực tài chính tôn giáo có tính cơ động cao, có thể huy động và giải ngân tức thì để ứng phó với các tình huống cứu trợ khẩn cấp như thiên tai, dịch bệnh hay biến cố xã hội.
Thứ hai, nguồn lực con người. Đây là lực lượng thực thi trực tiếp các hoạt động an sinh xã hội. Nhân lực tôn giáo bao gồm hai nhóm: đội ngũ chức sắc, chức việc, tu sỹ đóng vai trò thủ lĩnh tinh thần, tổ chức, điều phối; và đông đảo quần chúng 10 tín đồ, tình nguyện viên trực tiếp tham gia cung ứng dịch vụ. Đặc trưng vượt trội của nguồn nhân lực này là sự cam kết cống hiến bền bỉ, tính kỷ luật tự giác cao và tinh thần phụng sự không đòi hỏi thù lao kinh tế. Trong các cơ sở bảo trợ xã hội như: mái ấm nuôi trẻ mồ côi, nhà dưỡng lão, trung tâm chăm sóc bệnh nhân hiểm nghèo…, tình thương và sự kiên nhẫn của đội ngũ tu sỹ chính là vốn nhân lực đặc biệt mà các dịch vụ an sinh xã hội thương mại hóa khó có thể tái tạo được.
Thứ ba, nguồn lực tinh thần và hệ giá trị đạo đức. Đây là phần hồn và là động lực kích hoạt toàn bộ các nguồn lực khác. Mọi tôn giáo lớn đều mang trong mình hệ triết lý hướng thiện, coi việc giúp đỡ đồng loại là con đường thực hành đức tin. Tinh thần từ bi - hỷ xả của Phật giáo, lý tưởng bác ái - phụng sự của Công giáo, hay truyền thống tương thân tương ái của các tôn giáo nội sinh đều gặp nhau ở điểm chung là biến nghĩa vụ xã hội thành tâm nguyện tâm linh. Khi hành vi trợ giúp xã hội được thúc đẩy bởi niềm tin tôn giáo đã tạo ra một động lực nội tại mạnh mẽ, giúp cá nhân sẵn sàng chia sẻ nguồn lực của mình một cách tự giác, vô điều kiện và duy trì lâu dài.
Thứ tư, vốn xã hội tôn giáo, khái niệm này chỉ hệ thống mạng lưới liên kết cộng đồng, niềm tin xã hội và các chuẩn mực ứng xử chung được thiết lập trong không gian tôn giáo. Mạng lưới tôn giáo có mật độ tương tác cao, trải rộng từ cấp cơ sở như giáo xứ, chùa, thánh thất… đến quy mô toàn quốc và quốc tế. Vốn xã hội này giúp các tổ chức tôn giáo có khả năng lan tỏa thông tin cực nhanh, tạo lập niềm tin cao giữa người trao và người nhận, từ đó cắt giảm tối đa chi phí giao dịch và chi phí quản lý trung gian - điều mà các tổ chức phi chính phủ hay cơ quan quản lý hành chính thường phải tốn rất nhiều chi phí để duy trì.
2.2. Bản chất và tính đặc thù của việc huy động nguồn lực tôn giáo
Sự tham gia của tôn giáo vào hệ thống an sinh xã hội không phải là sự sao chép mô hình của Nhà nước hay các tổ chức phi chính phủ (NGOs), mà mang những bản chất riêng biệt:
Thứ nhất, tính phi lợi nhuận và hướng đích vị tha cao, trong khi các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội (CSR) thường gắn liền với chiến lược xây dựng thương hiệu hay tối ưu hóa thuế, thì hoạt động an sinh xã hội của tôn giáo hoàn toàn xuất phát từ động cơ tâm linh, không tìm kiếm lợi nhuận kinh tế hay quảng bá thương mại. Giá trị tạo ra được hoàn toàn tái đầu tư cho cộng đồng.
Thứ hai, tính tiếp cận sâu rộng và bao trùm, do mạng lưới thờ tự và tín đồ hiện diện ở khắp các địa bàn địa lý - từ đô thị sầm uất đến vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo - các tổ chức tôn giáo có khả năng lấp khoảng trống của hệ thống an sinh xã hội chính thức. Họ dễ dàng tiếp cận những nhóm yếu thế trong xã hội như người lang thang, người nghiện ma túy, bệnh nhân HIV/ AIDS - những nơi mà dịch vụ công chưa bao phủ tới hoặc còn rào cản thủ tục hành chính.
Thứ ba, tính nhân văn và chữa lành toàn diện, hệ thống an sinh xã hội của Nhà nước chủ yếu cung cấp sự hỗ trợ về mặt pháp lý, tài chính và mức sống tối thiểu. Trong khi đó, dịch vụ an sinh xã hội của tôn giáo mang lại sự chăm sóc kép vừa đáp ứng nhu cầu vật chất, vừa hỗ trợ tâm lý, xoa dịu tổn thương tinh thần và tái định hướng giá trị sống cho đối tượng thụ hưởng. Sự kết hợp giữa trợ giúp xã hội và đồng hành tinh thần tạo nên hiệu quả chữa lành bền vững.
Như vậy, về mặt lý luận, nguồn lực tôn giáo trong an sinh xã hội không chỉ là một kênh bổ sung tài chính hay vật chất đơn thuần cho ngân sách quốc gia, mà là một nguồn vốn xã hội đặc thù. Nó vận hành dựa trên cơ chế kết nối đức tin, biến các giá trị nhân văn thành hành động thực tiễn. Việc nhận thức đúng đắn bản chất, cấu trúc và tiềm năng của nguồn lực này chính là tiền đề lý luận quan trọng để Nhà nước xây dựng hành lang pháp lý phù hợp, chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy hợp tác, nhằm giải phóng và phát huy tối đa sức mạnh của tôn giáo trong sự nghiệp an sinh xã hội chung của đất nước.
3. Thực trạng pháp lý về việc huy động nguồn lực tôn giáo cho an sinh xã hội tại Việt Nam
3.1. Tiến trình thể chế hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước
Chủ trương xã hội hóa các hoạt động xã hội và ghi nhận đóng góp của tôn giáo đã có sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ đại hội. Đại hội XI (2011) xác định, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Đại hội XII (2016) mở rộng, phát huy các nguồn lực của tôn giáo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIII (2021) khẳng định rõ nét hơn, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước.
Cột mốc quan trọng nhất đánh dấu sự thừa nhận chính thức về mặt pháp lý đối với hoạt động an sinh xã hội của tôn giáo là sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 có hiệu lực từ 01/01/2018 và hiện nay là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/04/2026 và chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2027. Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp về tôn giáo tại Việt Nam, một điều khoản riêng, Điều 55 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã quy định cụ thể về việc các tổ chức tôn giáo được phép tham gia hoạt động bảo trợ xã hội, giáo dục, y tế, cứu trợ thiên tai và từ thiện. Việc quy định tổ chức tôn giáo trực thuộc có tư cách pháp nhân phi thương mại cũng tạo tiền đề pháp lý để các tổ chức này đứng tên giao dịch, sở hữu tài sản và đại diện pháp lý trong các hoạt động xã hội.
Song song đó, việc ban hành Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội hay các văn bản hướng dẫn thành lập cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập đã mở đường cho hàng trăm mái ấm, nhà dưỡng lão, trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi do các chức sắc, tu sĩ, giáo hội thành lập đi vào hoạt động hợp pháp.
3.2. Những đóng góp thực tiễn nổi bật
Trải qua thực tiễn, nguồn lực tôn giáo đã và đang chia sẻ gánh nặng đáng kể với ngân sách nhà nước trong nhiều lĩnh vực.
Thứ nhất, về lĩnh vực bảo trợ xã hội, cả nước hiện có hàng trăm cơ sở bảo trợ xã hội do các tổ 12 chức, cá nhân tôn giáo thành lập và vận hành như trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi, người khuyết tật, trung tâm dưỡng lão…, tiêu biểu như các nhà nuôi trẻ mồ côi của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các mái ấm của Ủy ban Bác ái Xã hội (Caritas) thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.
Thứ hai, về lĩnh vực y tế, các phòng chẩn trị y học cổ truyền, phòng khám từ thiện tại các chùa, tòa giám mục, thánh thất đã khám và phát thuốc miễn phí cho hàng triệu lượt bệnh nhân nghèo mỗi năm.
Thứ ba, về lĩnh vực giáo dục, hệ thống trường mầm non, nhóm trẻ gia đình do các nữ tu, ni sư quản lý được đánh giá cao về chất lượng chăm sóc, an toàn và tinh thần trách nhiệm.
Thứ tư, về cứu trợ khẩn cấp và ứng phó dịch bệnh, trong đại dịch COVID-19 cũng như các đợt thiên tai, lũ lụt tại miền Trung, hàng nghìn tăng ni, linh mục, tín đồ đã trực tiếp đi vào vùng dịch, vùng lũ để cứu trợ, thậm chí tình nguyện tham gia tuyến đầu chống dịch tại các bệnh viện dã chiến.
3.3. Những điểm nghẽn và bất cập pháp lý cốt lõi
Thứ nhất, sự thiếu liên thông giữa luật khung và luật chuyên ngành. Điều 55 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 dẫn chiếu sang luật chuyên ngành nhưng còn nhiều vướng mắc. Về giáo dục, Luật Giáo dục 2019 được cập nhật các nội dung mới qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025 (số 123/2025/QH15) chưa quy định rõ cơ chế cho pháp nhân tôn giáo thành lập cơ sở giáo dục phổ thông, đại học phi lợi nhuận. Các tổ chức tôn giáo đa số phải thành lập mầm non dưới tư cách cá nhân hoặc thông qua công ty thương mại. Về y tế, Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 thiếu quy định riêng cho cơ sở y tế từ thiện tôn giáo. Việc áp chung tiêu chuẩn cơ sở vật chất, bằng cấp như bệnh viện tư nhân gây khó khăn cho việc cấp phép.
Thứ hai, rào cản tư cách pháp nhân và đất đai. Nhiều địa phương lúng túng khi xác định tư cách chủ thể của tổ chức tôn giáo trong giao dịch dân sự, đất đai, thường yêu cầu cá nhân (trụ trì, linh mục) đứng tên, gây rủi ro tranh chấp. Mặt khác, Luật Đất đai 2024 chỉ giao đất không thu tiền cho cơ sở thờ tự thuần túy; đất làm trường học, bệnh viện, nhà dưỡng lão của tôn giáo vẫn bị xếp vào đấtsự nghiệp/kế hoạch kinh doanh, quy trình chuyển đổi rất phức tạp.
Thứ ba, thách thức về thuế và quản lý hành chính. Thiếu chính sách ưu đãi thuế vượt trội cho doanh nghiệp tài trợ dự án an sinh xã hội tôn giáo. Hoạt động tôn giáo chịu sự quản lý giao thoa của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Nội vụ, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo và chính quyền địa phương nhưng thiếu cơ chế một cửa. Ngoài ra, một số cán bộ vẫn còn tâm lý e ngại, thiên về kiểm soát hơn là kiến tạo.
4. Giải pháp khơi thông nguồn lực tôn giáo trong công tác an sinh xã hội
Trước những điểm nghẽn về thể chế và cơ chế quản lý hiện hành, việc khơi thông nguồn lực tôn giáo cho công tác an sinh xã hội đòi hỏi một chiến lược tổng thể, đồng bộ và có tính đột phá. Nguồn lực tôn giáo chỉ có thể phát huy tối đa tiềm năng khi được đặt trong một môi trường pháp lý thông thoáng, một tư duy quản trị kiến tạo và một cơ chế hợp tác bình đẳng. Nhằm chuyển hóa nguồn vốn đặc thù này thành dòng chảy đóng góp hiệu quả cho sự phát triển bền vững của đất nước, cần tập trung triển khai các nhóm giải pháp đột phá sau:
Thứ nhất, đổi mới tư duy lý luận và xác lập cơ chế phối hợp giữa Nhà nước và các tổ chức tôn giáo trong cung ứng dịch vụ an sinh xã hội. Chuyển triệt để từ tư duy kiểm soát sang kiến tạo, hợp tác. Nhà nước giữ vai trò quy hoạch, ban hành chuẩn mực và giám sát; tổ chức tôn giáo trực thuộc trực tiếp vận hành dịch vụ an sinh xã hội phi lợi nhuận.
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật chuyên ngành. Về giáo dục - y tế, quy định rõ quyền thành lập cơ sở giáo dục, y tế phi lợi nhuận của pháp nhân tôn giáo; ban hành quy chế cấp phép đặc thù phù hợp với tính chất từ thiện. Về đất đai - tài chính, cụ thể hóa Luật Đất đai 2024 theo hướng giao đất không thu tiền hoặc cho thuê đất ưu đãi cho công trình an sinh xã hội tôn giáo.
Thứ ba, hiện đại hóa quản lý hành chính và nâng cao năng lực. Thiết lập cơ chế liên thông một cửa cấp tỉnh để xử lý thủ tục cho các cơ sở từ thiện tôn giáo. Nhà nước chủ động hỗ trợ đào tạo nghiệp vụ công tác xã hội, quản trị tài chính, y tế cho đội ngũ chức sắc, tu sỹ.
Thứ tư, thúc đẩy minh bạch và vai trò giám sát. Khuyến khích tôn giáo thành lập các quỹ/pháp nhân an sinh xã hội độc lập, công khai tài chính và kiểm toán định kỳ. Mặt trận Tổ quốc làm cầu nối đối thoại, kịp thời tháo gỡ vướng mắc và tôn vinh các mô hình tiêu biểu.
5. Kết luận
Nguồn lực tôn giáo là nguồn vốn xã hội quý báu. Việc khơi thông nguồn lực này không chỉ giảm áp lực ngân sách mà còn củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bằng việc chuyển đổi tư duy quản lý, đồng bộ hóa hệ thống pháp luật từ đất đai, thuế đến y tế, giáo dục, Nhà nước sẽ tạo hành lang thông thoáng để nguồn lực tôn giáo hòa cùng dòng chảy phát triển bền vững của đất nước .
*Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh, tỉnh Hưng Yên
**Phó Giám đốc Trung tâm Chính trị xã Quỳnh Phụ, tỉnh Hưng Yên
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I & II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2016), Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (Luật số 02/2016/ QH14), Hà Nội.
3. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), Luật Giáo dục (Luật số 43/2019/QH14), Hà Nội.
4. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2023), Luật Khám bệnh, chữa bệnh (Luật số 15/2023/ QH15), Hà Nội.
5. Đỗ Quang Hưng (2014), Tôn giáo và xã hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
6. Nguyễn Hồng Dương, Hoạt động từ thiện xã hội của các tôn giáo ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 04/2018.
7. Hoàng Minh Tường, Thể chế hóa chính sách của Đảng về phát huy nguồn lực tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Lý luận Chính trị số 08/2021